1
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học s phạm hà Nội 2
Phạm thị huyền
rèn luyện năng lực đọc hiểu văn bản
nghệ thuật cho học sinh lớp 5
Luận văn thạc sĩ Giáo dục học
Ngời hớng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Huy Quang
Hà Nội, 2009
3
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, tìm hiểu nghiên cứu đề tài, với sự nỗ lực của bản
thân và sự giúp đỡ của nhiều người, tôi đã hoàn thành luận văn với đề tài:
“Rèn luyện năng lực đọc hiểu văn bản nghệ thuật cho học sinh lớp 5 ”.
Cầm cuốn luận văn trên tay, đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Giáo
sư, Tiến sỹ Đỗ Huy Quang, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn
thành luận văn của mình.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy chúng tôi, các thầy cô
của phòng Sau đại học, cùng giáo viên và học sinh các trường Tiểu học trên
địa bàn thị xã Tuyên Quang đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài nghiên
cứu của mình.
Cuối cùng tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ tôi, chồng tôi, toàn
thể gia đình cùng các anh chị và bạn bè đã động viên, tạo mọi điều kiện cho
tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Bằng tất cả tấm lòng của mình tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội ngày 09 tháng 09 năm 2009
Người viết
5
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU
6
NỘ
I DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGHỆ THUẬT Ở TIỂU HỌ
C
1111
1.1. Văn bản nghệ thuật 11
86
88
Chương 3: THỰC NGHIỆM
89
3.1. Mục đích thực nghiệm 89
6
3.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 89
3.3. Cách thức thực nghiệm 89
3.4. Nội dung thực nghiệm 90
3.5. Kết quả thực nghiệm 111
3.6. Nhận xét kết quả thực nghiệm
3.7. Tiểu kết
111
114
KẾT LUẬN
115
TÀI LIỆU THAM KHẢO
117
Nhưng nếu đọc hiểu văn bản chỉ được bàn luận từ phương diện tầm quan
trọng, ý nghĩa và cắt nghĩa thế nào là đọc, thế nào là hiểu, thì chưa đủ. Phải
xác định đúng đọc hiểu văn bản là chuyển một công việc vô cùng khó khăn lẽ
ra chỉ những nhà nghiên cứu, phê bình văn học, những thầy cô giáo mới có
thể biết làm, trở thành công việc mỗi HS đều có thể làm được và làm tốt. Hay
nói cách khác, đọc hiểu văn bản phải được nhìn và xử lí từ hoạt động học tập
của HS để mỗi HS biết cách tự đọc, tự hiểu văn bản.
Vấn đề đọc hiểu từ trước đến nay đã được nhiều tác giả nghiên cứu và
nghiên cứu ở những chiều hướng khác nhau. Qua tìm hiểu các tài liệu tôi thấy
xung quanh vấn đề đọc hiểu có các hướng nghiên cứu sau:
* Hướng thứ nhất: Tập trung nghiên cứu hệ thống dạng bài tập đọc
hiểu
Ở hướng này, các tác giả Lê Phương Nga và Đặng Kim Nga đã phân
tích các dạng bài tập trong SGK TV Tiểu học. Các tác giả đã nêu: “Đọc không
chỉ là công việc giải một bộ mã gồm hai phần chữ viết và phát âm, nghĩa là
nó không phải chỉ là sự “đánh vần” lên thành tiếng theo đúng các kí hiệu chữ
viết mà quan trọng hơn đọc còn là quá trình nhận thức để có khả năng thông
hiểu những gì được đọc một cách đầy đủ.” [18, tr.146]. Chỉ khi hiểu sâu sắc
thấu đáo các văn bản đã đọc, HS mới có công cụ để lĩnh hội tri thức khi học
các môn khác. Nhờ có đọc hiểu mà HS có khả năng tự học, bồi dưỡng kiến
thức về cuộc sống từ đó hình thành thói quen có hứng thú đọc sách và tự học
thường xuyên.
9
Theo các tác giả đọc hiểu là một quá trình có tính khả phân. Quá trình
đọc hiểu gồm các hành động đọc hiểu và tương ứng là các kỹ năng đọc hiểu.
Kỹ năng đọc hiểu được hình thành qua việc thực hiện một hệ thống bài tập.
Những bài tập này xác định đích của việc đọc, đồng thời cũng là những
phương tiện để đạt được sự thông hiểu văn bản của HS.
Tác giả đã phân loại các bài tập (bao gồm các câu hỏi) thành ba dạng
bài tập sau:
phương pháp đọc hiểu văn bản, để HS biết cách tự đọc, tự lĩnh hội các văn
bản trong cuộc sống.
Lớp 5 là lớp học bản lề, là lớp học tổng kết quá trình học tập rèn luyện
của HS trong 5 năm Tiểu học và chuẩn bị cho các em đầy đủ điều kiện về
kiến thức - kỹ năng để bước vào cấp học cao hơn là Trung học cơ sở và Trung
học phổ thông. Chính vì lẽ đó việc cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng nói
chung và rèn luyện năng lực đọc hiểu văn bản nghệ thuật cho HS lớp 5 nói
riêng là yêu cầu hết sức quan trọng trong mục tiêu của đợt thay sách lần này.
Tuy nhiên, trên thực tế không chỉ phân môn Tập đọc mà các phân môn
khác trong trường Tiểu học, GV chưa thực sự quan tâm, chưa thấy hết tầm
quan trọng của đọc hiểu, chưa đầu tư nghiên cứu sâu vào lĩnh vực này để rèn
kỹ năng đọc hiểu cho các em. SGK và SGV môn TV ở Tiểu học, nhất là SGK
và SGV môn TV5 đã đưa ra nhiều định hướng gợi mở cho GV trong việc
hướng dẫn HS đọc hiểu. Nhưng khi giảng dạy cả GV và HS đều lúng túng và
gặp nhiều khó khăn, nhất là đọc hiểu văn bản nghệ thuật. Vậy làm thế nào để
11
có thể giúp HS đọc hiểu văn bản nhất là văn bản nghệ thuật ở lớp 5, đó là vấn
đề không hề đơn giản.
Đối với bản thân tôi, trong quá trình học tập tôi đã suy nghĩ rất nhiều về
đề tài này, nhưng thời gian nghiên cứu chưa được là bao. Và khi giảng dạy ở
phần này tôi cũng gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Vì vậy mà tôi mong muốn
được tìm hiểu để trước hết là phục vụ cho việc giảng dạy của mình, sau nữa là
góp một phần công sức nho nhỏ để nghiên cứu cách dạy đọc hiểu văn bản
nghệ thuật cho HS lớp 5 nói riêng và cho việc đọc hiểu ở Tiểu học nói chung.
Chính vì vậy tôi chọn đề tài
“Rèn luyện năng lực đọc hiểu văn bản
nghệ thuật cho học sinh lớp 5”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nhằm góp phần hiện thực hoá định hướng chỉ đạo của Bộ Giáo dục và
nâng cao. 13
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGHỆ THUẬT Ở TIỂU HỌC
1.1. Văn bản nghệ thuật
1.1.1. Đặc điểm văn bản nghệ thuật
Theo SGK Ngữ văn 10, tập 1, văn bản nghệ thuật chính là được định
nghĩa như sau: “Văn bản văn học (còn gọi là văn bản nghệ thuật hay văn bản
văn chương) là sản phẩm của tiến trình lịch sử” [26, tr. 45]. Có thể hiểu văn
bản nghệ thuật theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, văn bản nghệ thuật là: “tất cả các văn bản sử dụng
ngôn từ một cách nghệ thuật” [26, tr. 45]. Theo nghĩa này thì không chỉ có
văn bản thơ, truyện kịch, mà cả các văn bản hịch, cáo, chiếu, biểu, … đều có
thể coi là văn bản nghệ thuật.
Theo nghĩa hẹp, văn bản nghệ thuật chỉ: “bao gồm các sáng tác có
hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng hư cấu (tức là tạo ra những hình
tượng bằng tưởng tượng) như sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện
ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ, phú,…” [26, tr. 45]. Vì văn bản nghệ thuật theo
nghĩa hẹp vừa có ngôn từ nghệ thuật vừa có hình tượng nghệ thuật nên trong
một mức độ nhất định, nó cũng giúp hiểu ngôn từ của văn bản nghệ thuật theo
nghĩa rộng. Muốn đọc hiểu văn bản nghệ thuật không thể không tìm hiểu các
đặc điểm của nó. Văn bản nghệ thuật có các đặc điểm chính sau:
1.1.1.1. Đặc điểm về ngôn từ
* Ngôn từ văn học có tính nghệ thuật và thẩm mỹ
Các yếu tố âm thanh, từ ngữ, kiểu câu,… trong văn bản nghệ thuật đều
được lựa chọn, trau chuốt, sắp xếp theo trật tự đặc biệt, nhiều khi khác thường
14
vẻ đẹp của cuộc kháng chiến hoặc biểu tượng của lí tưởng và niềm tin, sự gắn
bó của những người đồng chí.
1.1.1.2. Đặc điểm về hình tượng
* Hình tượng văn học là thế giới đời sống do ngôn từ gợi lên trong tâm
trí người đọc
Từng câu, từng chữ của văn bản với các chi tiết về hành vi, lời nói,
chân dung của con người, màu sắc của ngoại cảnh cùng với cách bố cục, kết
cấu của tác giả,…dần dần gợi ra thế giới của những con người có cuộc sống
riêng. Đó chính là hình tượng nghệ thuật. Gọi ra thế giới đó là hình tượng vì
tuy cũng sống động, hấp dẫn giống như cuộc sống thật, nhưng nó chỉ tồn tại
đối với trí tưởng tượng và trong tưởng tượng.
* Hình tượng văn học là một phương tiện giao tiếp đặc biệt
Hình tượng văn học không chỉ là thế giới đời sống, mà còn là một thế
giới “biết nói”. Thông qua các chi tiết, nhân vật, cảnh vật và quan hệ giữa các
nhân vật, nhà văn truyền cho người đọc cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ về
cuộc đời, gợi lên một cách hiểu, một quan niệm về cuộc sống. Ví dụ, bài thơ
Viếng lăng Bác của Viễn Phương tái hiện tấm lòng người con miền Nam ra
thăm lăng Bác, qua các biểu tượng và liên tưởng đối sánh như: hàng tre –
hàng tre Việt Nam; mặt trời thiên nhiên – mặt trời trong lăng;… Tác giả đã
16
gửi đến người đọc một thông điệp về tình yêu sâu nặng đối với Chủ tịch Hồ
Chí Minh và lời nguyện ước muốn sống xứng đáng với Người.
Nói hình tượng văn học là một phương tiện giao tiếp vì nó vừa biểu
hiện một hiện tượng đời sống, vừa hàm chứa các ý nghĩa khái quát do tác giả
gửi gắm mà người đọc cần phải “đọc” ra. Vì vậy đọc hiểu văn bản nghệ thuật
chính là thực hiện quá trình giao tiếp giữa người đọc và tác giả.
1.1.1.3. Đặc điểm về ý nghĩa
* Văn bản nghệ thuật do miêu tả con người, thiên nhiên, sự vật,… mà
gợi nhớ đến các hiện tượng của đời sống, khiến người đọc suy nghĩ cảm xúc
về chúng
thể hiện được cá tính – những nét riêng có tính cá nhân – của họ. Song chỉ có
các tài năng lớn mới tạo ra những nét nghệ thuật độc đáo, có ý nghĩa lớn, thể
hiện trong hình tượng, chi tiết, cách nhìn, giọng điệu.
* Đặc điểm về cá tính sáng tạo của tác giả làm cho các văn bản nghệ
thuật phong phú, mới mẻ, không lặp lại
Văn học không chấp nhận sự rập khuôn, sáo mòn, thiếu cá tính sáng tạo.
Mỗi văn bản nghệ thuật có cá tính sáng tạo là một tiếng nói riêng mới lạ, thỏa
mãn nhu cầu thưởng thức đa dạng của người đọc. 18
1.1.2. Cấu trúc của văn bản nghệ thuật
Cấu trúc của văn bản nghệ thuật mang nhiều tầng nghĩa, ta cần tìm hiểu
để có thể tiếp nhận được cái hay, cái đẹp của nó. Một văn bản nghệ thuật
thường có các tầng nghĩa sau:
1.1.2.1. Tầng ngôn từ - từ ngữ âm đến ngữ nghĩa
Đọc văn bản cần phải hiểu rõ ngữ nghĩa của từ, từ nghĩa tường minh
đến hàm nghĩa, từ nghĩa đen đến nghĩa bóng (ví dụ: con chó sói, lòng lang dạ
sói, mùa xuân, tuổi xuân,…). Cùng với ngữ nghĩa phải chú ý tới ngữ âm, ví
dụ các từ láy liên tiếp: loắt choắt, xinh xinh, thoăn thoắt, nghênh nghênh miêu
tả chú bé Lượm trong bài thơ Lượm của Tố Hữu, gợi lên cái gì đó nhanh nhẹn,
tươi trẻ. Tầng ngôn từ là chìa khóa đầu tiên đi vào khám phá chiều sâu của
văn bản.
1.1.2.2. Tầng hình tượng
Hình tượng được sáng tạo trong văn bản nhờ những chi tiết, cốt truyện,
nhân vật, hoàn cảnh,…(tùy theo quy mô văn bản và tùy thể loại ) mà có sự
khác nhau. Ví dụ như bốn câu ca dao về hoa sen: “Trong đầm gì đẹp bằng
sen… Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
Tác giả dùng hình tượng, màu sắc, hương vị để nói lên ý của mình. Câu
2 và câu 3 tưởng như trùng lặp, nhưng đó là sự quan sát từ ngoài vào trong (lá
20
“thể (thể tài) là sự hiện thực hóa của loại” [16, tr. 133], là hình thức tổ
chức ngôn ngữ của tác phẩm. “thể” không có tính bền vững mà luôn biến đổi,
bên cạnh những thể truyền thống còn có những thể mới. Xét về mặt số lượng
thì “thể” nhiều hơn “loại”, nhưng về phương diện nội dung thì khái niệm thể
tài lại nằm trong loại hình, tức là một loại bao gồm nhiều thể tài khác nhau.
Như vậy thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hướng
phát triển bền vững, vĩnh hằng của văn học, và các thể loại tồn tại để giữ gìn
đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy. Do đó thể loại văn học luôn vừa
cũ vừa mới, vừa biến đổi, vừa ổn định.
* Phân loại
Vấn đề phân chia loại thể trong lịch sử tồn tại rất nhiều cách phân chia
khác nhau. Dựa vào tiêu chí phương thức phản ánh và biểu hiện chủ đạo của
hình tượng tác phẩm ta có 3 loại sau: Tự sự, trữ tình và kịch. Cách phân chia
này đã được đưa ra từ rất sớm trong lí luận nghệ thuật của thời kỳ cổ đại mà
người đầu tiên đặt vấn đề là Arixtôt (384 – 322 TCN), mà đến nay vẫn còn
nguyên ý nghĩa khoa học đúng đắn.
* Mối quan hệ và tác động qua lại giữa các thể loại
Cách phân chia thể loại văn học như trên chỉ là trên lý luận và mang
tính chất tương đối. Trên thực tế cụ thể sinh động của các tác phẩm, các loại
tự sự trữ tình và kịch thường thâm nhập vào nhau, kết hợp với nhau đảm bảo
những khả năng vô tận trong việc mô tả hiện thực cuộc sống, bộc lộ nội tâm
con người, là cơ sở để nảy sinh nhiều thể tài văn học khác nhau. Thông
thường trong một tác phẩm tự sự có bao hàm những yếu tố trữ tình và ngược
lại trong tác phẩm trữ tình vẫn có yếu tố tự sự, còn trong kịch thì thường kết
hợp cả hai.
21
1.1.3.2. Phương thức biểu đạt trong văn bản nghệ thuật
Mỗi kiểu văn bản bao giờ cũng có một phương thức biểu đạt chính.
Chẳng hạn kiểu văn bản lập luận thì phương biểu đạt chủ yếu là dùng lí lẽ và
độc thoại của nhân vật; có lời kể về thời gian, về cuộc đời, Tất cả giúp người
đọc hình dung bức tranh sinh động trong bài thơ. Đặc biệt là chương trình lớp
4, lớp 5 các em được học rất nhiều bài thơ hay và đặc sắc. Có những bài thơ
nhân vật trữ tình bộc lộ trực tiếp tâm tư tình cảm (Cửa sông, Tiếng vọng, ),
có bài lại bộc lộ gián tiếp qua đối thoại của các nhân vật trữ tình (Những cánh
buồm, Nếu trái đất thiếu trẻ con,…).
Vì vậy để có thể hướng dẫn HS đọc hiểu các văn bản thơ, trước hết
người GV hướng dẫn HS đọc hiểu theo đặc điểm của phương thức trữ tình,
kết hợp với đọc hiểu các phương thức biểu đạt khác trong văn bản. Từ đó HS
sẽ hiểu thấu đáo bài thơ và tạo điều kiện thuận lợi cho các em bước vào cấp
học cao hơn.
* Truyện
Nếu thơ tiêu biểu cho loại trữ tình thì truyện tiêu biểu cho loại tự sự.
Chính vì vậy mà phương thức biểu đạt chủ yếu của truyện là theo phương
thức tự sự, tức là trình bày một chuỗi việc liên quan đến nhau, sự việc này dẫn
tới sự việc kia, cuối cùng có một kết thúc nhằm giải thích sự việc, tìm hiểu
con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen chê.
Ở đây cốt truyện với một chuỗi các tình tiết, sự kiện, biến cố xảy ra liên
tiếp tạo nên sự vận động của hiện thực được phản ánh, góp phần khắc họa rõ
nét tính cách, số phận của từng nhân vật. Nhân vật được miêu tả chi tiết và
23
sinh động trong mối quan hệ chặt chẽ với hoàn cảnh, tác giả còn miêu tả
không gian, thời gian, cảnh vật xung quanh. Truyện sử dụng nhiều hình thức
ngôn ngữ khác nhau. Ngoài ngôn ngữ người kể chuyện, còn có ngôn ngữ
nhân vật. Bên cạnh lời đối đáp lại có lời độc thoại nội tâm. Nhiều khi nhà văn
cũng bộc lộ trực tiếp hoặc gián tiếp tình cảm, thái độ của mình với các nhân
vật hay sự việc trong tác phẩm.
Như vậy GV cần hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản truyện dựa trên
những đặc điểm của phương thức biểu đạt tự sự: Tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác;
phân tích diễn biến cốt truyện; chú ý nghệ thuật tự sự; phân tích các nhân
Trước đây chúng ta thường đồng nhất văn bản với tác phẩm và gọi
chung là tác phẩm, khái niệm văn bản chỉ dùng khi nói đến vấn đề có tính
chất văn bản học. Khoa học ngày nay đã phân biệt văn bản và tác phẩm. Nhà
lí luận văn học Nga M. Bakhtin cho rằng: “Tinh thần không thể tự hiện diện
như là một đồ vật, mà chỉ hiện diện trong biểu hiện của kí hiệu, thực hiện
trong các văn bản” [2, tr. 136]. Văn bản đóng vai trò trung gian giữa tác giả
và người đọc và gắn liền với vô cùng. Nhà lí luận Iu. Bôrep tổng kết sự phân
biệt văn bản và tác phẩm như sau [2, 136]: Văn bản là sáng tạo của một nhà
văn, ngoài hoạt động chức năng xã hội thẩm mỹ của nó. Văn bản chỉ là một
cấu trúc để phân tích, lý giải. Còn tác phẩm là văn bản được xem xét, cảm
nhận trong các mối quan hệ với thực tại, với tác giả, với văn hóa. Các khái
niệm tiềm văn bản, siêu văn bản, có vai trò quan trọng về phương pháp luận
trong việc đọc hiểu. Như vậy, đối tượng đọc của HS chỉ là văn bản. GV giúp
25
HS giải mã, gắn văn bản với ngữ cảnh, với sức tưởng tượng của HS để các em
tự biến văn bản thành tác phẩm trong tâm hồn mình.
Kết thúc quá trình sáng tạo của mình, tác giả tạo ra một văn bản ngôn
từ. Khi văn bản ấy đến với người đọc, người đọc phải huy động các kiến thức,
vốn sống, vốn hiểu biết, của mình để hiểu nội dung văn bản, làm hiện lên
đời sống tinh thần, tư tưởng của nhà văn trong văn bản khi đó mới gọi là tác
phẩm. Quá trình tiếp nhận văn học tức là đi ngược lại quá trình của sáng tạo
của tác giả, ở đó người đọc phải đọc từ những yếu tố nhỏ nhất trong văn bản,
chuyển nội dung văn bản thành thành thế giới tinh thần của mỗi người, thành
tác phẩm của riêng họ. Người đọc phải đi từ việc hiểu ngôn ngữ, chi tiết, cốt
truyện, để cảm nhận hình tượng, tiếp đến là thâm nhập hệ thống hình tượng
để hiểu tình cảm, ý đồ của tác giả. Sau đó đưa hình tượng vào trong văn cảnh,
đời sống để thể nghiệm, đồng cảm. Cuối cùng là nâng cấp, lý giải tác phẩm
trong lịch sử, trong văn hóa tư tưởng, truyền thống nghệ thuật. Đó gọi là quá
trình tiếp nhận văn học. Nó thực sự là một quá trình lâu dài và có nhiều cấp
độ, thực chất nó là một hoạt động tái tạo và sáng tạo mới hình tượng nghệ