Rèn luyện năng lực độc lập sáng tạo cho HS THPT thuộc tỉnh Sơn La - Pdf 13

1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bƣớc sang thế kỉ XXI, xã hội loài ngƣời đã có những tiến bộ vƣợt bậc. Chúng ta hiện
đang sống trong xã hội tri thức- đây là một hình thái xã hội mà trong đó tri thức trở thành yếu
tố quyết định đối với nền kinh tế của một quốc gia.
Con ngƣời là yếu tố trung tâm trong xã hội tri thức, là chủ thể kiến tạo xã hội. Đối với
con ngƣời cá thể, tri thức là một cơ sở để xác định vị trí xã hội và khả năng hành động. Giáo
dục đóng vai trò then chốt trong trong việc đào tạo con ngƣời và sự phát triển xã hội.
Nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục trong việc khẳng định vị thế của Việt Nam trên
trƣờng quốc tế, ngay trong Hiến pháp nƣớc CHXHCN Việt Nam đã khẳng định: “ Giáo dục
là quốc sách hàng đầu”[13]. Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục cần thực hiện tốt ba mục tiêu
cơ bản sau:
1. Mục tiêu trí dục: cung cấp nền học vấn cơ bản, giúp học sinh hƣớng nghiệp một cách
hiệu quả.
2. Mục tiêu phát triển : giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, hình thành nhân cách
toàn diện .
3. Mục tiêu giáo dục : giáo dục thế giới quan duy vật khoa học, thái độ , xúc cảm, hành
vi văn minh.
Điều 28 Luật giáo dục nƣớc ta nhấn mạnh: " PP giáo dục phổ thông phải phát huy tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học,
bồi dƣỡng PP tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ; tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui hứng thú HT cho HS". DH hƣớng tới việc phát huy tích cực, vai trò
chủ động, tính sáng tạo của HS là xu thế chung của đổi mới giáo dục THPT hiện nay. Ở nƣớc
ta, cùng với chuyển biến bƣớc đầu về chất lƣợng giáo dục, đổi mới PP DH đang từng bƣớc
đƣợc ghi nhận, thế nhƣng về thực trạng giáo dục cho thấy chất lƣợng nắm vững kiến thức của
HS không cao, đặc biệt việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, năng lực nhận
thức, năng lực giải quyết vấn đề và khả năng tự học không đƣợc chú ý rèn luyện đúng mức.
Một bộ phận không nhỏ HS thụ động trong HT do không làm đƣợc việc hoặc không chịu làm
việc trong các giờ học.Trong hầu hết các giờ lên lớp vì giới hạn thời gian tiết học, GV chỉ
cùng làm việc với một số HS khá, giỏi để hoàn thành bài dạy, số còn lại trong lớp nghe và im

sáng tạo, kiểm tra đánh giá và biện pháp rèn luyện các năng lực đó cho HS trƣờng THPT.
3
Điều tra thực tiễn dạy và học HH của GV và HS THPT trong việc bồi dƣỡng rèn
luyện năng lực độc lập sáng tạo trong dạy và học HH.
Đề xuất một số biện pháp rèn luyện cho HS nâng cao năng lực độc lập sáng tạo trong
dạy và học HH ở trƣờng THPT.
Kiểm tra giá trị và tính khả thi của biện pháp đƣợc đề xuất.
V. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu có những biện pháp phù hợp và trình độ cần thiết của GV thì có thể bồi dƣỡng
năng lực độc lập sáng tạo cho HS thông qua việc dạy và học HH ở trƣờng THPT.
VI. ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN VĂN
Đề xuất một số cơ sở lý luận về những biểu hiện và cách đánh giá năng lực độc lập
sáng tạo của HS THPT.
Đề xuất một số biện pháp bồi dƣỡng rèn luyện năng lực độc lập sáng tạo cho HS
thông qua việc dạy và học HH ở trƣờng THPT.
Lựa chọn và xây dựng đƣợc một hệ thống các BT ở tất cả các chƣơng của HH lớp 11
nhằm bồi dƣỡng năng lực độc lập sáng tạo của HS.
VII. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài nhƣ tính sáng tạo và rèn luyện
năng lực sáng tạo, chƣơng trình SGK HH trƣờng THPT, Luật giáo dục, các chủ trƣơng của
Đảng và Nhà nƣớc về đổi mới giáo dục ở trƣờng phổ thông, về đổi mới PP dạy và học...
2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng PP điều tra để điều tra về thực tiễn dạy và học HH của GV và HS THPT ở
tỉnh Sơn La.
Sử dụng PP thực nghiệm sƣ phạm để tiến hành lên lớp theo hai loại giáo án để so
sánh.
3. Phƣơng pháp toán học
Sử dụng PP thống kê toán học để xử lý kết quả thực nghiệm.
4

5
Cấu trúc năng lực hành động:
Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn cũng nhƣ
đánh giá kết quả một cách độc lập, có PP và đảm bảo chính xác về mặt chuyên môn (bao gồm
cả khả năng tƣ duy logic, phân tích, tổng hợp và trừu tƣợng; khả năng nhận biết các mối quan
hệ thống nhất trong quá trình).
Năng lực PP: Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hƣớng mục
đích trong công việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề đặt ra.
Trung tâm của năng lực PP là những PP nhận thức, xử lý, đánh giá, truyền thụ và giới
thiệu.
Năng lực xã hội: Là khả năng đạt đƣợc mục đích trong những tình huống xã hội cũng
nhƣ trong những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác.
Trọng tâm của năng lực xã hội là ý thức đƣợc trách nhiệm của bản thân cũng nhƣ của
những ngƣời khác, tự chịu trách nhiệm, tự tổ chức; có khả năng thực hiện các hành động xã
hội, khả năng cộng tác và giải quyết xung đột.
Năng lực cá thể: Là khả năng suy nghĩ và đánh giá đƣợc những cơ hội phát triển cũng
nhƣ những giới hạn của mình; phát triển đƣợc năng khiếu cá nhân cũng nhƣ xây dựng và thực
hiện kế hoạch cho cuộc sống riêng; những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi
phối các hành vi ứng xử. Các thành phần năng lực “gặp nhau” tạo thành năng lực hành động.
NLCN
NLCM
NLXH
NLPP
NLHD

Từ các cơ sở trên chúng ta có thể có những quan niệm về năng lực sáng tạo của học
sinh nhƣ sau[22]:
1. Năng lực tự chuyển tải tri thức và kỹ năng từ lĩnh vực quen biết sang tình huống mới,
vận dụng kiến thức đã học trong điều kiện, hoàn cảnh mới.
7
2. Năng lực nhận thấy vấn đề mới trong điều kiện quen biết (tự đặt câu hỏi mới cho mình
và cho mọi ngƣời về bản chất của các điều kiện, tình huống, sự vật). Năng lực nhìn
thấy chức năng mới của đối tƣợng quen biết.
3. Năng lực nhìn thấy cấu trúc của đối tƣợng đang nghiên cứu. Thực chất là bao quát
nhanh chóng, đôi khi ngay tức khắc, các bộ phận, các yếu tố của đối tƣợng trong mối
tƣơng quan giữa chúng với nhau.
4. Năng lực biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lý một tình huống. Khả năng
huy động các kiến thức cần thiết để đƣa ra giả thuyết hay các dự đoán khác nhau khi
phải lí giải một hiện tƣợng.
5. Năng lực xác nhận bằng lí thuyết và thực hành các giả thuyết (hoặc phủ nhận nó) .
Năng lực biết đề xuất các phƣơng án thí nghiệm hoặc thiết kế sơ đồ thí nghiệm để
kiểm tra giả thuyết hay hệ quả suy ra từ giả thuyết hoặc để đo một đại lƣợng nào đó với
hiệu quả cao nhất có thể đƣợc trong những điều kiện đã cho.
6. Năng lực nhìn nhận một vấn đề dƣới những góc độ khác nhau, xem xét đối tƣợng ở
những khía cạnh khác nhau, đôi khi mâu thuẫn nhau. Năng lực tìm ra các giải pháp lạ,
chẳng hạn đối với bài toán hóa học, có nhiều cách nhìn đối với việc tìm kiếm lời giải,
năng lực kết hợp nhiều phƣơng pháp giải bài tập để tìm ra một phƣơng pháp mới, độc
đáo.
Nhƣ vậy năng lực sáng tạo chính là khả năng thực hiện đƣợc những điều sáng
tạo. Đó là biết làm thành thạo và luôn đổi mới, có những nét độc đáo riêng luôn phù
hợp với thực tế. Luôn biết và đề ra những cái mới khi chƣa đƣợc học, nghe giảng hay
đọc tài liệu hay tham quan về việc đó nhƣng vẫn đạt kết quả cao.
Đối với học sinh phổ thông tất cả những gì mà họ „tự nghĩ ra‟ khi giáo viên chƣa dạy,
học sinh chƣa đọc sách, chƣa biết đƣợc nhờ trao đổi với bạn đều coi nhƣ có mang tính sáng
tạo. Sáng tạo là bƣớc nhảy vọt trong sự phát triển năng lực nhận thức của học sinh. Không có

5. Biết kết hợp các thao tác tƣ duy và các phƣơng pháp phán đoán, đƣa ra kết luận chính
xác ngắn gọn nhất.
Ví dụ: Khi học xong một bài học hay một chƣơng học sinh biết tự phân tích, so sánh
với các bài học trƣớc để khái quát hóa và đƣa ra mối liên hệ giữa các bài, các chƣơng đã đƣợc
học.
9
6. Biết trình bày linh hoạt một vấn đề, dự kiến nhiều phƣơng án giải quyết.
Ví dụ : Đối với một bài toán có thể đƣa ra rất nhiều cách giải khác nhau hoặc với một
câu hỏi mở có thể đƣa ra nhiều phƣơng án trả lời.
7. Luôn biết đánh giá và tự đánh giá công việc, bản thân và đề xuất biện pháp hoàn thiện.
Ví dụ: Học sinh tự nhận thấy đƣợc những điểm yếu kém, lỗ hổng kiến thức của mình
và tìm ra đƣợc phƣơng pháp học tập thích hợp để khắc phục chúng.
8. Biết cách học thầy, học bạn, biết kết hợp các phƣơng tiện thông tin, khoa học kĩ thuật
hiện đại trong khi tự học. Biết vận dụng và cải tiến những điều học đƣợc.
Ví dụ : Học sinh có thể tự học trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng: trên mạng
internet, trên báo, tivi, radio...
9. Biết thƣờng xuyên liên tƣởng .
Ví dụ: Học sinh có thể nhìn các sự vật, các khái niệm, các định nghĩa dƣới nhiều góc
độ khác nhau nhƣ định nghĩa chất oxi hóa, chất khử.
Trên đây chúng tôi đã đề cập đến một số những biểu hiện thƣờng thấy của những học
sinh thông minh, sáng tạo trong học tập và lao động. Tuy nhiên những biểu hiện của năng lực
sáng tạo có đƣợc thể hiện hay không, thể hiện nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào cách kiểm tra
đánh giá của giáo viên.
3. Cách kiểm tra đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng
và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và
điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Để đào tạo những con ngƣời năng động sáng tạo, sớm
thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái
hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng
tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế.

 Phƣơng pháp diễn dịch.
 Phƣơng pháp biện chứng.
Phƣơng pháp cũng đồng nghĩa với kỹ thuật và biện pháp khoa học nhƣ phƣơng pháp
thuyết trình, phƣơng pháp thí nghiệm.
Phƣơng pháp còn là tổ hợp những quy tắc, nguyên tắc dùng để chỉ đạo hành động nhƣ
nguyên tắc trực quan trong dạy học.
1.1.2. Các quy luật cơ bản chi phối phương pháp
11
1.1.1.1. Mặt khách quan và mặt chủ quan
Nhƣ chúng ta đã biết phƣơng pháp gồm 2 mặt : Mặt khách quan và mặt chủ quan.
Mặt khách quan của phƣơng pháp là đối tƣợng bị chi phối bởi các quy luật khách
quan. Do đó chủ thể phải ý thức đƣợc một cách chân thực. Ví dụ có rất nhiều quy luật tác
động tới phƣơng pháp giảng dạy hoá học nhƣ: Quy luật tâm lý, lý luận dạy học...
Mặt chủ quan của phƣơng pháp là những hành động đúng đắn của chủ thể trong việc
lựa chọn các phƣơng pháp thích hợp với các quy luật.
Hai mặt chủ quan và khách quan của phƣơng pháp luôn tác động qua lại với nhau, từ
đó tìm ra đƣợc phƣơng pháp hiệu nghiệm. Trên cơ sở đó chủ thể có những thao tác đúng đắn
với đối tƣợng.
1.1.1.2. Mục đích và nội dung chi phối phương pháp
Phƣơng pháp P gắn bó với mục đích M và nội dung N của hoạt động theo quy luật:
“Phƣơng pháp đƣợc quy định bởi mục đích và nội dung”

M
N P

Không có phƣơng pháp nào là phƣơng pháp vạn năng chung cho mọi hoạt động mà
nội dụng nào thì có phƣơng pháp ấy. Khi tại một thời điểm chúng ta sử dụng phƣơng pháp
nào đó thì có nghĩa là phƣơng pháp đó đang chiếm ƣu thế( phát huy các mặt mạnh của mình)
chứ không phải chỉ sử dụng phƣơng pháp đó.
1.2. Phƣơng pháp dạy học hoá học Nhƣ vậy phƣơng pháp dạy học hoá học bao gồm phƣơng pháp dạy và phƣơng
pháp học, với tƣ cách là hai phân hệ độc lập, nhƣng thƣờng xuyên tƣơng tác chặt chẽ với
nhau tạo ra hệ toàn vẹn phƣơng pháp dạy học hoá học.
a. Chức năng của phương pháp dạy học hoá học
Phƣơng pháp dạy có hai chức năng tƣơng tác và thống nhất với nhau là truyền thụ
và điều khiển, do đó nội dung trí dục đƣợc truyền đạt tới học sinh.
P truyền thụ
P điều khiển
P lĩnh hội
P tự điều khiển Phƣơng pháp dạy
Phƣơng pháp học

PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC HOÁ HỌC
13
Phƣơng pháp học có hai chức năng tƣơng tác và thống nhất với nhau là lĩnh hội
nội dung trí dục do thầy truyền đạt và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm của
bản thân, do đó nó là sự thống nhất của phƣơng pháp lĩnh hội và phƣơng pháp tự điều
khiển sự lĩnh hội của bản thân.
b. Các tiêu chuẩn đánh giá tính hiệu nghiệm của phương pháp dạy học
Phƣơng pháp dạy học hiệu nghiệm là cách thức tổ chức quá trình dạy học sao cho
đảm bảo đồng thời những phép biện chứng sau [8]:
1. Giữa dạy và học.
2. Giữa truyền thụ và điều khiển trong dạy.

làm thí nghiệm.
PP DH mà GV thƣờng dùng là thuyết trình, đàm thoại, cho HS dùng SGK, minh hoạ
bằng đồ dùng DH, ra BT và bài kiểm tra. Thỉnh thoảng GV biểu diễn thí nghiệm chứng minh
và một số thí nghiệm thực hành. Trong các giờ học, GV chủ yếu là nêu vấn đề để chuyển tiếp
vấn đề, HS chƣa đƣợc rèn luyện nhiều về giải quyết vấn đề.
PP DH mà GV sử dụng chƣa hƣớng vào việc tổ chức các hoạt động học tập của HS.
Do vậy, HS chỉ chú ý tiếp thu kiến thức rồi tái hiện lại những điều GV đã giảng hoặc những
điều đã có sẵn trong SGK. Trong DH, GV chƣa chú ý nhiều đến việc rèn luyện cho HS năng
lực tự học, tự tìm tòi và giải quyết vấn đề từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Nhƣ vậy,
chƣa phát huy đƣợc tính tích cực, sáng tạo của HS .
Trong các giờ học, HS ít đƣợc hoạt động, ít động não, không chủ động và tích cực lĩnh
hội kiến thức. HS còn lúng túng khi phải giải quyết những câu hỏi và BT tổng hợp, đặc biệt là
những vấn đề thực tiễn.
1.4. Các xu hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học hiện nay nhằm phát huy tính độc lập,
sáng tạo của học sinh
1.4.1. Định hướng đổi mới PPDH ở trường THPT
Luật giáo dục, năm 2005 đã chỉ rõ “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác , chủ động , sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Hiện nay, chúng ta đang thực hiện đổi mới chƣơng trình và SGK phổ thông mà trọng
15
tâm là đổi mới PPDH. Chỉ có đổi mới căn bản PP dạy và học thì mới có thể tạo đƣợc sự đổi
mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo lớp ngƣời năng động, sáng tạo.
Có thể nói, cốt lõi của đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống
lại thói quen học tập thụ động.
Tuy nhiên, đổi mới PP DH không có nghĩa là gạt bỏ các PP DH truyền thống mà phải
vận dụng một cách có hiệu quả các PP DH hiện có theo quan điểm DH tích cực kết hợp với
PP DH hiện đại.
1.4.2. Nghiên cứu một số vấn đề phương pháp luận của phương pháp dạy học hóa học ở

PP DH có tính đa cấp, phải phù hợp với các bậc học, cấp học, loại hình trƣờng, với
từng môn học, từng bộ môn hoặc nhóm môn.
PP DH phản ánh sự thống nhất giữa tính truyền thống và tính hiện đại trong DH: Loại
bỏ những cái lạc hậu, những cái không khoa học trong PP DH hiện hành; giữ lại, kế thừa, soi
sáng và phát triển những PP DH truyền thống dƣới ánh sáng của các quan điểm các PP DH
và các lí thuyết hiện đại về tâm lí học, lí luận DH cũng nhƣ dƣới ảnh hƣởng của cách mạng
khoa học - kĩ thuật; bổ sung, xây dựng những cái mới trong PP DH; dự báo sự phát triển
chiến lƣợc của hệ thống các PP DH.
PP DH phải có tính thực tiễn: Phải là kết quả của sự khai thác, xử lí, khái quát hóa
những kinh nghiệm thực tiễn DH của GV; có khả năng áp dụng vào thực tiễn DH và cải tạo
đƣợc thực tiễn đó.
Nhƣ vậy, PP DH ngày nay phải có sự chọn lọc theo hƣớng tiếp thu cái hiện đại và
khi vận dụng PP DH vào trƣờng phổ thông, cần đƣợc kiểm nghiệm qua thực tiễn.
1.4.3. Hoàn thiện các phương pháp dạy học hiện có
Tăng cƣờng tính tích cực, tính tìm tòi sáng tạo ở ngƣời học, tiềm năng trí tuệ nói riêng
và nhân cách nói chung thích ứng năng động với thực tiễn luôn đổi mới. HS phải trở
thành chủ thể hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo.
PP DH phải thể hiện đƣợc đặc trƣng của môn HH là môn thực nghiệm. Do đó, phải
tăng cƣờng sử dụng thí nghiệm và các phƣơng tiện trực quan.
Tăng cƣờng năng lực vận dụng trí thức đã học vào cuộc sống, sản xuất luôn đổi mới.
Chú ý hình thành năng lực tự giải quyết vấn đề cho HS và có biện pháp hình thành năng lực
tự giải quyết vấn đề một cách sáng tạo từ thấp đến cao.
Chuyển dần trọng tâm của PPDH từ tính chất thông báo, tái hiện đại trà chung cho cả
17
lớp sang tính chất phân hóa - cá thể hóa cao độ, tiến lên theo nhịp độ cá nhân.
1.4.4. Phối hợp để tạo ra những phương pháp dạy học mới
Phối hợp để tạo ra những PP DH mới bằng cách:
1. Liên kết nhiều PPDH riêng lẻ thành tổ hợp PPDH phức hợp .
2. Liên kết PP DH với các phƣơng tiện kĩ thuật DH hiện đại (phƣơng tiện nghe nhìn,
máy vi tính...) tạo ra các tổ hợp PP DH có dùng kĩ thuật, đảm bảo thu và xử lý các tín

nghĩ, mỗi ngƣời có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần
học hỏi thêm những gì ? Nhƣ vậy, bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không
phải chỉ là sự tiếp nhận kiến thức một cách thụ động từ GV.
Trong hoạt động nhóm, tƣ duy tích cực của HS đƣợc phát huy và điều quan trọng là
rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong nhóm.
1.4.5.4. DH theo dự án.
DH theo dự án là một hình thức DH, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ học tập
phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, tự thực hiện
và đánh giá kết quả.
Một trong những đặc trƣng cơ bản nhất của DH dự án là “DH trên kết quả đầu ra”,
với việc xác định đầy đủ, rõ ràng, chính xác mục tiêu đầu vào, quá trình đầu ra.
Trong DH HH ở trƣờng THPT, tuỳ vào điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất, khả năng
của GV và đối tƣợng HS mà áp dụng PP DH cho phù hợp để đạt đƣợc chất lƣợng và hiệu
quả.
2. Phƣơng pháp học tập hóa học của học sinh
2.1. Tầm quan trọng của phƣơng pháp học tập
Thế kỷ XXI là thế kỷ đi vào văn minh trí tuệ với các xu thế đã rõ ràng nhƣ sự phát
triển của các công nghệ cao, đặc biệt công nghệ thông tin và thông lƣu, kinh tế tri thức, xã hội
học tập...đƣợc tổng hợp trong xu thế lớn, rất đặc trƣng của thời đại là sự toàn cầu hoá, khu
vực hóa với các mặt đối lập nhƣ: hợp tác và cạnh tranh, liên kết và độc lập... Con ngƣời muốn
tồn tại đều phải học, học suốt đời dựa trên bốn trụ cột : Học để biết, học để làm, học để cùng
sống với nhau và học để làm ngƣời. Việc học ở nƣớc ta đang có những chuyển động mạnh
mẽ, vừa phản ánh sự phù hợp với triết lí giáo dục thế kỉ XXI, vừa phù hợp với những mục
tiêu phát triển của đất nƣớc mà một trong những yếu tố mới đƣợc đề ra ở Đại hội IX của
Đảng ( 4/2001) và chiến lƣợc phát triển giáo dục 2001-2010, là phải thực hiện " mọi ngƣời đi
19
học, học thƣờng xuyên, học suốt đời, cả nƣớc trở thành một xã hội học tập ". Vì thế năng lực
của con ngƣời phải đƣợc nâng lên mạnh mẽ nhờ vào trƣớc hết " biết cách học" và ngƣời dạy
biết "dạy cách học". Ý nghĩa của việc đổi mới PP DH ở nƣớc ta rất to lớn, không chỉ cho giáo
dục nhà trƣờng mà còn cho giáo dục xã hội. Điều cốt lõi là mọi ngƣời phải biết cách tự

1. Quyết định hiệu quả học là những gì HS làm chứ không phải những gì GV làm.
2. Hoạt động phải nhằm vào kỹ năng, năng lực bộ phận của mục tiêu hơn là chỉ nhằm
vào nội dung kiến thức.
3. Hoạt động trên lớp phải chuẩn bị cho hoạt động tự học sau bài học trên lớp.
2.2.3. Học cách thu thập thông tin và xử l‎ thông tin
GV cần phải dạy cho HS cách thu thập thông tin và coi đây nhƣ là một hình thức dạy
PP tự học cho HS. Muốn thu thập tốt các thông tin và xử lý, mỗi HS cần:
1. Học cách nghe giảng, ghi bài trên lớp.
2. Học cách đọc sách.
3. Học cách làm thí nghiệm, thực nghiệm.
4. Hỏi để hiểu rõ và hiểu sâu.
5. Học cách trình bày diễn giải bằng lời những điều học đƣợc trƣớc nhóm nhỏ học tập
hoặc trƣớc tập thể lớp.
6. Học cách tham khảo trí tuệ của bạn học và đồng nghiệp hoặc cách thuyết phục các
bạn học.
7. Học cách lập kế hoạch cá nhân.
3. Bài tập hóa học
3.1. Khái niệm bài tập hoá học
Theo từ điển tiếng Việt thì BT là „ Bài ra cho học sinh làm để vận dụng điều đã học,
còn bài toán là vấn đề cần giải quyết bằng PP khoa học‟. Ở đây chúng ta hiểu BTHH là
những bài đƣợc lựa chọn một cách phù hợp với nội dung rõ ràng cụ thể. Muốn giải đƣợc
những BT này ngƣời HS phải biết suy luận logic dựa vào những kiến thức đã học, phải sử
dụng những hiện tƣợng HH, những khái niệm, những định luật, học thuyết, những phép
toán…Ngƣời học phân loại BT để tìm ra hƣớng giải hợp lý và có hiệu quả.
3.2. Phân loại bài tập hoá học
BTHH đƣợc phân chia làm nhiều loại đƣợc dựa trên những cơ sở khác nhau. Hiện nay
đƣợc phân theo những loại cơ bản sau:[38]
21
Dựa vào chủ đề.
Dựa vào khối lƣợng kiến thức.

Bài tập phức hợp

22
Phân hoá các BT. Ở mỗi kiểu, tìm ra quy luật biến hoá từ cái sơ đẳng, cơ bản, điển
hình nhất (cái đơn giản nhất coi nhƣ xuất phát) đến những BT khác ngày càng phức tạp hơn,
tổng hợp hơn. Đây là chuỗi BT theo lôgic dọc. Đồng thời, lại tìm ra quy luật liên kết các bài
toán giữa các kiểu với nhau. Từ những bài toán điển hình, đơn giản nhất của hai hay nhiều
kiểu khác nhau “lắp ghép” thành một BT tổng hợp. Đây là logic ngang của sự cấu tạo các BT
từ nhiều kiểu khác nhau.
Nắm đƣợc hai quy luật (dọc và ngang) của sự hình thành BT, ta có thể sắp xếp chúng
theo thứ tự từ BT dễ đến BT khó. Từ đó mà ta có thể tuỳ từng trình độ của HS (giỏi, trung
bình, yếu) mà chọn và đƣa BT vừa sức cho HS giải. DH theo tiếp cận này sẽ rất hiệu quả vì
nó cho phép ta cá thể hoá cao độ việc DH cho một lớp có nhiều HS ở trình độ lĩnh hội khác
nhau.
3.3.2. Biên soạn bài tập mới tùy theo yêu cầu sư phạm định trước
Nếu nắm đƣợc sự phân loại các kiểu điển hình và các quy luật biến hoá (dọc và
ngang) của BT, GV có thể biên soạn những BT mới bằng cách vận dụng những quy luật biến
hóa nói trên. Tuỳ theo yêu cầu sƣ phạm, ta có thể phức tạp hóa hay đơn giản hóa BT, soạn
những BT có độ khó tăng dần, có chứa đựng những yếu tố giúp rèn luyện những kỹ năng
riêng biệt nào đó v.v...BT đƣợc xây dựng theo tiếp cận mô đun sẽ đáp ứng đƣợc những mục
đích nói trên. Từ một số BT điển hình nhất “lắp ráp ” chúng lại theo nhiều cách khác nhau
hoặc “tháo gỡ ” BT phức tạp thành nhiều BT đơn giản hơn.
3.3.3. Bảo đảm các yêu cầu cơ bản trong việc dạy học bằng bài tập
Khi sử dụng BT nhƣ một PP DH, cần lƣu ý những yêu cầu sau đây:
Bảo đảm tính cơ bản gắn liền với tính tổng hợp.
Bảo đảm tính hệ thống và tính kế thừa.
Bảo đảm tính kỹ thuật tổng hợp.
Bảo đảm tính phân hoá của hệ thống các BT.
Thƣờng xuyên coi trọng việc dạy học sinh PP giải BT.
3.4. Một số phƣơng pháp giải cơ bản

4. Sử dụng phƣơng tiện kỹ thuật hiện đại trong dạy học hóa học
4.1. Tầm quan trọng của việc sử dụng phƣơng tiện kỹ thuật day học vào dạy học hóa
học
24
Môn hóa học là môn khoa học tự nhiên. Lý thuyết của nó tƣơng đối trừu tƣợng, vì vậy
việc sử dụng phƣơng tiện kỹ thuật hiện đại vào dạy học là hết sức cần thiết vì:[43]
1. Phƣơng tiện kỹ thuật dạy học là công cụ giúp ngƣời giáo viên đạt đƣợc mục đích giờ
dạy.
2. Phƣơng tiện kỹ thuật dạy học giúp thực hiện tính đặc thù bộ môn, phát triển kỹ năng
quan sát, vận dụng kỹ năng thực hành, phát triển năng lực nhận thức, tƣ duy, năng lực
so sánh, khái quát hoá, tổng hợp hoá của học sinh.
3. Phƣơng tiện kỹ thuật dạy học giúp giáo viên giới thiệu những phản ứng độc hại, nguy
hiểm, hỗ trợ giáo viên trong việc hƣớng dẫn sử dụng các dụng cụ thí nghiệm, những
thao tác thực hành mẫu để học sinh có thể tự làm thí nghiệm.
4. Phƣơng tiện kỹ thuật dạy học giúp giáo viên có thể kiểm tra đánh giá với nhiều hình
thức, độ chính xác cao, tiết kiệm thời gian.
5. Phƣơng tiện kỹ thuật dạy học giúp cho giờ dạy sinh động hơn, tăng tính tò mò, ham
hiểu biết của học sinh, giúp học sinh hứng thú hơn đối với môn học và kết quả cao
hơn trong học tập.
6. Trong thực tế ngƣời ta khảo sát kết quả học tập của học sinh với nhiều phƣơng pháp
khác nhau đã cho thấy : Nếu học sinh chỉ đọc thì kết quả nhớ 10%, nghe thì nhớ 20% ,
nhìn thì nhớ 30% , đƣợc làm thì nhớ 50% và sử dụng đa phƣơng tiện sẽ đạt 90% .
4.2 Một số phƣơng tiện dạy học hiện đại dùng trong dạy học hoá học
Việc phân loại phƣơng tiện dạy học có thể dựa theo tính chất, cấu tạo, mức độ phức
tạp ... Phân loại dựa theo tính chất đƣợc chia làm 2 nhóm:
1. Nhóm truyền tin: gồm máy chiếu qua đầu , máy chiếu phim, máy ghi âm, máy dạy
học, máy vi tính.
2. Nhóm mang tin: gồm băng đĩa âm thanh, tranh bản đồ, mô hình, phƣơng tiện đa chức
năng ...
Dựa vào việc phân loại theo tính chất, có thể nêu ra một số phƣơng tiện kỹ thuật dạy

thuộc tỉnh Sơn La
Nhìn chung khó khăn trong PP HT HH của HS THPT thuộc tỉnh Sơn La gặp phải do
những yếu tố bên ngoài (khách quan) và yếu tố bên trong (chủ quan) gây nên.

Trích đoạn SƠ LƢỢC VỀ NHỮNG KHể KHĂN MÀ HỌC SINH CÁC TRƢỜNG THPT Nội dung phƣơng phỏp điều tra Lựa chọn một logic nội dung thớch hợp và sử dụng phƣơng phỏp dạy học phự hợp Tạo động cơ, hứng thỳ thụng qua cỏc tỡnh huống cú vấn đề nhằm phỏt huy cao độ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status