Rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho học sinh trong dạy học hóa học phần phi kim ở trường trung học phổ thông luận - Pdf 32

bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học vinh

------ ------

PHAN Sỹ TUệ

RèN LUYệN NĂNG LựC Độc lập, sáng tạo cho học sinh
trong dạy học hoá học phần phi kim ở trờng trung học
phổ thông

Chuyên ngành: Lý luận và phơng pháp

giảng dạy hóa học
mã số: 60.14.10

LI CM N

vinh - 2012

hon thnh lun vn ny, tụi xin by t lũng bit n sõu sc n :
- Thy giỏo PGS.TS Lờ Vn Nm ó giao ti, tn tỡnh hng dn, dnh
nhiu thi gian c bn tho, b sung v to mi iu kin thun li nht cho tụi
nghiờn cu v hon thnh lun vn.
- Thy giỏo PGS.TS Cao C Giỏc v thy giỏo PGS.TS Nguyn Xuõn
Trng ó dnh nhiu thi gian c v vit nhn xột cho lun vn.


2
- Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hoá học cùng các thầy
giáo, cô giáo thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học hoá học khoa Hoá học

tích cực của phương pháp này còn được nâng cao hơn khi BTHH được sử dụng như là
nguồn kiến thức để phát triển năng lực độc lập, sáng tạo cho HS. Với tính hiệu quả đa
dạng như vậy, có thể sử dụng BTHH trong dạy học hoá học để thực hiện các mục đích
dạy học sau :.....................................................................................................................50
2.1.4. Biện pháp 4 : Kiểm tra, động viên kịp thời và biểu dương, đánh giá cao những
biểu hiện sáng tạo của học sinh.......................................................................................53
2.1.5. Biện pháp 5 : Cho học sinh làm các bài tập lớn, tập cho học sinh nghiên cứu
khoa học...........................................................................................................................54
3.2.1. Lập kế hoạch thực nghiệm.....................................................................................93
3.2.2. Lựa chọn mẫu thực nghiệm và mẫu đối chứng.....................................................93
3.4.4. Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm...............................................................99

KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN


4
STT

Các chữ viết tắt

Các chữ viết đủ

1

BT

Bài tập

2


GV

Giáo viên

8

HS

Học sinh

9

KT-ĐG

Kiểm tra - đánh giá

10

l

Loãng

11

LL

Lí luận

12


SGK

Sách giáo khoa

18

STT

Số thứ tự

19

t0

Nhiệt độ

20

TN

Thực nghiệm

21

THPT

Trung học phổ thông

22


Trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, nhiệm vụ quan trọng của giáo dục
là rèn luyện tư duy cho học sinh ở mọi bộ môn, trong đó có bộ môn hoá học. Hoá học
là môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết, vì thế bên cạnh việc nắm vững lý thuyết,
người học cần phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo mọi vấn đề thông qua hoạt động
thực nghiệm, thực hành, giải bài tập.
Để thực hiện được yêu cầu rèn luyện năng lực độc lập sáng tạo của HS cần đổi
mới PPDH các bài lên lớp và sử dụng bài tập hoá học trong hoạt động dạy và học ở
trường phổ thông. Bài tập hoá học đóng vai trò vừa là nội dung vừa là phương tiện để
chuyển tải kiến thức, rèn luyện tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả
nhất. Bài tập hoá học không chỉ củng cố nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức mà


6
còn là phương tiện để tìm tòi, hình thành kiến thức mới. Rèn luyện tính tích cực, trí
thông minh sáng tạo cho HS, giúp các em có hứng thú học tập, chính điều này đã làm
cho bài tập hoá học ở phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc dạy và học hoá
học, đặc biệt là sử dụng hệ thống bài tập để rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho
học sinh trong quá trình dạy học.
Qua quá trình giảng dạy ở trường THPT tôi thấy thực trạng đó là một lượng
không nhỏ HS học tập còn thụ động và ít sáng tạo. Nguyên nhân một phần là do GV và
nhà trường rất ít chú ý kiểm tra, đánh giá năng lực độc lập, sáng tạo của học sinh ;
Phương pháp dạy học chậm đổi mới.
Với mong muốn tìm hiểu và sử dụng hiệu quả các bài lên lớp, trong đó có các
bài tập hoá học nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở THPT, tôi đã lựa chọn đề tài:
“Rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho học sinh trong dạy học hóa học phần phi
kim ở trường trung học phổ thông”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo và kĩ năng vận
dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học hóa học phần phi kim ở trường THPT, góp
phần nâng cao chất lượng dạy học hoá học trong giai đoạn hiện nay.

liệu liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa và bài tập hoá học THPT, đặc biệt là
chương trình hoá học lớp 10, 11 phần phi kim.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
a. Điều tra, thăm dò, trao đổi ý kiến với các giáo viên dạy hoá học THPT về nội
dung, hình thức diễn đạt, số lượng câu hỏi tự luận và TNKQ của mỗi bài học và sử
dụng trong quá trình dạy học.
b. Phương pháp hội thảo chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm
c. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Đánh giá hiệu quả sử dụng các biện pháp được đề xuất để rèn luyện năng lực
độc lập, sáng tạo cho HS trong học tập.
5.3. Các phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm bằng toán học thống kê.


8
6. Giả thuyết khoa học
Trong dạy học hoá học, nếu chọn được những biện pháp phù hợp và áp dụng
những biện pháp rèn luyện tích cực, chúng ta có thể rèn luyện được năng lực độc lập,
sáng tạo cho HS, từ đó nâng cao chất lượng học tập hoá học lên cao hơn.
7. Đóng góp mới của đề tài
- Đề xuất một số biện pháp nhằm rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho HS
trong dạy học hóa học ở trường THPT.
- Xây dựng và sưu tầm :
+ Các bài soạn theo hướng hoạt động hoá người học với các lớp có nhiều đối
tượng HS nhận thức khác nhau, kết hợp giữa bài học trên lớp với việc chia nhóm để
giúp đỡ HS.
+ Hệ thống các bài tập cơ bản, thực tiễn nhằm nâng cao hứng thú học tập,
củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng, rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho HS
lớp 10, 11 THPT.
+ Sử dụng hệ thống các bài soạn và bài tập để góp phần làm tăng tỉ lệ HS khá,


Phương pháp dạy

Phương pháp học

PP truyền thụ

PP lĩnh hội

PP điều khiển

PP tự điều khiển


10

Sơ đồ cấu trúc PPDH hoá học
Như vậy, PPDH hoá học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học, với tư
cách là hai phân hệ độc lập, nhưng thường xuyên tương tác chặt chẽ với nhau tạo ra hệ
toàn vẹn PPDH hoá học.
a. Chức năng của phương pháp dạy học hoá học
PP dạy có hai chức năng tương tác và thống nhất với nhau là truyền thụ và điều
khiển, do đó, nội dung trí dục được truyền đạt tới HS.
PP học có hai chức năng tương tác và thống nhất với nhau là lĩnh hội nội dung trí
dục do thầy truyền đạt và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm của bản thân, do
đó, nó là sự thống nhất của PP lĩnh hội và PP tự điều khiển sự lĩnh hội của bản thân.
b. Các tiêu chuẩn đánh giá tính hiệu nghiệm của phương pháp dạy học
Có các quan điểm khác nhau về đánh giá tính hiệu nghiệm của PP nói chung, PP
DH nói riêng. Theo GS Nguyễn Ngọc Quang, căn cứ vào bốn qui luật cơ bản chi phối
PP có thể tìm được bốn tiêu chuẩn về tính hiệu nghiệm của nó, trong đó phải nhấn

những khái niệm như một công cụ để tư duy.
+ Trong PPDH hoá học việc sử dụng mối liên hệ nhân quả giữa cấu tạo và tính
chất như một PPDH cơ bản trong môn hoá học .
Đối tượng của hoá học là những chất cấu tạo bởi phân tử, nguyên tử, ion…
Chúng đều là những hạt vi mô không quan sát được bằng mắt thường. Do đó, chúng ta
buộc phải dùng đến mô hình mô phỏng, thí nghiệm để lý giải những hiện tượng đó.
Tóm lại, PPDH hoá học chính là sự chuyển hoá của PP nhận thức hoá học thông
qua lăng kính của các quy luật tâm lý, lý luận dạy học.
1.1.2. Những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học [8]; [11]; [18]; [21]


12
Luật giáo dục năm 2005 đã chỉ rõ : “Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của
từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho
HS”.
Hiện nay, chúng ta đang thực hiện đổi mới chương trình và SGK phổ thông mà
trọng tâm là đổi mới PPDH. Chỉ có đổi mới căn bản PP dạy và học thì mới có thể tạo
được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo lớp người năng động, sáng
tạo.
Có thể nói, cốt lõi của đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập chủ động,
chống lại thói quen học tập thụ động.
Tuy nhiên, đổi mới PPDH không có nghĩa là gạt bỏ các PPDH truyền thống mà
phải vận dụng một cách có hiệu quả các PPDH hiện có theo quan điểm DH tích cực kết
hợp với PPDH hiện đại. Có nhiều xu hướng đổi mới PP dạy học. Sau đây là các xu
hướng chủ yếu:
1.1.2.1. Dạy học lấy học sinh làm trung tâm (hoặc dạy học hướng vào người học)
Đây là một quan điểm được đánh giá là tích cực vì hướng việc dạy học chú
trọng đến người học để tìm ra những PPDH có hiệu quả. Quan điểm này đã chú trọng

mục đích cuối cùng của quá trình dạy học, phát huy tối đa tiềm năng của người học. Do
vậy, vai trò tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo của người học được phát huy. Người
GV đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, động viên các hoạt động độc lập của HS,
đánh thức các tiềm năng của mỗi HS, giúp họ chuẩn bị tham gia vào cuộc sống.
Như vậy, bản chất của việc dạy học lấy HS làm trung tâm là đặt người học vào
vị trí trung tâm của quá trình dạy học, chú trọng đến những phẩm chất, năng lực riêng
của mỗi người, họ vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học .
1.1.2.2. Dạy học theo hướng hoạt động hoá người học
a. Bản chất
Là tổ chức cho người học được học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự
giác tích cực sáng tạo, trong đó việc xây dựng phong cách học tập sáng tạo là cốt lõi
của việc đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và phương pháp dạy học nói riêng.


14
Vì vậy, phải chuẩn bị rèn luyện một cách có hệ thống cho HS từ khi còn nhỏ để
mỗi cá nhân phải tìm được con đường riêng, sáng tạo ra một phương pháp mới phù hợp
với hoàn cảnh riêng của mình. Do đó, việc xây dựng phong cách "học tập sáng tạo" là
cốt lõi của việc đổi mới PPDH.
b. Học tập và sáng tạo
Ngày nay, học tập và sáng tạo không phải là hai hoạt động tách biệt mà là hai
mặt của một quá trình gắn bó chặt chẽ với nhau. Học không phải chỉ là tiếp thu thụ
động kinh nghiệm đã có sẵn của nhân loại mà chính là “sáng tạo lại” cho bản thân
mình. Ngay trong bài học đầu tiên của một môn khoa học đã phải đặt HS vào vị trí của
người nghiên cứu, khám phá. Ngược lại chính nhờ cách học nghiên cứu khám phá đó
mà HS nắm vững kiến thức, biết sử dụng kiến thức một cách linh hoạt rồi lại tiếp tục
sáng tạo ra cái mới. Hầu như mọi người đều thấy sự cần thiết phải chấm dứt tình trạng
học tập thụ động máy móc hiện nay và thay thế vào đó một cách học thông minh sáng
tạo, bởi vậy, chỉ nên để một kiểu học tập tồn tại trong nhà trường, đó là “học tập sáng
tạo” và coi xây dựng phong cách “học tập sáng tạo” là cốt lõi của việc đổi mới PPDH.

Cần phải có sự giúp đỡ, hướng dẫn của GV để HS có thể thực hiện được nhiệm vụ học
tập một cách tốt nhất trong một thời gian ngắn nhất. Vai trò của người GV lại càng
nặng nề, quan trọng và phức tạp hơn. Trước kia, người GV chỉ cần nắm vững nội dung
môn học để giảng dạy, minh họa rõ ràng mạch lạc là đủ, vì vậy, hễ có kiến thức là dạy
học được. Còn bây giờ, theo kiểu dạy học mới, người GV không những phải nắm vững
nội dung môn học, mà còn phải am hiểu sâu sắc HS; GV không trình bày những điều
mình đã biết, đã chuẩn bị mà là tổ chức hướng dẫn cho HS hoạt động sáng tạo để họ
đạt được những điều mà GV định đem lại cho họ hoặc là họ tự phát hiện thấy là cần
thiết và tin tưởng có thể đạt được.
1.1.2.3. Dạy học tích cực [4]; [19]; [22]; [24]; [25]
a. Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
PPDH tích cực là khái niệm nói tới những PP giáo dục, dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học. Vì vậy, PPDH tích cực thực chất là
các PPDH hướng tới việc giúp HS học tập chủ động, tích cực sáng tạo, chống lại thói
quen học tập thụ động.


16
PPDH tích cực chú trọng đến hoạt động học, vai trò của người học theo các
quan điểm tiếp cận mới về hoạt động dạy học như : "lấy người học làm trung tâm",
"hoạt động hoá người học", "kiến tạo theo mô hình tương tác"...
b. Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
- Những PPDH có chú trọng đến việc tổ chức, chỉ đạo để người học trở thành
chủ thể hoạt động, tự khám phá những kiến thức mà mình chưa biết. Trong giờ học HS
được tổ chức, động viên tham gia vào các hoạt động học tập qua đó vừa nắm được kiến
thức, kĩ năng mới vừa nắm được phương pháp nhận thức, học tập. Trong PPDH tích
cực việc tổ chức để HS học được tri thức, kĩ năng, PP học tập luôn gắn quyện vào nhau
theo quá trình học kiến thức- hoạt động đến biết hoạt động và muốn hoạt động qua đó
mà phát triển nhân cách người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo.
- Những PPDH có chú trọng rèn luyện kĩ năng, PP và thói quen tự học, từ đó mà

+ Vấn đáp tái hiện
+ Vấn đáp giải thích- minh họa
+ Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại ơrixtic)
• Dạy học nêu vấn đề và giải quyết vấn đề
Khi dạy học theo phương pháp này, mỗi GV cần chú ý thực hiện bài giảng theo
cấu trúc sau :
Bước 1. Nêu vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
+ Tạo tình huống có vấn đề.
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh.
+ Phát biểu vấn đề cần giải thích.
Bước 2. Giải quyết vấn đề
+ Đề xuất cách giải quyết.
+ Lập kế hoạch giải quyết.
+ Thực hiện kế hoạch.
Bước 3. Kết luận
+ Thảo luận kết quả và đánh giá.
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra.
+ Phát biểu kết luận.


18
+ Đề xuất vấn đề mới.
Trong dạy học nêu và giải quyết vấn đề gồm có 4 mức độ:
Mức độ 1 : HS giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của GV. GV đánh giá.
Mức độ 2 : HS giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần. GV cùng HS
đánh giá.
Mức độ 3 : HS phát hiện vấn đề nảy sinh, lựa chọn vấn đề và giải quyết. GV
cùng HS đánh giá.
Mức độ 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc
cộng đồng, lựa chọn vấn đề và giải quyết. HS tự đánh giá, có ý kiến bổ sung của GV

- Dự án mang nội dung tích hợp.
+ Định hướng vào sản phẩm : Các sản phẩm được tạo ra không giới hạn trong
những thu hoạch lí thuyết mà còn tạo ra sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn,
thực hành.
Trong DH hóa học ở trường THPT, tuỳ vào điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất,
khả năng của GV và đối tượng HS mà áp dụng PPDH cho phù hợp để đạt được chất
lượng và hiệu quả.
1.1.2.4. Sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại trong dạy học hóa học
a. Tầm quan trọng của việc sử dụng phương tiện kỹ thuật dạy học vào dạy
học hóa học
Hóa học là môn khoa học tự nhiên. Lý thuyết của nó tương đối trừu tượng, vì
vậy việc sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại vào dạy học là hết sức cần thiết.
- Phương tiện kỹ thuật dạy học là công cụ giúp người GV đạt được mục đích giờ
dạy.
- Phương tiện kỹ thuật dạy học giúp thực hiện tính đặc thù bộ môn, phát triển kỹ
năng quan sát, vận dụng kỹ năng thực hành, phát triển năng lực nhận thức, tư duy,
năng lực so sánh, khái quát hoá, tổng hợp hoá của học sinh.
- Phương tiện kỹ thuật dạy học giúp GV giới thiệu những phản ứng độc hại,
nguy hiểm; hỗ trợ GV trong việc hướng dẫn sử dụng các dụng cụ thí nghiệm, những
thao tác thực hành mẫu để học sinh có thể tự làm thí nghiệm.
- Phương tiện kỹ thuật dạy học giúp GV có thể kiểm tra, đánh giá với nhiều hình
thức, độ chính xác cao, tiết kiệm thời gian.


20
- Phương tiện kỹ thuật dạy học giúp cho giờ dạy sinh động hơn, tăng tính tò mò,
ham hiểu biết của HS, giúp HS hứng thú hơn đối với môn học và kết quả cao hơn trong
học tập.
Trong thực tế người ta khảo sát kết quả học tập của HS với nhiều PP khác nhau
đã cho thấy: nếu HS chỉ đọc thì kết quả nhớ 10%, nghe thì nhớ 20% , nhìn thì nhớ 30%

a. Tầm quan trọng của phương pháp học tập
Con người muốn tồn tại đều phải học, học suốt đời dựa trên bốn trụ cột: học để
biết, học để làm, học để cùng sống với nhau và học để làm người. Việc học ở nước ta
đang có những chuyển động mạnh mẽ, vừa phản ánh sự phù hợp với triết lí giáo dục
thế kỷ XXI, vừa phù hợp với những mục tiêu phát triển của đất nước mà một trong
những yếu tố mới được đề ra ở Đại hội IX của Đảng (4/2001) và chiến lược phát triển
giáo dục 2001-2010, là phải thực hiện "mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt
đời, cả nước trở thành một xã hội học tập". Vì thế, năng lực của con người phải được
nâng lên mạnh mẽ nhờ vào trước hết người học "biết cách học" và người dạy biết "dạy
cách học". Ý nghĩa của việc đổi mới PPDH ở nước ta rất to lớn, không chỉ cho giáo
dục nhà trường mà còn cho giáo dục xã hội. Điều cốt lõi là mọi người phải biết cách tự
học.
b. Vấn đề dạy cho học sinh phương pháp học tập
• Mục đích
Một GV khi thực hiện các giờ lên lớp hãy phấn đấu để trong mỗi tiết học bình
thường HS được :
- Hoạt động nhiều hơn ;
- Thực hành nhiều hơn ;
- Thảo luận nhiều hơn ;
- Suy nghĩ nhiều hơn.
Đối với môn hóa học- môn khoa học thực nghiệm có rất nhiều thực hành và thí
nghiệm, đó là một lợi thế lớn để thực hiện phương pháp tích cực.
• Hướng thực hiện
+ Trên cơ sở hướng dẫn HS xác định mục tiêu học tập của mình là :
Học để biết - Học để làm - Học để cùng sống với nhau - Học để làm người.


22
+ Muốn thế, mỗi GV cũng phải hiểu mà tìm cách xác định được mục tiêu của
các hoạt động, đó là :

học tập hoặc trước tập thể lớp.
- Học cách tham khảo trí tuệ của bạn học và đồng nghiệp hoặc cách thuyết phục
các bạn học.
* Học cách đọc sách
- Trước hết phải rèn luyện lòng ham thích đọc sách ;
- Cần học cách chọn sách đọc: phù hợp với mục tiêu môn học, phù hợp với trình
độ người đọc, biết chọn sách để đào sâu và mở rộng một vấn đề ;
- Học cách đọc sách và ghi chép để lưu giữ thông tin, để bổ sung bài giảng và để
tự học nâng cao tri thức và năng lực.
* Học cách làm thí nghiệm, thực nghiệm
Học cách quan sát và làm thí nghiệm, quan sát các phương tiện trực quan và
hiện tượng trong cuộc sống thực tiễn.
+ Học cách xử lí thông tin
Để có thể tự rút ra kết luận cần thiết hoặc nhận xét, trả lời câu hỏi hay hệ thống
câu hỏi hướng dẫn, cần :
- Hỏi để hiểu rõ và hiểu sâu ;
- Cần rèn luyện thường xuyên thói quen nêu thắc mắc, nêu vấn đề thảo luận.
- Cần học cách tóm tắt tài liệu đọc được, làm tổng kết hệ thống hóa kiến thức
của một chương, một số chương hoặc cả học kì, cả năm học. Chú ý so sánh, khái quát
hóa. Tập phân tích, tổng hợp, bình luận, nêu chính kiến của bản thân.
+ Học cách lập kế hoạch cá nhân
Muốn đạt được những kết quả ngắn hạn, dài hạn, muốn có được mục tiêu phấn
đấu thì mỗi HS ngay từ khi trong ghế nhà trường cũng cần giúp đỡ để các em có thể tự
hoạch định kế hoạch riêng của mình và cố gắng thực hiện tốt các kế hoạch đó.
Nói tóm lại :
- Quyết định hiệu quả học là những gì HS làm chứ không phải những gì GV
làm;


24


25
học tập của HS ở lứa tuổi này, vì vậy cần phải có những biện pháp dạy học thích hợp
hình thành năng lực tự học cho các em.
1.1.2.6. Bài tập hoá học [33]; [34]; [41]
a. Định nghĩa
Theo từ điển tiếng Việt : “Bài tập là yêu cầu của chương trình cho HS làm để
vận dụng những điều đã học và cần giải quyết vấn đề bằng phương pháp khoa học”.
Một số tài liệu lý luận dạy học thường dùng thuật ngữ “bài toán hoá học” để chỉ
những bài tập định lượng - đó là những bài tập có tính toán - khi HS cần thực hiện
những phép tính nhất định.
Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài
toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS vừa nắm được vừa hoàn thiện một tri thức
hay một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thực
nghiệm.
Ở nước ta, trong sách giáo khoa hoặc sách tham khảo, thuật ngữ “bài tập” được
dùng theo quan điểm này.
b. Phân loại bài tập.
Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập hoá học dựa trên cơ sở khác nhau :
+ Dựa vào mức độ kiến thức (cơ bản, nâng cao)
+ Dựa vào tính chất bài tập (định tính, định lượng)
+ Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh (lý thuyết, thực nghiệm)
+ Dựa vào mục đích dạy học (ôn tập, luyện tập, kiểm tra)
+ Dựa vào cách tiến hành trả lời (trắc nghiệm khách quan, tự luận)
+ Dựa vào kỹ năng, PP giải bài tập (lập công thức, hỗn hợp, tổng hợp chất, xác
định cấu trúc...)
+ Dựa vào loại kiến thức trong chương trình (dung dịch, điện hoá, động học,
nhiệt hoá học, phản ứng oxi hoá - khử...)
+ Dựa vào đặc điểm bài tập :
− Bài tập định tính (giải thích hiện tượng, nhận biết, điều chế, tách hỗn hợp...)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status