TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGƢ̃ VĂN
**********
LÊ THỊ TUYẾT NHUNG
RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TẠO LẬP
VĂN BẢN CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC BÀI: “THAO TÁC LẬP
LUẬN BÌNH LUẬN” (SGK NGỮ VĂN
LỚP 11)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
ThS. Dƣơng Thị Mỹ Hằng
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hình thành dưới sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình của cô
ThS.Dương Thị Mỹ Hằng. Em xin được gửi tới cô lời cảm ơn chân thành.
Em cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong tổ bộ môn Phương
pháp giảng dạy, các thầy,các cô trong khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình làm khóa luận.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Tuyết Nhung
: Trung học phổ thông
SGK
: Sách giáo khoa
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu :.................................................................. 8
4. Đối tượng, Phạm vi nghiên cứu .................................................................... 8
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 9
6. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 9
7. Bố cục khóa luận ........................................................................................... 9
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC THEO ĐỊNH
HƢỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC ............................................................... 10
1.1. Năng lực ................................................................................................... 10
1.1.1. Khái niệm năng lực ............................................................................... 10
1.1.2. Phân loại năng lực ................................................................................. 12
1.2. Năng lực tạo lập văn bản. ......................................................................... 14
1.3. Dạy làm văn theo hướng tiếp cận năng lực.............................................. 14
1.4. Bình luận, thao tác và thao tác lập luận bình luận trong văn nghị luận ......... 16
1.4.1. Một số khái niệm cơ bản.......................................................................... 16
1.4.2. Thao tác lập luận bình luận trong văn nghị luận................................... 18
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG DẠY HỌC BÀI “THAO TÁC LẬP LUẬN
BÌNH LUẬN” TRONG TRƢỜNG THPT HIỆN NAY............................. 22
2.1 Về phía người dạy ..................................................................................... 22
2.1.1. Cách thức khảo sát ................................................................................ 22
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.Việt Nam là một đất nước đang trên đà phát triển. Đất nước luôn
tích cực đổi mới trên tất cả các mặt trận: chính trị, kinh tế, văn hóa… Và
đặc biệt giáo dục đã có những bước đổi mới tích cực. Mới đây, theo NQ 29
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, toàn bộ chương trình học của học
sinh THPT sẽ được đổi mới theo hướng tiếp cận năng lực. Trước yêu cầu
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và khoa học giáo dục ; trước những đòi hỏi hội nhập quốc tế,
đòi hỏi người giáo viên cần phải có hiểu biết đúng đắn để thực thi nhiệm
vụ của mình.
1.2. Chương trình SGK hiện hành đã bộc lộ một số hạn chế bất cập, đặc
biệt là trong vấn đề rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho mỗi học học sinh.
Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định : Phải
chuyển đổi và căn bản toàn bộ nền giáo dục từ chủ yếu nhằm trang bị kiến
thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học, biết vận dụng tri thức
vào giải quyết vấn đề thực tiễn; chuyển nền giáo dục nặng về chữ nghĩa, ứng
thí sang nền giáo dục tự học, thực nghiệm. Từ đó đòi hỏi phải xây dựng
chương trình với những đổi mới căn bản, toàn diện về mục tiêu, nội dung,
phương hướng và hình thức dạy học, thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo
dục và quản lý, thực hiện chương trình.
Triển khai kiến thức theo hướng năng lực, nghĩa là chú ý tới đầu ra cần
đạt. Kết quả đầu ra cần đạt là điểm bắt đầu để xác định, lựa chọn,tổ chức các
kinh nghiệm học tập có ý nghĩa.Từ đó,chương trình phát triển năng lực xác
định năng lực cần cho cuộc sống và tham gia có hiệu quả trong xã hội mà
1
người học cần đạt,các nguyên tắc để xác định các kiểu kinh nghiệm mà sẽ
được góp một tiếng nói vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học Làm văn,
hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học Làm văn ở cấp Trung học
phổ thông.
2. Lịch sử vấn đề
Chương trình dạy học theo hướng tiếp cận năng lực đã được quan tâm
và đề cập tới ở các nước Châu Âu nhiều năm qua.
Những năm đầu của thế kỉ XXI, các nước trong khối EU đã bàn luận
rất sôi nổi về năng lực cơ bản và tuyên bố : “ Để chuẩn bị cho thế hệ trẻ thành
công khi đối mặt với những thử thách của xã hội thông tin và nhận được tối
đa từ lợi ích từ những cơ hội mà xã hội đó đã tạo ra, đã trở thành mục tiêu
quan trọng của hệ thống giáo dục Châu Âu. Nó định hướng cho sự thay đổi
chính sách giáo dục, xem xét lại nội dung chương trình và phương pháp dạyhọc. Điều đó càng làm gia tăng sự chú ý đến năng lực cơ bản, cụ thể là
những năng lực hướng vào cuộc sống, với mục đích suốt đời tham gia xã hội
một cách tích cực”.
Ở nước ta,thuật ngữ quan điểm năng lực là một thuật ngữ mới được
biết đến và sử dụng rộng rãi do yêu cầu của sự đổi mới giáo dục Việt Nam
năm 2015. Do là một quan điểm mới mẻ nên nó được nhiều nhà nghiên cứu,
nhà soạn sách quan tâm tới. Cùng với đó là nhiều cuộc hội thảo, họp bàn được
mở ra để bàn về vấn đề này.
Trong cuốn “Tâm lý học đại cương” do Đinh Thị Kim Thoa chủ biên,
có nhận định về năng lực như sau : “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc
đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo
cho hoạt động đó có hiệu quả”
Ở giác độ giáo dục học, tác giả DeseCo nhận định về năng lực như sau:
“Năng lực là một hệ thống các cấu trúc tinh thần bên trong và khả năng huy
3
động các kiến thức,kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành thái độ, cảm
xúc,giá trị,đạo đức, động lực của một người để thực hiện thành công các hoạt
thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc
sống đặt ra. Nói cách khác phải gắn với thực tiễn đời sống. CT truyền thống
chủ yếu yêu cầu HS trả lời câu hỏi: Biết cái gì? CT tiếp cận theo năng lực
luôn đặt ra câu hỏi: Biết làm gì từ những điều đã biết?” Như vậy, có thể
thấy, nhận định của PGS.Ts Đỗ Ngọc Thống có nét tương đồng với quan
điểm của PGS.TS Đỗ Việt Hùng.
Trong bài viết: “Ứng dụng cách tiếp cận năng lực chung - một phương
pháp mới xác định danh mục năng lực cần thiết đối với chuyên viên ngân
hàng”, hai tác giả Lê Kim Long và Phạm Minh Trí, giảng viên đại học Nha
Trang đã nhận định : “Dẫu có sự khác nhau nhưng hầu hết các khái niệm đều
có chung một số quan điểm như: Năng lực bao gồm một loạt các kiến thức,
kỹ năng, thái độ hay các đặc tính cá nhân khác cần thiết để thực hiện công
việc thành công. Bên cạnh đó, những yếu tố này phải được quan sát hay đo
lường và có sự phân biệt giữa những người biểu hiện tốt nhất so với những
người khác.
Tóm lại, năng lực được xem như là những phẩm chất tiềm tàng của
một cá nhân và đòi hỏi của công việc để thực hiện công việc thành công.
Năng lực được hiểu là một tập hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ hay
các phẩm chất cá nhân khác (động cơ, nét tiêu biểu, ý niệm về bản thân,
mong muốn thực hiện…) mà tập hợp này là thiết yếu và quan trọng của
việc hình thành những sản phẩm đầu ra.”
Trên đây là những nhận định về năng lực và chương trình phát triển
năng lực của một số tác giả, một số nhà nghiên cứu.
Bên cạnh đó, chứng tôi cũng xem xét các tài liệu bàn về thao tác lập
luận bình luận. Bình luận là một kĩ năng quan trọng của làm văn nghị luận
ở nhà trường và rèn luyện kĩ năng bình luận cho học sinh là một vấn đề các
nhà nghiên cứu quan tâm.
5
văn học. Điều này đã giúp ích rât lớn cho giáo viên và học sinh trong quá
trình dạy học văn.
Trong SGK Ngữ văn 11 tập 2, bộ cơ bản, các tác giả Phan Trọng
Luận, Trần Đăng Suyền, Lê A đã thống nhất đưa ra khái niệm bình luận
như sau : “Bình luận nhằm đề xuất và thuyết phục người đọc (người nghe)
tán đồng với nhận xét, đánh giá, bàn luận của mình về một hiện tượng (vấn
đề) trong đời sống hoặc trong văn học” [12,73]. Từ khái niệm đó, các tác
giả đã đưa ra cách bình luận thường gặp nhất để giáo viên và các em học
sinh tham khảo. Thao tác lập luận bình luận không chỉ có mặt trong các
kiểu bài mà thao tác này còn có mối liên hệ mật thiết với các thao tác khác:
phân tích, so sánh, bác bỏ.. quan điểm này hoàn toàn phù hợp với thực tế
viết văn lại vừa tạo điều kiện để luyện tập cho học sinh biết cách sử dụng
thao tác lập luận trong suốt quá trình học văn nghị luận từ THCS đến
THPT và ứng dụng vào việc học tập cũng như trong cuộc sống.
Tựu chung lại, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu đều đồng ý với việc
đổi mới chương trình, đổi mới SGK, đổi mới cách dạy, cách học, cách kiểm
tra, đánh giá… Tuy nhiên, để thực hiện được thì nó còn đòi hỏi phải có sự
phù hợp với đặc điểm tình hình của quốc gia hiện nay. Có thể khẳng định đổi
mới chương trình theo hướng tiếp cận năng lực chính là chìa khóa để mở ra
một thời đại mới cho nền giáo dục nước nhà.Tuy nhiên, các công trình nghiên
cứu chưa đưa ra một bài dạy lý thuyết cụ thể nào theo định hướng phát triển
năng lực. Vì thế, chúng tôi thấy cần thiết đi sâu nghiên cứu đề tài : “Rèn
luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trong dạy học bài "Thao tác
lập luận bình luận (Ngữ văn 11)" với hy vọng góp một phần tiếng nói, đưa
ra giải pháp hữu ích cho hướng dạy-học mới này để nâng cao chất lượng dạy
Làm văn ở cấp THPT
7
8
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
-Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp thực tiễn
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp thống kê, khảo sát
6. Đóng góp của khóa luận
* Về mặt lý luận :
Khóa luận tập trung trình bày cơ sở lý luận về thao tác lập luận bình
luận ở các phương diện khái niệm, đặc điểm, vai trò, cách thức thực hiện thao
tác lập luận bình luận trong văn bản nghị luận.
* Về mặt thực tiễn :
Khóa luận này góp một phần vào việc tìm ra những hướng dạy học nội
dung này đạt hiệu quả, đồng thời cũng giúp cho học sinh có đủ kiến thức và tự
tin khi sử dụng thao tác lập luận bình luận cũng như khi vận dụng kết hợp
thao tác lập luận này với các thao tác lập luận khác trong quá trình tạo lập văn
bản nghị luận.
7. Bố cục khóa luận
- Mở đầu
- Nội dung
+ Chương 1 : Cơ sở lí luận
+ Chương 2 : Thực trạng dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận”
trong trường THPT hiện nay
+Chương 3 : Giải pháp rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh
trong dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” ( SGK Ngữ văn lớp 11 )
- Kết luận
9
là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị
và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành GD”.
Theo quan niệm của chương trình giáo dục phổ thông của Quecbec
(Canada) thì: “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến
thức, kĩ năng với thái độ tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…nhằm đáp ứng
hiệu quả một yêu cầu phức hơp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”. Với
cách hiểu này thì việc học sinh chỉ có kiến thức, kĩ năng và thái độ không
được xem như là có năng lực mà cả ba yếu tố này phải được người học vận
dụng trong một tình huống nhất định thì mới phát triển hình thành năng lực.
Ở góc độ tâm lý học, nhiều tác giả có quan niệm chung về năng lực
như sau: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp
với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có
hiệu quả”
Ở góc độ tâm lý học, nhiều tác giả có quan niệm chung về năng lực
như sau: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp
với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có
hiệu quả”
Như vậy, theo như góc độ này, năng lực bao gồm các thuộc tính tâm lý
và sinh lý tương ứng với những đòi hỏi của một hoạt động nhất định, trong
một bối cảnh, tình huống nhất định chứ nó không phải là tất cả thuộc về
tâm,sinh lý của con người. Năng lực không phải là khả năng sinh ra đã có, nó
là kết quả tích cực của quá trình lĩnh hội và rèn luyện tri thức trong quá trình
hoạt động và giao tiếp.
Ở giác độ giáo dục học, năng lực được quan niệm:“Năng lực là một hệ
thống các cấu trúc tinh thần bên trong và khả năng huy động các kiến thức,kỹ
năng nhận thức, kỹ năng thực hành thái độ, cảm xúc,giá trị,đạo đức, động lực
của một người để thực hiện thành công các hoạt động trong bối cảnh cụ thể.”
11
12
tiếp cận theo hướng năng lực của mỗi các nước, có thể thấy năng lực được
phân chia thành hai loại: Năng lực chung (general competence) và năng lực
chuyên biệt (subject- specific competencies).
Năng lực chung là năng lực cơ bản và thiết yếu giúp cá nhân có thể
sống, làm việc và tham gia hiệu quả trong nhiều hoạt động và bối cảnh khác
nhau của đời sống xã hội như năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực
giao tiếp, năng lực về ngôn ngữ và tính toán.Các năng lực này được hình
thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo
dục và trải nghiệm trong cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt
động khác nhau.
Năng lực chung gồm 9 năng lực sau:
- Tự học;
- Giải quyết vấn đề
- Sáng tạo;
- Tự quản lý;
- Giao tiếp;
- Hợp tác;
- Sử dụng công nghệ thông tin;
- Sử dụng ngôn ngữ;
-Tính toán.
Năng lực chung hết sức quan trọng, đó chính là kĩ năng tối thiểu mà
một con người có thể sống hòa đồng và phát triển trong một cộng đồng.
Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển
trên cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các
loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống đặc thù, đáp ứng yêu cầu cao
và sâu hơn của một môn học/hoạt động nào đó.
Năng lực chung và năng lực chuyên biệt tuy có sự phân biệt rạch ròi
đó vào thực tế để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra. Như vậy,việc
14
thay đổi dạy - học theo hướng tiếp cận nội dung sang hướng tiếp cận năng lực
là điều hoàn toàn cần thiết ở chương trình học của tất cả bộ môn nói chung và
của phần Làm văn nói riêng.
Thực tế dạy học môn Làm văn trước đây là học theo hình thức đọcchép; nhìn-chép. Thường là thầy giảng, trò nghe ; thầy đọc, trò chép. Với cách
dạy này, học sinh thường bị động, chỉ biết nghe theo sự hướng dẫn của thầy
cô mà không có sự sáng tạo, không kích thích được toàn bộ lối tư duy của học
sinh, làm học sinh không có khả năng tự học và thói quen tìm tri thức, làm
việc nhóm. Vì thế có thể thấy, nếu cứ dạy Làm văn theo hướng này thì không
phát huy được tính cảm nhận, tạo lập văn chương của học sinh trong thực tế,
làm cho môn văn càng trở nên nhàm chán, thiếu thú vị.
Dạy học làm văn ở cấp trung học phổ thông mục đích giúp cho học
sinh có được những kĩ năng cơ bản trong giao tiếp, trong việc sử dụng ngôn
ngữ, câu văn, cú pháp hợp lý, đúng ngữ cảnh. Dạy học làm văn theo hướng
tiếp cận năng lực được thể hiện ở nội dung và phương pháp. Về nội dung, cần
đảm bảo nội dung bài dạy đầy đủ, chính xác và mang tính ứng dụng thực tế
cao. Về phương pháp, cần có phương pháp giảng dạy khoa học, gắn liền với
thực tế. Các phương pháp chính là: Phân tích lý thuyết, luyện tập theo mẫu và
cuối cùng là thực hành thực tế. Để học tốt Làm văn theo hướng tiếp cận năng
lực cần phải có sự rèn luyện vì thế phương pháp tập luyện theo mẫu một cách
lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ tạo ra những kĩ năng và từ đó hình thành nên năng
lực cho người học.
Dạy học Làm văn theo hướng tiếp cận năng lực chính là cách giúp cho
các em học sinh hình thành được kĩ năng để tạo lập văn bản sử dụng trong
thực tế cuộc sống, trong cách ứng xử, sử dụng lời nói ngôn ngữ phù hợp với
hoàn cảnh giao tiếp, hoàn thiện nhân cách bản thân.
16
Giải thích là dung lí lẽ (chủ yếu) và dẫn chứng (hỗ trợ) để giúp người
đọc, người nghe hiểu một vấn đề nào đó trong đời sống hoặc trong văn học.
Chứng minh là dung dẫn chứng (chủ yếu) và lí lẽ (hỗ trợ) để khiến cho
người đọc, người nghe tin một vấn đề nào đó trong đời sống hoặc trong văn
học.
Bình luận ngày càng có vị trí quan trọng khi công nghệ thông tin ồ ạt
lấn chiếm dần trong cuộc sống thường nhật của con người, tạo nên một kết
nối cộng đồng mạng lớn như facebook, youtube, các kênh báo mạng 24h.com,
tinn.vn… Hòa nhập với công nghệ,việc bình luận mọi vấn đề của cuộc sống,
xã hội càng trở nên quen thuộc và quan trọng với mỗi con người. Với mức độ
quan trọng ấy,việc xây dựng văn bản bình luận,bàn bạc,đánh giá vấn đề sao
cho khoa học và có văn hóa là một vấn đề thiết yếu cần được quan tâm.
1.4.1.3 Khái niệm văn nghị luận
Nghị luận là dạng thức cơ bản của văn học. Đó là việc bàn bạc, đánh
giá một vấn đề nào đó. Trong đó có các luận điểm và các dẫn chứng, lý lẽ
thuyết phục người nghe về quan điểm cá nhân đối với vấn đề đó.Văn nghị
luận là loại văn chương nghị sự, dùng luận cứ, luận chứng để phân tích rõ vấn
đề. Nói một cách khác, đó là tên gọi chung cho một thể loại vận dụng tư duy
logic như khái niệm, phán đoán, suy lí nêu sự việc trình bày lý lẽ, phân biệt
đúng sai và tiến hành phân tích luận chứng khoa học đối với hiện thực khách
quan,quy luật bản chất của sự vật, qua đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ trương
ý kiến, quan điểm của người nói (người viết) với vấn đề nghị luận.
Như vậy,nghị luận là một kiểu văn bản trong đó người viết, người nói
đưa ra những lí lẽ dẫn chứng về một vấn đề để người đọc,người nghe hiểu,
tin,tán đồng với những ý kiến của mình và hành động theo những điều mình
đề xuất.
khách quan, công bằng và tránh tùy tiện.
18
Khi thực hiện thao tác bình luận, người viết, người nói cần tuân thủ các
bước sau :
- Xác định đối tượng bình luận
- Giới thiệu đối tượng bình luận
- Đề xuất ý kiến bình luận
- Vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận và mở rộng vấn đề bình luận
Đối tượng của bình luận vốn rộng lớn: Bình luận về một hiện tượng
đời sống, một nhân vật lịch sử, một ý kiến hay một tác phẩm văn học, một
bộ phim, một nhân vật..Vì vậy, muốn cho người đọc biết ta bình luận cái gì
thì phải gọi tên đối tượng bình luận, trình bày hiện tượng, trích dẫn ý kiến,
giới thiệu tác phẩm văn học hay nhân vật văn học..Khi bình luận, người bình
luận cần phân tích đối tượng một cách cụ thể, nghĩa là phải hiểu được bản
chất của đối tượng, chỉ ra được cái đúng - sai, tốt - xấu một cách khách
quan, trung thực. Người bình luận cần nhìn nhận đối tượng từ nhiều mối
quan hệ, giữa đối tượng bình luận với nhiều hiện tượng, sự vật khác để
không có cái nhìn áp đặt và thiên lệch.Bình luận luôn là ý kiến chủ quan của
người viết, người nói. Vì thế, nó phải thể hiện chính kiến riêng của người
bình luận theo ba cách cụ thể sau:
Người viết đứng hẳn về một phía với vấn đề, hiện tượng bàn luận.
Nghĩa là lúc này, người viết (người nói) sẽ phải sử dụng lĩ lẽ, dẫn chứng
thuyết phục người đọc (người nghe) điều mình tin là đúng, kiên quyết bác bỏ
cái sai.Trong trường hợp vấn đề bàn luận có cả điều đúng và điều sai thì cần
phải nêu ra và chứng minh những điều tích cực trong phần đúng, gọi ra và
chứng minh và loại bỏ phần sai của mỗi phí để tìm được “tiếng nói chung”
trong sự đánh giá. Cuối cùng, nếu vấn đề chưa đúng hoặc không chính xác thì
người viết phải bày tỏ được quan điểm của riêng mình, cách nhìn nhận đánh