class="bi x0 y0 w0 h1"
Bài làm
Giữa cuộc sống xô bồ, hối hả, đôi lúc ta giật mình sững sờ trước một nét
đẹp vọng vào tận đáy lòng sâu kín, thức tỉnh hồn dân tộc thiêng liêng, và khi
ấy, ta chợt nhận ra nhịp sống trôi qua đã làm ta bỏ quên bao điều thanh cao,
đẹp đẽ.
Đó là cảm giác của tôi khi đọc bài thơ Ông đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên,
một bài thơ mà theo tôi, nó không bao giờ cũ dù đã ra đời cách đây mấy
chục năm.
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Ngược dòng thời gian về với Hà Nội, ta sẽ thấy những hình ảnh quen
thuộc ở một góc phố rêu phong nào đó, những ông già quắc thước với
nghiên mực tàu, tờ giấy đỏ để mang đến cho người qua đường một niềm vui
nho nhỏ mà trang trọng. Mỗi năm hoa đào nở câu thơ gợi kên một cái gì rất
đều đặn, thường kì: Lại thấy ông đồ già. Mỗi năm… lại thấy, tức là nụ hoa
đào hồng rực chúm chím và những ông đồ già xuất hiện trên phố xưa là hai
hình ảnh gắn với nhau, là biểu tượng của mùa xuân, của một năm hết, Tết
đến. Hai hình ảnh ấy đối xứng với nhau trong hai câu thơ đầu, làm sống dậy
trong lòng ta cái quen thuộc xa xưa, đúng là xưa xưa vì tuy nhà thơ chưa nói
đến chuyện hôm nay, nhưng dõi theo nhịp thơ, ta đã thấy nhà thơ như muốn
gợi về một kỉ niệm. Đã mỗi năm rồi lại thấy. Kết câu đầu là một thanh trắc
sau hai thanh bằng. Kết câu hai là ba thanh bằng liên tiếp. Cho nên chính
chữ nở ấy dội vào lòng ta như một tiếng cồng trầm, và ba chữ ông đồ già là
âm vang của tiếng gõ ấy, làm ấm lòng người, gợi lên nỗi bồi hồi lan tỏa.
Cảm xúc ấy làm cái đệm cho ta nhớ lại “cụ già”: Bày mực tàu giấy đỏ. Bên
phố đông người qua. Tứ thơ kết thúc hoàn chỉnh hình ảnh làm giật mình
người qua đường đang hối hả: “Ồ, đã Tết rồi đấy nhỉ!”. Cách miêu tả rất
thong thả, phản ánh đúng những động tác khoan thai của ông đồ già, và
trong ngày Tết, cùng với cành đào Nhật Tân chúm chím khởi sắc.
Ta trở lại với ông đồ già viết câu đối của Vũ Đình Liên, của phố phường
Hà Nội xưa. Ông đồ già tài hoa không phụ lòng người hiếu học, và người
cũng không phụ lòng ông đồ già. Bao nhiêu người thuê viết, dù là thuê thôi,
thời ấy chắc một hai đồng kẽm, chắc chắn chỉ đủ cho ông mua giấy mực và
mua cái áo mới cho đứa cháu nhỏ, nhưng cũng thật đáng quý. Đáng quý ở
chỗ người Hà Nội xưa nói riêng và người Việt Nam ta nói chung, có bao
nhiêu người muốn có một câu đối, có nghĩa là một quan niệm sống, một quy
tắc sống đẹp và một sức cảm nhận thanh tao, bay bổng. Cái truyền thống là
đáng quý lắm chứ! Cố nhiên cũng có những người trong đám đông ấy chẳng
hiểu hết câu đối, đơn giản chỉ là làm theo tục lệ xưa, nhưng cũng biết tấm
tắc ngợi khen, biết cảm thụ cái đẹp, biết trầm trồ trước những nét chữ như
phượng múa rồng bay. Chừng ấy đủ làm nên cái đẹp cho phố phường, cái
sức hút riêng của văn hóa dân tộc, của cuộc sống. Nhà thơ dùng từ rất dân
dã mà chính xác: tấm tắc, ngợi khen, hoa tay, rồng bay, phượng múa. Ông
đồ già của ta phải tài hoa lắm, bởi năm nào ông cũng bày nghiên bút viết
câu đối cho khách đem về treo Tết.
Những năm xưa là thế. Hoa đào nở báo hiệu mùa xuân là ông đồ lại bày
nghiên mực, giấy hồng bên đường phố đông người để viết câu đối, vì đời
sống tinh thần thanh cao của người Hà Nội. Còn năm nay thì sao? Ta có còn
thấy cảnh người ta xúm quanh những câu đối đỏ tươi rói màu mực đen
nhánh mà tấm tắc ngợi khen tài hoa của ông nữa không?
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu…
Có thể đường vẫn đông, mà vắng ở đây là vắng cái đám đông xưa bao
nhiêu người thuê viết. Nhà thơ như thay lời những người qua đường, thay
lời ông đồ già hỏi có phần ngạc nhiên, mà cũng pa chút chua xót: Người
thuê viết nay đâu? Càng năm càng vắng, những câu đối ngày càng bớt đi.
lạnh nhạt đến ghê người, bởi vì nó vô tình. Chính cái vô tình của người đời
là cái làm lòng ta còn chua xót hơn cả sự cố ý của họ, bởi cố ý là cũng còn
nhớ đến, còn vô tình thì đã quên rồi, quên nét đẹp cổ truyền của dân tộc, nét
đẹp của tâm hồn con người, dù chỉ là trước những câu đối đỏ.
Nỗi buồn của ông đồ không còn lắng đọng lại chỉ trong nghiên mực, bút
lông, trang giấy, mà lan ra không gian. Kì lạ thế, cái không khí Tết ngày xưa
có người tấp nập, có cành đào nhà ai chúm chím nụ hồng, có sắc đỏ tươi của
giấy, có lời cười nói ngợi khen, là cái Tết lòng người còn hướng về cái sâu
xa cổ truyền của dân tộc. Cái Tết hôm nay cuộc sống xô bồ, hối hả, người ta
sống gấp, sống vội, thì lại chỉ thấy lá vàng, mưa bụi, và cả lá, mưa cũng rất
thờ ơ, vô tình. Phải chăng khi mất đi cái đẹp của tâm hồn, mất đi cái cội
nguồn dân tộc trong tiềm thức, cuộc sống trở nên ảm đạm hơn? Phải, ta
sống hối hả và thực tế quá, nên quên đi những hiếu nghĩa, và quên cả rằng
chính những điều đó tạo nên cái đẹp cho cuộc sống, cái đẹp ấy không có gì
thay thế được bởi nó bắt nguồn từ hồn người. Ông đồ già với câu đối cổ
truyền ấy chính là những điều rất nhỏ mà cũng rất lớn, chúng ta đã bỏ quên
bên lề cuộc sống, đi qua rồi mà không hay. Ông đồ bị hất bên lề đường, chỉ
còn sống với lá vàng, với mưa bụi, với thiên nhiên, còn con người đã trở nên
thờ ơ, lạnh lẽo. Mưa bụi bay vu vơ ngoài đường đậu bất chợt trên vai ai đó.
Cả tứ thơ toát ra cái ảm đạm, lạnh lùng của tâm hồn con người và cảnh vật,
đến xót xa, đến chua chát. Có lẽ đây là khổ hay nhất trong bài thơ. Cái thờ ơ
của lòng người với cái vô tình của thiên nhiên kết hợp, quyện vào với nhau,
tạo nên cảm giác não nề kì lạ cho người đọc. Cái phố đông người qua với
cái phố mưa bụi bay có lá vàng rụng của khổ này thật khác nhau, và càng
đối lập nhau càng làm nổi bật cái không khí ảm đạm của cảnh sắc cũng như
tâm hồn:
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ,
Hồn ở đâu bây giờ?
chôn vùi dưới cuộc sống ồn ào, náo nhiệt. Làm sao để khôi phục lại cái hồn
cho cả dân tộc, đó là điều nhà thơ Vũ Đình Liên muốn nhắn gửi tới chúng ta.
Tôi xin lạc ra khỏi đề để liên tưởng đến câu chuyện thời thơ bé. Cô công
chúa muốn có cái mũ miện cưới thật đặc biệt nên đã vô tình làm tuyệt chủng
loài chim có bộ lông tuyệt đẹp, và bao nhiêu năm sau, cô sống trong nỗi đơn
lạnh và hối hận, mãi mãi tự dằn vặt mình vì đã vô tình gây tội ác. Chúng ta
cũng thế. Chúng ta cũng vì mải chạy theo những mục đích tầm thường của
cuộc sống hằng ngày mà vô tình giết chết cái đáng trân trọng, đáng quý của
dân tộc: bản sắc cổ truyền của con người Việt Nam. Chẳng còn ai, hay hiếm
lắm, cảnh ngày mùng Một Tết cha mẹ dẫn con đến nhà thầy cô giáo cũ giờ
đã bạc phơ mái đầu để thọ lễ. Những điều đơn giản nhất như lời chào, tiếng
cảm ơn của người Hà Nội thanh lịch ngày càng hiếm. Những quy tắc đạo
đức trong một lớp đông người trở thành “rởm đời”. Thật xót xa, đúng thế,
và nếu chúng ta không dừng lại thì sẽ mãi mãi hối hận xót xa.
Xuân Canh Ngọ, tôi thấy hình ảnh một ông đồ già trên báo Nhân dân chủ
nhật, đúng như hình dung của tôi. Bức ảnh thật sáng sủa, vài tà áo dài
vương vào với những nụ cười thiếu nữ, gợi lên trong ta một niềm tin hi vọng
tuy mơ hồ nhưng phấn khởi. Tôi tin, những lớp người mới như chúng ta sẽ
cùng Vũ Đình Liên gióng lên những tiếng chuông cảnh tỉnh lòng người Việt
Nam, dựng lại cho dân tộc bản sắc thiêng liêng của mấy ngàn năm văn vật,
và phải chăng chính đề ra cũng mang dụng ý đó… Chúng ta sẽ tìm lại cho
dân tộc cái hồn riêng sâu lắng, sẽ tìm lại cho mỗi con người một tâm hồn
biết rung động trước cái đẹp của quê hương, đất nước, tìm lại Hà Nội trọng
nghĩa trọng tài với những ông đồ già và câu đối tươi rói mỗi dịp xuân về bên
nụ đào hồng rực rỡ…
Phan Thị Hải Yến
Trường THPT Bà Rịa – Vũng Tàu (Bài đoạt giải nhì)