Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam
MỤC LỤC
I. NỘI DUNG Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC.
1. Khái quát chung.
a. Khái niệm và cơ sở của nguyên tắc.
"Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật"
là một trong những nguyên tắc của luật tố tụng hình sự, được hiểu là trong quá trình xét
xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân không bị ràng buộc bởi bất cứ yếu tố nào khác
ngoài pháp luật, loại trừ mọi sự can thiệp từ bên ngoài vào hoạt động xét xử của tòa án.
Cơ sở của nguyên tắc.
Cơ sở lý luận : Việc quy định nguyên tắc này gắn liền với việc tổ chức bộ máy Nhà
nước theo cơ chế phân công và kiểm soát quyền lực. Tính độc lập của thẩm phán, hội
thẩm là một trong những biểu hiện rõ nét của cơ chế phân chia quyền lực ở Việt Nam.
Sự vi phạm nguyên tắc này sẽ dẫn đến sự lạm dụng quyền lực, sư thoái hóa của quyền
lực và xã hội dĩ nhiên sẽ gánh chịu những hậu quả to lớn của tình trạng này.
Cơ sở thực tiễn : Nguyên tắc này được ghi nhận rộng rãi trong pháp luật của nhiểu
quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam. Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa
Liên bang Nga quy định: "Khi tiến hành xét xử các vụ án hình sự,thẩm phán và hội thẩm
nhân dân độc lập và chỉ phục tùng pháp luật. thẩm phán và hội thẩm nhân dân giải
quyết các vụ án hình sự trên cơ sở của pháp luật, phù hợp với ý thức pháp luật xã hội
chủ nghĩa, trong điều kiện loại trừ mọi sự tác động bên ngoài lên họ"; Điều 88 Hiến
pháp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên cũng quy định: "trong khi thi hành
chức quyền của mình, các thẩm phấn đều độc lập và chỉ phục tùng pháp luật"... Tuy các
quy định trên có khác nhau về hình thức nhưng nội dung cơ bản là giống nhau, đều đặc
biệt nhấn mạnh tính độc lập của thẩm phán trong xét xử.
1
Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Cơ sở pháp lý : Nguyên tắc này có một lịch sử hình thành và phát triển lâu dài. Nó
được nhắc đến lần đầu từ Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức tòa án và các ngạch tư pháp, tiếp
đó là Điều 69 hiến pháp 1946, Điều 100 Hiến pháp 1959 và Điều 4 Luật tổ chức tòa án
nhân dân 1960, Luật tổ chức tòa án nhân dân 1981.Văn bản hiện hành là Điều 130 Hiến
- Độc lập với sự chỉ đạo của của cấp ủy Đảng: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghiã Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh dạo của Đảng cộng sản. Nhà nước công khai
nguyên tắc Đảng lãnh đạo tại Điều 4 Hiến pháp 1992 và được quy định cụ thể trong các
nghị quyết của Đảng như: nghị quyết 08/ NQ-TW,..Ngoài ra giữa tổ chức Đảng và Thẩm
phán còn có mối quan hệ khác ngoài mối quan hệ giữa Đảng viên và tổ chức Đảng qua
thủ tục thẩm phán. Theo quy định hiện hành thì cùng với việc lấy phiếu tín nhiệm của
cán bộ công chức trong cơ quan người được đề nghị còn phải lấy ý kiến của cấp ủy
Đảng. Chính vì những lý do này mà yêu cầu được đặt ra là Thẩm phán và Hội thẩm phải
nhận thức đúng đắn sự lãnh dạo của Đảng đối với hoạt động tư pháp để đảm bảo sự độc
lập trong xét xử.
- Độc lập với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Hồ sơ vụ án hình sự là tài liệu đầu
tiên để Thẩm phán và Hội thẩm tiến hành xem xét, đánh giá việc có hành vi phạm tội
hay không, phạm tội gì và được quy định trong hình phạt nào. Việc xét xử của Tòa án
dựa trên những thong tin cần thiết, đáng tin cậy đó là chứng cứ vụ án. Bản án, quyết
định của Tòa án dựa trên cơ sở phân tích đánh giá thông tin đã được cơ quan điều tra thu
thập. Chính vì vậy, các thông tin ban đầu (nhất là kết luận điều tra và cáo trạng truy tố)
có ảnh hưởng nhất định đến nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, Độc lập với tài liệu
trong hồ sơ vụ án là việc Thẩm phán và hội thẩm trên cơ sở đánh giá tính chính xác của
các thông tin, kiểm tra lại tính xác thực, đúng đắn của quyết định truy tố, từ đó đưa ra
quan điểm chứng minh tội phạm của Hội đồng xét xử, các tình tiết thu thập được phải
phù hợp với hiện thực khách quan.
- Độc lập với yêu cầu của người tham gia tố tụng, với dư luận và với cơ quan báo
chí: Phán quyết của Tòa án bao giờ cũng làm xuất hiện những nhóm mâu thuẫn về lợi
ích, đó là những mâu thuẫn về lợi ích giữa bị cáo và người bị hại, giữa nguyên đơn dân
sự và bị đơn dân sự, giữa nhà nước và người phạm tội. Ai cũng có nhu cầu kết quả xét
xử đưa lại lợi ích tối ưu cho họ. Sau phán quyết của Tòa án sẽ có rất nhiều bình luận từ
quần chúng nhân dân, từ cơ quan báo chí rằng tòa xét xử như vậy đúng hay không, có
công bằng hay không, nặng hay nhẹ. Đặc biệt là các vụ án bị cấp trên xử hủy, những vụ
án xét xử lưu động và các vụ án lớn được dư luận quan tâm. Những vấn đề đó đều tác
động mạnh mẽ đến tâm lý của Thẩm phán và Hội thẩm khi thực hiện nhiệm vụ xét xử.
thiết khác cho phiên tòa.
• Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cần nắm chắc các quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự từ thủ tục bắt đầu phiên tòa cho đến kết thúc phiên tòa, trong đó phần xét hỏi, tranh
luận và nghị án là quan trọng nhất.
Tuân theo các văn bản pháp luật khác có liên quan như: Pháp luật dân sự và các
văn bản luật chuyên ngành khác,..
4
Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam
c. Mối quan hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động
xét xử của thẩm phán và hội thẩm.
Độc lập là biểu hiện của tuân theo pháp luật. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc là
một phần nội dung của nguyên tắc. Thẩm phán và hội thẩm độc lập với nhau và độc lập
với các yếu tố khác. Nếu Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, không chụi bất kì sự
tác động nào thì phán quyết của Hội đồng xét xử mới có tính khách quan, vô tư, quyết
định của Hội đồng xét xử mới đảm bảo đúng pháp luật.→Độc lập là điều kiện cần thiết
để Thẩm phán và Hội thẩm tuân theo pháp luật.
Tuân theo pháp luật là cơ sở để thể hiện tính độc lập trong xét xử. Xét ở khía cạnh
thuần túy của tính độc lập, để có thể tự mình đưa ra phán quyết, Thẩm phán và hội thẩm
phải có kiến thức pháp luật và phải chấp hành quy định của pháp luật. Khi nắm chắc
kiến thức pháp luật, Thẩm phán và Hội thẩm có điều kiện để thể hiện sự độc lập trong
phán quyết của mình. Xét ở khía cạnh khác thì tuân theo pháp luật là đã loại trừ các tác
động khác đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm, bởi vậy họ mới có được sự
độc lập.
Độc lập trong việc thống nhất với chỉ tuân theo pháp luật: Độc lập nhưng phải dựa
trên những quy định của pháp luật. Mọi kết luận của bản án, quyết định của Hội đồng
xét xử phải phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án. Bản án phải xác định đúng
người, đúng tội và đúng với các thiệt hại do hành vi phạm tội đã gây ra. Mỗi nhận định
của bản án đều phải dựa trên những chứng cứ và tình tiết xác thực được thẩm tra tại
phiên tòa có lập luận chặt chẽ, không kết luận dựa trân ý nghĩ chủ quan, cảm tính cá
nhân của mỗi thành viên Hội đỗng xét xử. Yếu tố độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
tham gia xét xử của nhân dân thông qua những người đại diện cho họ, đó là Hội thẩm.
Nguyên tắc gián tiếp thể hiện bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước do dân
làm chủ, nhân dân tham gia giám sát các hoạt động của nhà nước, trong đó có hoạt động
xét xử.
Ý nghĩa pháp lý: Nguyên tắc là cơ sở pháp lý để Thẩm phán và Hội thẩm tiến
hành hoạt động xét xử khách quan, đúng pháp luật. Đây cũng là cơ sở đảm bảo Hiến
pháp và pháp luật. Nói cách khác, pháp luật chỉ có ý nghĩa và có tác dụng khi nguyên tắc
“độc lập xét cử” được tuân thủ một cách triệt để. Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi
xét xử vừa là quyền, đồng thời cũng là nghĩa vụ của Thẩm phán và Hội thẩm.
Ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật bảo đảm việc xét xử khách quan, đúng người, đúng
6