1
Câu hỏi 1: Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh ?
1. Phần đặt vấn đề:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, ra đời do yêu cầu khách quan,
đáp ứng những nhu cầu bức thiết do cách mạng Việt Nam đặt ra từ đầu thế kỷ XX đến nay. Vậy tư tưởng
Hồ Chí Minh là gì ? Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh ? Làm rõ những câu hỏi trên không
những giúp chúng ta biết được thế nào là tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như nguồn gốc hình thành mà còn
cho ta hiểu được nguồn gốc hình thành nào là quan trọng nhất.
2. Phần nội dung:
2.1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh:
Tại Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng Khóa 8 Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng
năm 2001 ghi rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn
đề cơ bản cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin
vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại…”.
2.2. Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh:
Từ khái niệm trên cho thấy tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ các nguồn gốc sau đây:
• Thứ nhất, giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc VN thể hiện qua các giá trị căn bản sau đây:
- Chủ nghĩa yêu nước là ý chí bất khuất, tự lực tự cường để dựng nước và giữ nước được hun đúc
qua hàng ngàn năm. Dân tộc và nhà nước ta hình thành từ rất sớm và không phải chỉ duy nhất là từ sự
phân hóa giai cấp sâu sắc, mà căn bản là do nhu cầu của cuộc đấu tranh chống lại xâm lăng và yêu cầu
sản xuất trước môi trường thiên nhiên khắc nghiệt mà tổ chức lại thành dân tộc, nhà nước. Trãi qua hàng
ngàn năm hun đúc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là giá trị tinh thần cao nhất của dân tộc ta, nhưng có đặc
điểm sâu sắc là nó mang trong mình một giá trị kép: Yêu nước - Thương dân, Thương dân - Yêu nước.
Vấn đề dân tộc, vì thế, gắn liền với vấn đề con người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống con người
Việt Nam.
- Tinh thần cộng đồng, đoàn kết, ý thức dân chủ xuất hiện và được nuôi dưỡng trong quá trình dựng
nước, giữ nước và trở thành giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Những giá trị này được biểu hiện
trong kinh tế như trong chế độ ruộng đất công điền; về xã hội là vấn đề dân chủ và tự chủ trong tổ chức
làng xã, xây dựng hương ước; trong văn hóa là sự tôn vinh các giá trị anh hùng, thờ phụng những người
có công dựng nước, giữ nước, xây dựng làng xã, nghề nghiệp và trọng người hiền tài. Những giá trị tốt
Những tư tưởng căn bản của Phật giáo đã ảnh hưởng tích cực tới văn hóa Việt Nam là tư tưởng vị
tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân; nếp sống có đạo đức, trong sạch
giản dị, chăm lo làm điều thiện… Vì vậy, Phật giáo đã ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành và phát triển
của văn hóa, tư tưởng và lối sống Việt Nam.
Nho giáo Trung Hoa và Việt Nam do nhu cầu của sự thống trị nhưng trong quá trình đó đã được
Việt hóa thành Nho giáo Việt Nam, thể hiện những giá trị về lòng yêu nước, thương dân, nhân văn, dung
hòa giữa mỗi con người với cộng đồng trên lợi ích cá nhân, gắn lợi ích của cá nhân với lợi ích của dân
tộc. Nho giáo Việt Nam lấy yêu nước - nhân văn Việt Nam là đạo lý làm người. Trong điều kiện lịch sử
của dân tộc, Nho giáo Việt Nam đã đáp ứng yêu cầu của dân tộc trong dựng nước, giữ nước, xây dựng đất
nước cũng như trong xây dựng gia đình và con người.
Nho giáo Trung Hoa đặt mối liên hệ vua - tôi ở vị trí cao nhất. Nho giáo Việt Nam cũng nhấn
mạnh vấn đề này nhưng đòi hỏi nhà vua trước hết phải trung thành với Tổ quốc, nhân hậu với nhân dân,
cũng phải lấy tu thân làm gốc. Ca ngợi, ủng hộ những vị vua hiền lành biết quan tâm đến dân chúng và
đồng thời gạt bỏ những ông vua bất lực nhằm mục đích lập lại những triều đại mới quan tâm tới đất nước
và nhân dân là nội dung tích cực của Nho giáo Việt Nam.
Bên cạnh những yếu tố tích cực của Nho giáo như triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo
giúp đời; tư tưởng về một xã hội bình trị, an ninh hòa mục, thế giới đại đồng; triết lý nhân sinh tu thân,
dưỡng tính… cũng được việt hóa thành các giá trị văn hóa Việt Nam, phù hợp với các giá trị gốc của dân
tộc.
Những tác động tích cực của Phật giáo và Nho giáo Việt Nam đã tác động tới Hồ Chí Minh ngay
từ khi còn nhỏ ở trong môi trường văn hóa Việt của làng xã Việt Nam và dưới sự dạy bảo của cụ Phó
bảng Nguyễn Sinh Sắc.
Sau này, trở thành nhà cộng sản, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục tìm hiểu văn hóa phương Đông, đặc biệt
là những trào lưu tư tưởng mới ở Ấn Độ và Trung Hoa mà điển hình là chủ nghĩa Găngđi và chủ nghĩa
nhân dân Tôn Trung Sơn. Hồ Chí Minh đã tìm thấy trong chủ nghĩa nhân dân của Tôn Trung Sơn “những
điều thích hợp cho điều kiện nước ta” – đó là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc mà
sau này, người đã đưa vào đó nội dung xã hội chủ nghĩa thành tiêu chí Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
Khi học ở Huế, những tư tưởng tiến bộ của cách mạng Pháp “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” đã ảnh
hưởng lớn đến Hồ Chí Minh và là một trong những yếu tố tác động mạnh đến hướng đi tìm đường cứu
nước của người. Ba mươi năm sống, học tập, lao động, học tập làm trong môi trường văn hóa phương
đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin một cách tự nhiên. Đến với chủ nghĩa Mác xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn
giải phóng dân tộc và con người Việt Nam, từ nhu cầu chung của nhân loại về quyền dân tộc, quyền con
người, Hồ Chí Minh đã vận dụng lập trường quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin để
nghiên cứu thực tiễn và tìm ra con đường cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Chính vì vậy, chủ
nghĩa Mác-Lênin là cơ sở làm cho Hồ Chí Minh vượt lên trước những nhà yêu nước đương thời, khắc
phục được sự khủng khoảng về đường lối cứu nước của dân tộc Việt Nam.
Như vậy, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc được nâng lên tầm thế giới với việc thu nhận
tinh hoa của văn hóa nhân loại và chủ nghĩa Mác-Lênin đã hình thành, tạo ra bước phát triển mới phù hợp
với tiến hóa của nhân loại trong thời đại mới của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Có thể nói về văn hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa các giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc và
nhân loại trên một trình độ mới về chất phù hợp với thời đại mới.
• Thứ tư, trí tuệ và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh:
Tại sao có nhiều người đi tìm đường cứu nước nhưng chỉ có Hồ Chí Minh mới nhận thức được con
đường mới và phù hợp với yêu cầu của dân tộc và xu thế phát triển của thời đại?
Trước hết phải nói tới những phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh mà nổi bật là ý chí quyết tâm của
một người yêu nước, một chiến sĩ cộng sản với tấm lòng yêu nước, thương dân và đồng loại khổ đau, sẵn
sàng hiến dâng cuộc đời cho dân tộc độc lập, cho tự do hạnh phúc của con người Việt Nam.
Đó là tài năng trí tuệ của Hồ Chí Minh mà biểu hiện trước hết ở sự kiên trì học tập tiếp thu vốn tri
thức phong phú của dân tộc và nhân loại; là tư duy độc lập tự chủ trong tiếp thu, phê phán, chọn lọc các
giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại, trí tuệ của thời đại để trên cơ sở đó sáng tạo và phát triển thành
những giá trị tư tưởng mới vì mục tiêu độc lập dân tộc và giải phóng triệt để con người.
Đó là năng lực hoạt động thực tiễn phong phú của Hồ Chí Minh đã giúp Người phân tích và rút ra
được nhiều kết luận chính xác từ thực tiễn lịch sử của phong trào cách mạng thế giới và trong nước.
3. Phần kết luận:
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn và được hình thành từ nhiều nguồn gốc như các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác-Lênin
thông qua hoạt động trí tuệ và thực tiễn của Người. Tuy nhiên, trong các nguồn gốc trên thì chủ nghĩa
Mác - Lênin được xem là một nguồn gốc lý luận, là cơ sở chủ yếu và quan trọng nhất để hình thành và
phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, quyết định bước ngoặt cách mạng và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí
Minh.
Thúc Kháng); Đông Kinh Nghĩa Thục (Lương Văn Can, Nguyễn Huyền)… đều lạc hậu, lỗi thời do đó
cuối cùng cũng đều bị thất bại. Việt Nam rơi vào tình trạng bế tắc đường lối cứu nước. Trước thực trạng
như vậy, cần phải có con đường cứu nước giải quyết triệt để cả hai con đường cứu nước vốn đã lỗi thời,
lạc hậu nói trên.
- Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”:
Hồ Chí Minh sớm nhận thức được thất bại của phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ
XX ở nước ta là do chưa có đường lối và phương pháp đấu tranh đúng đắn khi chủ nghĩa đế quốc đã
thành một hệ thống thế giới; vừa tranh giành nhau trong việc xâu xé thuộc địa, vừa liên kết với nhau trong
việc đàn áp phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các nước thuộc địa. Các thuộc địa chẳng
những cung cấp nguyên vật liệu cho các nhà máy mà còn cung cấp binh lính cho quân đội đế quốc nhằm
đàn áp các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở chính quốc. Trong cuộc đấu tranh tự giải phóng
dân, giai cấp vô sản ở chính quốc và nhân dân các dân tộc thuộc địa có chung 1 kẻ thù, vì vậy phải phối
hợp hành động và cổ vũ lẫn nhau.
Từ đầu những năm 20 của thế kỉ XX, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: Chủ nghĩa đế quốc là một con
đỉa 2 vòi, 1 vòi bám vào chính quốc, 1 vòi bám vào thuộc địa. Muốn đánh bại chủ nghĩa đế quốc phải
đồng thời cắt cả 2 cái vòi của nó đi, tức là phải kết hợp cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng
giải phóng dân tộc ở thuộc địa; phỉa xem cách mạng ở thuộc địa như là “một trong những cải cách của
cách mạng vô sản, tức là phải đi theo đường lối Mác-Lênin. Nguyễn Ái Quốc đã sớm khẳng định: Muốn
giải phóng dân tộc thành công” Trước hết phải có Đảng cách mệnh Đảng có vững cách mệnh mới thành
công Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều ,những
chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Mác-Lênin”.
Như vậy Nguyễn Ái Quốc đã khằng định: Muốn giải phóng dân tộc thành công muốn thằng lợi phải đặt
5
dưới sự lãnh đạo của Đảng gia cấp công nhân, Đảng đó phải được xấy dựng theo nguyên tắc, Đảng kiểu
mới của Lênin, được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác-Lênin. Các lãnh tụ yêu nước tiền bối cũng đã bước
đầu nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của chính đảng cách mạng. Phan Chu Trinh đã nói: ngày
nay, muốn độc lập, tự do, phải có đoàn thể nhưng ông chỉ mới nói mà chưa kịp làm. Phan Bội Châu đã tổ
chức ra Đảng Việt Nam Quang phục hội, sau dự định cải tổ nó thành Việt Nam Quốc dân Đảng theo kiểu
Tôn Trung Sơn, nhưng ông chưa kịp thục hiện thì đã bị bắt, bị đưa về giam lỏng tại Huế, Dù đã thành lập
mới có thể giải phóng hoàn toàn dân tộc, XH và con người.
3. Phần kết luận:
- Con đường cách mạng theo chọn lựa của Bác “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có
con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” đã mở ra bước ngoặc lớn cho Đảng ta, cho cả dân tộc
Việt Nam xây dựng thành công trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và trong xây dựng CNXH
hiện nay.
- Liên hệ thực tiễn:
Qua câu nói của Bác, Đảng ra đã vận dụng vào giai đoạn hiện nay để tập trung giải quyết vấn đề
sau: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trong thời kì đổi mới là Đảng ra xác định đổi mới phải giữ vững
và kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; thực hiện đổi mới, Đảng ta khẳng định: đổi mới
không phải là mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đi vào đổi mới, từ thực tiễn CM với những
thành công và khuyết điểm sai lầm, Đảng ta rút ra những bài học lớn, trong đó, bài học đầu tiên là “Nắm
vững ngon cờ độc lập dân tộc và CNXH, ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch HCM đã trao lại cho thế hệ
hôm nay và các thế hệ mai sau”.
Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của CMVN. Bởi vậy thực
hiên đổi mới, Đảng ta xác định: cán bộ, đảng viên là tư tưởng phải thông suốt, bản lĩnh chính trị phải
6
vững vàng, kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đây là phẩm chất cán bộ đảng viên.
Kiên trì con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH đòi hỏi con đường đó phải được cụ thể hóa ở thời
kỳ đổi mới làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên nhận thức và đi theo. Đại hội VI của Đảng đề ra đường lối
đổi mới toàn diện. Đại hội VII thông qua Cương lĩnh XD đất nước trong thờig kì quá độ lên XHCN,
chiến lược ổn định và phá triển kinh tế XII đến năm 2000, đại hội VIII và Đại hội IX tiếp tục hoàn thiện
phát triển đường lối đổi mới. Đại hội VII thông qua Cương lĩnh XD đất nước trong thời kì quá độ lên
XHCN, chiến lược ổn định và phát triển sinh tế XII đến năm 2000. Đại hội VIII và Đại hội IX tiếp tục
hoàn thiện phát triển đường lối đổi mới. Đại hội mới khẳng định: những bài học đổi mới do các đại hội
VI, VII, VIII của Đảng nêu lên đến nay vẫn còn có giá trị lớn.
Đổi mới là XD thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc VNXHCN. Thực hiện độc lập
dân tộc gắn liền với CNXH trong đổi mới như Đảng ta đã khẳng định là thực hiện sự kết hợp giữa hai
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
* Có thể liên hệ thêm bản thân đảng viên:
ở sức cảm hóa, thuyết phục nhân dân, với tinh thần hiểu dân, học dân, hỏi dân, tin dân, thật sự là người
đầy tớ trung thành của nhân dân
- Theo Hồ Chí Minh, muốn như vậy, một trong những biện pháp cơ bản là Đảng phải thường
xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng, và đây là công việc thường xuyên; Đảng cầm quyền, nhưng nhân dân
là chủ. Vì vậy, chỉnh đốn Đảng một mặt, khẳng định sức mạnh chính trị to lớn của Đảng trong cải tạo cái
cũ, xây dựng cái mới đối với các lĩnh vực đời sống xã hội; mặt khác, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các
biểu hiện thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên lợi dụng cương vị của Đảng vi phạm
quyền làm chủ của nhân dân, đi ngược lại lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, dẫn tới lạm quyền, lộng
quyền, đặc quyền, đặc lợi.
- Hồ Chí Minh cho rằng, Đảng ta vừa là đạo đức, vừa là văn minh, là người khởi xướng và lãnh
đạo mọi sự đổi thay của đất nước qua các giai đoạn lịch sử của cách mạng. Ngay từ những ngày đầu lãnh
đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Muốn làm cách mạng giành chính quyền, cần có nhiều
yếu tố, song nhân tố quan trọng quyết định nhất là phải có Đảng chân chính của giai cấp công nhân và của
nhân dân lao động. Đặc biệt, trước mỗi bước ngoặt của cách mạng, Người nhấn mạnh thêm, để hoàn
thành sứ mệnh lịch sử của mình, Đảng phải coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đó là việc
trước tiên, việc chính, việc cần kíp, việc phải làm ngay.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng.
Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó,
xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là
một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính. Theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên trong bất kỳ môi
trường xã hội nào luôn chịu sự tác động của những cái hay, cái dở, cái tốt, cái xấu. Để loại bỏ cái xấu, cái
dở cần phải rèn luyện thường xuyên, trong đó biện pháp quan trọng là đổi mới, xây dựng, chỉnh đốn
Đảng. Chỉnh đốn Đảng là để cán bộ, đảng viên khi gặp khó khăn thì củng cố quan điểm, lập trường, tư
8
tưởng, bình tĩnh sáng suốt, không bi quan, không chủ quan, tự mãn. Chỉnh đốn, xây dựng Đảng là để khắc
phục những thiếu sót, khuyết điểm, làm cho Đảng mạnh lên
- Nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tư tưởng HCM được thể hiện rất phong phú, đa dạng.
Người nêu rõ phương châm từng bước, có trọng tâm, có kế hoạch rõ ràng, chu đáo. Chỉnh đốn Đảng, xây
dựng Đảng phải làm toàn diện cả chính trị, tư tưởng và tổ chức; phải được tiến hành ở tất cả các cấp.
Trong đó đặc biệt coi trọng làm tốt ở chi bộ, vì chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ
cơ sở nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
mỗi cán bộ, đảng viên phải trung thành, vận dụng sáng tạo lý luận của Đảng vào từng lĩnh vực của đời
sống xã hội. Tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng trên nền của sự giác ngộ chính trị cao và những
nguyên tắc của công tác xây dựng Đảng, ra sức tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và đấu tranh chống
lại những quan điểm sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ
chế độ xã hội chủ nghĩa; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù chống phá sự nghiệp cách mạng
nước ta, phá hoại khối đoàn kết trong Đảng, trong toàn xã hội.
Thứ hai, ra sức học tập, rèn luyện đạo đức, lối sống cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Trước hết phải nâng cao kiến thức mọi mặt cho cán bộ, đảng viên, trong đó tập trung bồi dưỡng lý luận
chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, năng lực tư duy, hoạt động thực tiễn và chuyên môn
nghiệp vụ, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ
nghĩa cá nhân. Khắc phục triệt để tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí, phai nhạt lý t-
ưởng, thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống Đảng ta xác định việc học tập, tu
dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống là chế độ bắt buộc, là tiêu chuẩn để phân loại, đánh giá chất lượng tổ
chức đảng và đảng viên.
Thứ ba, củng cố tổ chức, chấp hành nghiêm các nguyên tắc, chế độ sinh hoạt của Đảng. Đây là cơ
sở để củng cố tổ chức, bảo đảm đoàn kết thống nhất, kỷ luật trong Đảng. Vì vậy, phải quán triệt, chấp
hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, chế độ tự phê bình và
9
phê bình trong toàn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII; Nghị quyết Đại hội
Đảng lần IX, X, XI và Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI, để tiếp tục khơi dậy và phát huy tính tích cực,
dân chủ, trách nhiệm của đảng viên. Kiên quyết chống quan điểm, tư tưởng phủ nhận, xuyên tạc, bóp méo
nguyên tắc, chế độ xây dựng Đảng, hòng làm cho Đảng suy yếu về tổ chức, dẫn đến biến chất Đảng.
* Có thể liên hệ thêm tại đơn vị
3. Phần kết luận:
Công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt ở tất cả các cấp, các ngành. Trong sự
nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, sự suy yếu, thoái hoá, biến chất của tổ chức Đảng, làm vai trò cầm
quyền của Đảng bị suy giảm, có thể dẫn đến mất ổn định chính trị- xã hội là một nguy cơ lớn. Chăm lo
xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện tối cần thiết và là điều kiện tiên quyết để
giữ vững ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế, văn hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
đời sống tinh thần của con người và dân tộc. Lý tưởng là điểm hội tụ của những tư tưởng lớn. Đó là lý
tưởng vì nước quên mình; vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng; độc lập, tự cường, tự chủ; không có gì
quý hơn độc lập tự do; độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tình cảm lớn là yêu nước, thương dân; yêu
chân-thiện-mỹ; yêu tính trung thực, chân thành, ghét giả dối, lừa lọc. Tư tưởng đúng và tình cảm đẹp có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau: con đường đi tới tư tưởng đúng vừa bằng lý trí, vừa bằng tình cảm.
Những lý tưởng và tình cảm cách mạng khi đã đi sâu vào tâm lý quốc dân sẽ biến thành một sức mạnh vật
chất, tạo động lực cho cách mạng.
Hai là, nâng cao dân trí.
Dân trí là sự hiểu biết của người dân về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, chuyên môn, khoa học,
kỹ thuật, thực tiễn… Nhưng con đường đi tới nâng cao dân trí phải bắt đầu từ chỗ biết chữ, chống giặc
dốt, từng bước đi tới hiểu biết. Mục đích cuối cùng là vì độc lập độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Muốn đạt tới những nhận thức đó phải thông qua con đường văn hóa, trước hết là văn hóa giáo dục.
Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất và phong cách tốt đẹp, lành mạnh để không ngừng hoàn thiện
bản thân. Văn hóa sẽ góp phần bồi dưỡng phẩm chất đạo đức để sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa,
xa xỉ, chống “giặc nội xâm”, hướng con người vươn tới chân-thiện-mỹ. Văn hóa cũng có vai trò bồi
dưỡng phẩm chất chính trị, phẩm chất chuyên môn, tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp cách mạng.
Văn hóa soi đường cho quốc dân đi, lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ. Tư
tưởng Mác-Lênin trong cấu trúc văn hóa đưa con người từ chỗ bị tha hóa đến chỗ phát triển tự do, toàn
diện.
Văn hóa-mà con người là trung tâm-tạo ra sức mạnh to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ
nước. Đó chính là sự thắng lợi của “văn minh đối với bạo tàn”.
Các yếu tố văn hóa như khoa học, giáo dục, đạo đức, pháp luật… giúp dân tộc vượt qua yếu hèn,
thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
11
Văn hóa là chất keo tạo sự liên kết, tăng cuwofng mối lương tác, hiểu biết giữa các dân tộc, điều
tiết các mối quan hệ quốc tế.
2.3. Văn hóa là mục tiêu của cách mạng?
Triết lý phát triển xã hội Việt Nam của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc, dân chủ, chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa xã hội trong quan niệm của HCM vừa là mục tiêu phát triển, vừa là phương thức thực hiện sự
phát triển đó, bao gồm kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa. Đi tới chủ nghĩa xã hội theo quan điểm HCM là
công"
Công tác dân vận vừa là tiền đề, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên,
để làm tốt công tác này, đòi hỏi chúng ta phải hiểu thế nào là dân vận và công tác dân vận cùng những
giải pháp hữu hiệu trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
2. Phần nội dung:
2.1. Quan điểm của Đảng ta về dân vận và công tác dân vận:
Dân vận là tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục mọi người dân thực hiện các chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Dân vận còn có nghĩa là làm gương
trước dân. Nói theo nghĩa thông thường thì, dân vận là công tác dân vận của các tổ chức dân vận của
Đảng, chính quyền, đoàn thể trong hệ thống chính trị nói chung và của cả hệ thống xã hội nói riêng. Nói
tóm lại, mục tiêu cao nhất của dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là vì dân. Do đó, mọi hành động
của chúng ta phải vì dân và mang lại hiệu quả thiết thực cho dân.
Công tác dân vận được xem là công việc (hay còn gọi là nhiệm vụ chính trị) của các tổ chức đảng,
Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội cần phải làm tròn trước Đảng và nhân dân. Ví dụ như, công
tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đạo đức, tác phong, lối sống văn hóa, văn minh theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VI cũng chỉ rõ: “Các cấp ủy
từ Trung ương đến cơ sở phải nắm vững và làm đúng chức năng lãnh đạo của mình bằng phương pháp
dân chủ, kiên quyết khắc phục tình trạng bao biện công việc của Nhà nước, của các đoàn thể quần chúng”
.
Công tác dân vận trong thời kỳ đổi mới là công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục
mọi người dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đáp
ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2. Nội dung và yêu cầu công tác dân vận trong thời kỳ mới:
Những năm qua, công tác dân vận của Đảng ta đã thu được những thành tựu đáng kể. Đó là mức
sống của đại bộ phận nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt; bộ mặt của đất nước được đổi mới khá
toàn diện ; mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân được củng cố và tăng cường; nhiều kênh truyền thông
đại chúng được tăng cường để theo dõi, nắm bắt tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp
nhân dân, đề xuất những kiến nghị kịp thời với Đảng, Nhà nước về các chủ trương, chính sách, giải quyết
các quyền lợi chính đáng của nhân dân. Cơ cấu, tổ chức và hoạt động của Ban Dân vận các cấp được
củng cố và kiện toàn. Các cơ quan, tổ chức dân vận trong hệ thống chính trị đã có sự phối hợp nhịp nhàng
người dân. Từ sự biến đổi về kinh tế dẫn đến tình trạng là, đông đảo người nông dân từ nông thôn ra
thành thị làm ăn sinh sống không thuộc tổ chức nào quản lý, công tác dân vận ở đây gần như bị bỏ trống.
Vậy, ai là người quản lý họ? Những người dân xa quê, đi lang thang cơ nhỡ không nơi nương tựa và
không có chỗ để sinh hoạt, thì các tổ chức dân vận phải làm gì để mỗi người dân thực hiện đúng vai trò
của người công dân? Họ là người dân nhưng “không được biết, không được bàn, không được làm, không
được kiểm tra”, thậm chí họ bị công an kiểm tra do không rõ nguồn gốc xuất thân, hoặc tham gia các tệ
nạn xã hội (cờ bạc, ma túy, trộm cắp ) thì xã hội phải trả giá như thế nào về việc này? Do đó, phải có
một tấm lòng thật sự chân thành với dân mới tạo được niềm tin vững chãi trong dân. Tấm lòng “vì nước
quên thân, vì dân phục vụ” của Hồ Chí Minh là tấm gương sáng cho mọi dân tộc, giai cấp, tầng lớp nhân
dân (công nhân, nông dân, trí thức, phụ nữ, thanh niên ) noi theo. Cũng từ niềm tin vững chắc của nhân
dân đối với Người, và tấm lòng cao cả của Người đối với nhân dân mà không có một trở ngại, khó khăn
nào không vượt qua.
Vì vậy, cần phải đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách công tác dân vận ở vùng sâu,
vùng xa, vùng dân tộc ít người, vùng công nghiệp (nơi không có các tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Phụ
nữ, Công đoàn ) có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị vững vàng, có kiến thức hiểu
biết tâm lý dân vận sâu rộng, biết cách làm việc có hiệu quả và được nhân dân tin yêu. Đồng thời, nâng
cao năng lực và sự tham gia của người dân vào việc thực hiện và kiểm tra việc thực hiện đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua công tác dân vận.
2.3. Một số giải pháp thực hiện về công tác dân vận:
Một là, đổi mới công tác dân vận của Đảng theo hướng công bằng giữa các giai tầng xã hội, dân
tộc, tôn giáo, giới, trong hệ thống chính trị và trong toàn xã hội. Thực tế cho thấy, trong hệ thống chính
trị 3 khối, 4 cấp, cán bộ nam có thể làm bí thư, chủ tịch, cán bộ nữ có thể làm phó bí thư, phó chủ tịch, và
ngược lại, cán bộ nữ có thể làm bí thư, chủ tịch, cán bộ nam có thể làm phó bí thư, phó chủ tịch đều có
thể chấp nhận được. Nếu một giới nam hoặc nữ độc chiếm lãnh đạo là rất bất công cần được xóa bỏ.
Cũng như vậy, việc bảo đảm công bằng giữa các giai tầng xã hội, dân tộc, tôn giáo, cũng cần phải được
tính toán một cách hợp lý.
Hai là, đổi mới công tác dân vận phải phù hợp với vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, nhất là đặc
thù của mỗi giới. Mỗi một đối tượng khác nhau đòi hỏi phương thức đổi mới dân vận cũng phải khác
nhau. Thí dụ, người nông dân bị mất ruộng đất trong giải phóng đền bù, không còn niềm tin vào chủ
trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, thì cần phải đổi mới công tác dân vận như thế nào để lấy lại
phối kết hợp chặt chẽ đồng bộ, việc xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình “Dân vận khéo”; việc
xây dựng đội ngũ cốt cán chưa được chú trọng…
Nhìn chung công tác dân vận trên địa bàn huyện trong thời gian qua cơ bản hoàn thành tốt nhiệm
vụ chính trị được giao. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc kiểm tra, sơ kết,
tổng kết các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; không ngừng phát huy tính dân chủ, đổi mới nội dung phương
thức hoạt động, xây dựng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế xã
hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân.
Để thực hiện tốt công tác dân vận trong thời gian tới, cần phải thực hiện một số nhiệm vụ như
sau:
Một là: Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về
công tác dân vận.
Các cấp ủy Đảng tùy theo theo tình hình thực tế nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ xây dựng chương
trình hành động, kế hoạch công tác dân vận hằng năm để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Thường xuyên kiểm
tra, giám sát và sơ kết, tổng kết việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước về công tác dân vận. Trong sinh hoạt cần kiểm điểm, đánh giá công tác dân vận và bàn những chủ
trương, biện pháp để giải quyết tốt những vấn đề bức xúc trong nhân dân. Định kỳ cấp ủy Đảng tổ chức
giao ban khối dân vận để chỉ đạo thực hiện công tác vận động quần chúng, tháo gỡ những khó khăn
vướng mắc, định hướng chỉ đạo hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể và các hội quần chúng. Tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân. Chỉ đạo các cấp các ngành chú trọng việc xây dựng nhân rộng mô
hình, điển hình “dân vận khéo”, lực lượng cách mạng, phát triển đội ngũ cốt cán, nòng cốt, trung kiên
trong các tầng lớp nhân dân để thực hiện chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước.
Hai là: Tăng cường công tác dân vận chính quyền, cơ quan Nhà nước, lức lượng vũ trang.
Các cấp chính quyền cơ quan Nhà nước, lực lượng vũ trang tiếp tục chỉ đạo làm tốt công tác dân
vận, tiếp tục đôn đốc thực hiện chỉ thị 01/CT-UBND của UBND huyện về quản lý bảo vệ rừng, phải
thường xuyên xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang thực sự “Trung
thành, sáng tạo, tận tụy, gương mẫu”; vì nhân dân phục vụ. Tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện, xữ
lý nghiêm những hành vi, thái độ vi phạm dân chủ, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tăng cường đi cơ sở
để sâu sát với nhân dân, kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân để có chủ trương đúng đắn
hợp lòng dân, gắn chặt giữa xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Thực
hiện tốt quy chế phối hợp giữa các tổ chức chính trị xã hội với chính quyền các cấp để làm tốt công tác
Hệ thống dân vận tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động trong tình hình mới, góp phần thực
hiện đồng bộ các biện pháp suy giảm kinh tế, chủ động phòng ngừa lạm phát ổn định kinh tế, tạo thuận
lợi cho sản xuất kinh doanh và tăng cường kinh tế hợp lý, cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu, tạo việc làm xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, củng
cố và tăng cường quốc phòng an ninh. Các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận đoàn thể, Ban Dân vận từ
huyện đến cơ sở chăm lo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở gắn với đấu tranh phòng chống
tội phạm, tham nhũng lãng phí, quan liêu, mất dân chủ, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, xây dựng
Đảng Nhà nước trong sạch vững mạnh, chăm lo xây dựng, bồi dưỡng lực lượng cốt cán của từng tổ chức.
Tích cực phát huy các già làng trưởng bản, lão thành cách mạng, người có uy tín nhất trong cộng đồng
tham gia công tác vận động quần chúng.
2.5. Liên hệ thực tế công tác dân vận tại địa phương, đơn vị:
Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể phải tập trung hướng mạnh về cơ sở, tuyên truyền các chủ
trương, nghị quyết của Đảng chính sách, pháp luật của Nhà nước và thường xuyên tuyên truyền trong
nhân dân những “âm mưu diễn biến hòa bình”; “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch, phát huy tinh
thần yêu nước trong nhân dân. Tiếp tục phát động và tổ chức thực hiện có hiệu quả trong các hội đoàn thể
nhân dân, các phong trào hành động cách mạng, thi đua sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói
giảm nghèo, vươn lên làm giàu, trong gia đình và xã hội. Thực hiện công tác “đền ơn đáp nghĩa”, chăm
sóc người có công, ủng hộ “bát cháo tình thương”, hưởng ứng ngày “Vì người nghèo”, Xây dựng đời
sống văn hóa ở cơ sở và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đẩy lùi các tệ nạn, biểu hiện tiêu cực, đấu tranh
ngăn chặng việc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm phương hại đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
3. Phần kết luận:
Công tác dân vận là chiến lược và đường lối cách mạng của Đảng. Ngày nay, công tác dân vận trở
thành nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, gắn bó mật
16
thiết với chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới hệ thống
chính trị, góp phần tạo động lực cho phát triển đất nước.
17
Câu hỏi 6: Nêu những lý do mà cán bộ, đảng viên phải học tập và làm theo tấm gương đạo
đức HCM?
1. Phần đặt vấn đề:
- Tư tưởng HCM về đạo đức: Xuất phát từ đạo đức cộng sản được thể hiện trong học thuyết Mác -
Lênin và phong trào cộng sản quốc tế. Chủ nghĩa Mác-Lênin và phong trào Cộng sản quốc tế đây là
nguồn gốc mà HCM kế thừa và vận dụng nhiều nhất cả về thế giớ quan và phương pháp luận. Tinh hoa
của người cộng sản được thể hiện trong các phạm trù và các tiêu chuẩn đạo đức được hình thành trên
nền tảng cách mạng vô sản với mục đích là mình vì mọi người, mọi người vì mình.
- Tư tưởng HCM về đạo đức là sự rèn luyện đạo đức không mệt mỏi của HCM. Cả cuộc đời người
là một tấm gương vĩ đại về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Quá trình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của HCM
đã nâng người lên thành bậc đại nhân, đại trí, đại dũng, đại liêm… của thể kỷ XX, khiến kẻ thù cũng phải
kính phục, bị cảm hoá và nhân loại tin tưởng nôi theo.
Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của đạo đức cách mạng. Hồ Chí Minh coi đạo đức cách mạng là
gốc của người cách mạng. Người viết “ cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì
sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo
đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Người cách mạng phải có đạo đức cách
mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Do đó, đạo đức trở thành nhân tố
quyết định sự thành bại của mỗi công việc và là phẩm chất mỗi con người.
Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao cả hai mặt đức và tài ở mỗi con người. Trong mỗi quan hệ giữa
đạo đức với tài năng. Người khẳng định đạo đức là gốc, nó quyết định sức mạnh tinh thần to lớn của con
người, sức mạnh của đoàn kết dân tộc, nhờ đó mà đạo đức góp phần to lớn vào việc quyết định sự thành
18
bại của cách mạng nước ta. Chính vì vậy HCM luôn coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cho con người,
trước hết là cho cán bộ đảng viên.
2.3. Những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức CMVN theo quan niệm của Bác:
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái
gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước: Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì
mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc,
không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng
không lãnh đạo được nhân dân” Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng
lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Quan niệm lấy
đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng
+ Cần tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao
động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ "lao động
là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta".
+ Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của
bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; "không xa xỉ,
không hoang phí, không bừa bãi", không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù.
Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "không xâm phạm một đồng xu,
hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân". Phải "trong sạch, không tham lam". "Không tham địa vị. Không
tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính
đại, không bao giờ hủ hoá".
19
Chính, "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn". Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu
khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình. Đối
với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm
tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc
nhà.
+ Chí công vô tư, người nói: "Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc". “Khi làm bất
cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; phải "lo trước thiên hạ,
vui sau thiên hạ".
- Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng.
Đó là, tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản, mà Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng mệnh đề "Bốn phương
vô sản đều là anh em"; là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước,
mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự
nghiệp cách mạng của cả dân tộc; là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với tất cả những người
tiến bộ trên thế giới vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội, vì những mục tiêu lớn của thời đại là hoà bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là hợp tác và hữu nghị
với tất cả các nước, các dân tộc
2.4. Sự cần thiết phải học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM:
Trong công cuộc đổi mới đất nước, đa số cán bộ, đảng viên và dân ta đã luôn ghi nhớ và thực hiện
lời dạy của HCM về xây dựng con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà yếu tố hàng đầu là nâng cao
đạo đức mới mà Người nêu lên và đã suốt đời không mệt mỏi tự rèn mình; giáo dục, động viên, cán bộ,
đảng viên và nhân dân cùng thực hiện. Đó là: Nói phải đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức; Xây đi
đôi với chống; Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng
20
không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố.
Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong"". Thực vậy, cái ác, cái xấu là kẻ thù của
đạo đức, nhưng nó thường ẩn giấu bên trong con người, thậm chí đội lốt ngay trong cái vỏ đạo đức. Hơn
nữa, nó là "giặc nội xâm", là kẻ thù bên trong nên vừa nguy hiểm, vừa khó phát hiện. Phương thuốc đặc
hiệu nhất để phòng và chống kẻ thù vô hình này là phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức. Bởi vậy, mỗi
người chúng ta phải tự ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức trong suốt cuộc đời; coi tu dưỡng đạo đức là
một việc làm như rửa mặt hằng ngày. Trong cuộc sống hôm nay, đã có nhiều bài học về sự mất mát do
thiếu tu dưỡng đạo đức. Có những cán bộ, đảng viên, trong gian khổ, tranh đấu thì hăng hái, trung thành,
không sợ hy sinh, cực khổ, quyết chiến đấu đến cùng, nghĩa là có công với cách mạng. Nhưng khi có ít
quyền hạn trong tay thì kiêu ngạo, xa xỉ, tham ô, lãng phí, quan liêu, tự biến mình thành những "ông quan
cách mạng". Những người này thậm chí đã kiên trì phấn đấu gần hết cuộc đời, có nhiều công lao, nhưng
cuối đời đã không giữ được tấm lòng trong sáng, nên sự nghiệp đã đổ vỡ, thậm chí đã phải vào vòng lao
lý. Đó chính là những người đã không thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức; sớm bằng lòng, tự mãn
với bản thân và dần dần biến chất. Họ bị chính kẻ thù bên trong quật ngã.
Theo HCM thì mọi người Việt Nam đặc biệt là cán bộ, đảng viên cần phải có những chuẩn mực
đạo đức đó là: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương và giúp đỡ con người, sống có tình có nghĩa, có
tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và có tinh thần quốc tế trong sáng, đoàn kết, hữu nghị giữa
các dân tộc trong điều kiện toàn cầu hóa, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Từ những chuẩn
mực này Bác yêu cầu từng ngành, từng giới có những chuẩn mực cụ thể như: Ngành Y, Công an nhân
dân, ngành giáo dục,….
* Có thể liên hệ thực tiễn bản thân anh /chị đã làm gì để rèn luyện, tu dưỡng đạo đức
3. Phần kết luận:
Quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh nhất là phong cách làm việc
quần chúng, là bổn phận, danh dự của người cán bộ, đảng viên tâm huyết với Đảng, với dân. Đó là giải
pháp hữu hiệu nhất để xây dựng người cán bộ cách mạng “vừa hồng, vừa chuyên” góp phần củng cố niềm
tin của nhân dân đối với Đảng, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi
chính trị, nền nếp làm việc và đạo đức cách mạng của Đảng. Để đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi,
toàn đảng phải ra sức học tập đường lối, tác phong đạo đức HCM. Từ đó trở đi, trong các văn kiện của
Đảng (từ đại hội lần thứ VI đến ĐH lần thứ XI), nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh ngày
càng toàn diện, sâu sắc hơn.
Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh là bước phát triển mới của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong thế kỷ
XX. Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ ngày có đảng đã chứng tỏ, trong khi giải quyết những vấn đề của
cách mạng Việt Nam, HCM đã góp phần phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng,
đặc biệt là lý luận về cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân tiến lên CNXH ở các nước thuộc địa và phụ
thuộc. Do đó, cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là lý luận cách mạng và khoa học,
là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Nói một cách khác, cùng với
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng
và cách mạng Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn. Điều đó phù hợp
với những đóng góp vĩ đại và tấm gương đạo đức trong sáng tuyệt vời của HCM. Việc làm đó đáp ứng
đòi hỏi chính đáng, tình cảm vô cùng thân thiết, gần gũi mà nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế dành
cho Hồ Chí Minh. Thực tế cho thấy tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động của đảng và cách mạng Việt Nam mà nó trở thành giái trị bền vững, đã, đang và sẽ lan tỏa
ngày càng rộng rãi, sâu sắc trên thế giới.
2.2. Hiện nay tư tưởng về đạo đức của HCM được quán triệt nhiều nhất, bởi vì:
- Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo xây dựng Đảng ta trong sạch vững mạnh để
thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Người từng căn dặn, cán bộ,
đảng viên phải tự mình xung phong làm gương mẫu và Bác là tấm gương đạo đức sáng ngời luôn nêu cao
danh hiệu đảng viên, sống, chiến đấu, lao động, học tập phấn đấu cho công cuộc giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội, giải phóng con người.
- Với lòng yêu nước, thương dân vô hạn mà ngay khi ở tuổi đôi mươi Bác đã bất chấp mọi hiểm
nguy, gian nan, khổ cực quyết chí ra nước ngoài tìm con đường cứu nước, cứu dân. Yêu nước, thương
dân, thương nhân loại bị áp bức, bóc lột nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng, rèn luyện đạo
đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tiêu chí “trung với nước, hiếu với dân”. Người coi đó
là nội dung cơ bản nhất của đạo đức cách mạng, yêu cầu cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà
nước từ Chủ tịch nước đến người phục vụ đều là công bộc của dân, phải tận tụy phục vụ nhân dân.
cơ sở giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác - Lênin, về lý tưởng cách mạng
và đạo đức tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị và chống suy
thoái đạo đức. Năm 2012 và các năm tiếp theo, thực hiện nghị quyết hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) về
xây dựng Đảng gắn với làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có nội dung quan trọng là tự phê bình
và phê bình để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, người cán bộ, đảng viên kiểm điểm về tư cách
đảng viên và việc thực hiện các nhiệm vụ được giao. Theo đó, các cấp ủy đảng cần có các biện pháp đưa
đảng viên tham gia các hoạt động cụ thể để phát huy tính tiên phong, gương mẫu; nói đi đôi với làm; tăng
cường sự đối thoại, tiếp xúc giữa cán bộ lãnh đạo ở các cấp với nhân dân để khắc phục tệ quan liêu, tăng
thêm chức năng giám sát cho ngành kiểm tra và vai trò của nhân dân trong việc giám sát hoạt động của
cán bộ, đảng viên, nhất là ngăn ngừa, chống tham nhũng, lãng phí. Từ những đảng viên giữ chức vụ cao
nhất trong Đảng đến từng chi ủy viên, từng đảng viên phải là tấm gương cho quần chúng thì mới củng cố
được niềm tin trong nhân dân. Đảng viên giữ cương vị càng cao càng phải là những tấm gương tiêu biểu
nhất của Đảng về đạo đức, lối sống, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất của Đảng, thật sự cần kiệm liêm
chính chí công vô tư theo lời dạy của Bác Hồ.
3. Phần kết luận:
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh giành thắng lợi có ý nghĩa lịch sử vĩ đại và
tính thời đại sâu sắc, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta. Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam
trong mọi thời đại.