tu tuong ho chi minh on thi tôt nghiep - Pdf 10

Contents

 !"#
$%&!"#'()*+,-&% .&/01
2+131*14567%& 8
9 :);1<)!"#'0=1>?% @,(3<
A4B01()*CD1)E=1;1<)3F()*CD1)14$
G;1<)!"#')/HF %.010=1>?%CD1) 
.&/012+13I%I,-1*-1A14J
K;1<)!"#';431@ L+A1A,I012+
%+CD1)E=1017;1<)3F()*CD1)14$M
8;1<)!"#'(4FNO:*012+%+C
D1) F .(4FN*+01L+9
M;1<)01!"#'AL+A1A,I01 
 .&/012+1 >4&. ,(,;4'P!DCD1)1498
J;1<)!"#'4FN,Q,(,* RB&% .
&/012+1 >4&.R* RB&%14G$
S(T).*:()*3!"# F 
3U4&V*:01L+GS
W!"#'(=."01X-1 .&/012+1
 >4&.'X-1CD1)14KK

Câu 1: Phân tích nguồn gốc tư tưởng, lý luận đối với việc hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh
Định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ
thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng
Việt Nam từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ
nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển của chủ nghĩa Mác-
Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân
tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải
phóng con người”.

thành cơ sở vững chắc để nhân dân ta tiếp thu những giá trị văn hoá từ bên ngoài
làm phong phú văn hoá dân tộc và không ngừng phát triển.
Thứ hai, là tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương
ái, “lá lành đùm là rách” trong hoạn nạn, khó khăn. Điều kiện địa lý và chính trị
đã đưa nhân dân ta tạo dựng truyền thống này ngay từ buổi bình minh của dân
tộc. Các thế hệ Việt Nam đều trao truyền cho nhau:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Ba mươi năm bôn ba hải ngoại, năm 1941 vừa về nước, Hồ Chí Minh đã
nhắc nhở nhân dân ta: “Dân ta phải biết sử ta”. “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc
nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do”. Người căn
dặn: “Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!”.
Thứ ba là truyền thống lạc quan yêu đời của dân tộc ta được kết tinh qua
hàng ngàn năm nhân dân ta vượt qua muôn nguy, ngàn khó, lạc quan tin tưởng
vào tiền đồ dân tộc, tin tưởng vào chính mình. Hồ Chí Minh là điểm kết tinh rực
rỡ của truyền thống lạc quan yêu đời của dân tộc đã tạo cho mình một sức mạnh
phi thường vượt qua mọi khó khăn, thử thách đi đến chiến thắng.
Thứ tư là nhân dân ta có truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh sáng
tạo trong sản xuất và chiến đấu, đồng thời ham học hỏi và không ngừng mở rộng
đón nhận tinh hoa văn hoá nhân loại, trên cơ sở giữ vững bản sắc dân tộc, nhân
dân ta đã biết chọn lọc, tiếp biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp từ bên ngoài và
biến nó thành cái thuần tuý Việt Nam.
- Tinh hoa văn hoá nhân loại
Cùng với tinh hoa văn hóa dân tộc, Hồ Chí Minh còn tiếp thu có chọn lọc,
kế thừa và phê phán tinh hoa văn hóa của nhân loại đó là văn hóa của phương
Đông, phương Tây để làm giàu trí tuệ, hình thành nhân cách, tư tưởng của mình
* Tư tưởng và văn hóa phương Đông:
$
Thứ nhất, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo. Hồ
Chí Minh được tiếp thu Nho giáo từ nhỏ, Người hiểu sâu sắc về Nho giáo.

* Tư tưởng và văn hoá phương Tây:
9
Văn hóa phương Tây là một bộ phận quan trọng của văn hóa nhân loại và
là một trong những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
- Hồ Chí Minh tiếp thu văn hóa phương Tây khi đã có một vốn văn hóa
phương Đông nhất định. Những kiến thức đầu tiên về văn hóa phương Tây của
Hồ Chí Minh đã có từ trước đó. Ngay từ lúc còn đang học ở trường tiểu học
Pháp-Việt và trường Quốc học Huế, Người đã từng biết đến khẩu hiệu “Tự do-
bình đẳng-bác ái” của Đại cách mạng tư sản Pháp 1789. Ba mươi năm liên tục ở
nước ngoài, sống chủ yếu ở Châu Âu, nên Nguyễn ái Quốc cũng chịu ảnh hưởng
rất sâu rộng của nền văn hoá dân chủ và cách mạng của phương Tây.
Hồ Chí Minh thường nói tới ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền
sống của con người trong Tuyên ngôn độc lập, 1776 của Mỹ. Khi ở Anh, Người
gia nhập công đoàn thuỷ thủ và cùng giai cấp công nhân Anh tham gia các cuộc
biểu tình, đình công bên bờ sông Thêmđơ Năm 1917, Người trở lại nước Pháp,
sống tại Pari-trung tâm chính trị văn hoá-nghệ thuật của châu Âu. Người gắn
mình với phong trào công nhân Pháp và tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm của
các nhà tư tưởng khai sáng như Vonte, Rutxô, Môngtetxkiơ Tư tưởng dân chủ
của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng của Nguyễn ái Quốc. Từ đó
mà hình thành phong cách dân chủ, cách làm việc dân chủ ở Người.
Có thể thấy, trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn ái Quốc đã biết
làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa thấu
thái vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn,
kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển.
- Chủ nghĩa Mác-Lênin: Cơ sở thế giới giới quan và phương pháp luận
của tư tưởng Hồ Chí Minh
- Chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở chủ yếu nhất hình thành tư tưởng Hồ Chí
Minh. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan và
phương pháp luận duy vật biện chứng, để tổng kết lịch sử và kinh nghiệm thực
tiễn tích lũy kiến thức, tìm ra con đường cứu nước mới.

thành tư tưởng của Người.
Trước hết, ở Hồ Chí Minh có một tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cộng
với đầu óc phê phán tinh tường sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu những
tinh hoa tư tưởng, văn hoá và cách mạng cả trên thế giới và trong nước.
Hai là, sự khổ công học tập của Nguyễn ái Quốc đã chiếm lĩnh được vốn
tri thức phong phú của thời đại, với kinh nghiệm đấu tranh của phong trào giải
phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế để có thể tiếp cận với chủ nghĩa
Mác-Lênin khoa học và cách mạng.
K
Ba là, Hồ Chí Minh có tâm hồn của một nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng
sản nhiệt thành cách mạng, một trái tim yêu nước, thương dân, thương yêu
những người cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng những hy sinh cao nhất vì độc lập
của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của đồng bào.
Những phẩm chất cá nhân hiếm có đó đã giúp Hồ Chí Minh tiếp nhận,
chọn lọc, chuyển hoá phát triển tinh hoa dân tộc và thời đại thành tư tưởng đặc
sắc của mình.
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn và được hình thành từ các
giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại mà đỉnh
cao là chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng lý luận, phương pháp luận thông qua
hoạt động trí tuệ và thực tiễn của người.
Câu 2: Phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng
dân tộc và sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay cần chú ý
những nội dung nào
Trên con đường đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của mình, Hồ
Chí Minh đã qua nhiều năm nghiên cứu, khảo sát các cuộc cách mạng trên thế
giới và thâm nhập vào cuộc sống của nhân dân các dân tộc bị áp bức ở các nước
thuộc địa để từ đó vạch ra con đường giải phóng phù hợp cho dân tộc Việt Nam.
Cột mốc quan trong cho sự nhận thức của Người về cách mạng giải phóng
dân tộc là vào năm 1920, Người đọc “Sơ thảo…” Lênin làm cho Người sáng tỏ
… Người biểu quyết tán thành gia nhập quốc tế Cộng sản, đánh dấu… Sau đó

theo con đường cách mạng vô sản, tức là phải đi theo đường lối Mác Lênin.
Thứ hai, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải do Đảng
của giai cấp công nhân lãnh đạo:
Nguyễn Ái Quốc đã sớm khẳng định: muốn giải phóng dân tộc thành
công “Trước hết phải có đảng cách mệnh. Đảng có vững chắc mệnh mới thành
công… Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt… Bây giờ học thuyết
nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách
mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Như vậy, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: cách
mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng của
giai cấp công nhân, Đảng đó phải được xây dựng theo các nguyên tắc Đảng kiểu
mới của Lênin, được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác Lênin.
Các lãnh tụ yêu nước tiền bối cũng đã bước đầu nhận thức được tầm quan
trọng và vai trò của chính đảng cách mạng. Phan Chu Trinh đã nói: ngày nay,
muốn có độc lập, tự do, phải có đoàn thể, nhưng ông chỉ kịp nói mà không kịp
làm. Phan Bội Châu đã tổ chức ra Đảng Việt Nam Quang phục hội, sau dự định
M
cải tổ nó thành Việt Nam Quốc dân đảng theo kiểu Tôn Trung Sơn, nhưng ông
chưa kịp thực hiện thì đã bị bắt, bị đưa về giam lỏng tại Huế.
Dù đã thành lập hay chưa thì các đảng kiểu đó cũng không thể lãnh đạo
cách mạng giải phóng dân tộc đi đến thành công, vì nó thiếu một đường lối
chính trị đúng đắn và một đường lối tổ chức chặt chẽ; lại không có cơ sở rộng
rãi trong quần chúng, nên sớm muộn cũng rơi vào tan rã và thất bại.
Thứ ba, cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn
dân, trên cơ sở liên minh công nông:
- Cách mạng giải phóng dân tộc như Nguyễn Ái Quốc viết “là việc chung
cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”, vì vậy phải đoàn kết toàn dân,
“sĩ, công, nông, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”. Nhưng trong sự tập
hợp rộng rãi đó, Người nhắc nhở không được quên cái cốt của nó là công - nông.
Phải nhớ: “Công nông là người chủ cách mệnh… Công nông là gốc cách mệnh”.
- Trong phạm vi của cách mạng giải phóng dân tộc mà đối tượng cần đánh

ở chính quốc. Tuyên ngôn thành lập Quốc tế Cộng sản năm 1919 có đoạn viết:
“Công nhân và nông dân không những ở An Nam, Angiêri, Bengan mà cả Ba
Tư hay Ácmênia chỉ có thể giành được độc lập khi mà công nhân các nước Anh
và nước Pháp lật đổ được Lôiit Gioócgiơ và Clêmăngxô, giành chính quyền nhà
nước vào tay mình”.
- Những luận cương về phong trào cách mạng trong các nước thuộc địa
và nửa thuộc địa được thông qua Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, ngày 1-9-1928
viết: “Chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các thuộc địa khi
giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến”. Quan điểm
này, vô hình trung đã giảm tính chủ động, sáng tạo của các phong trào cách
mạng ở thuộc địa.
- Phát biểu tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (1924) Nguyễn Ái Quốc đã
phân tích: “Vận mệnh giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh giai cấp vô
sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp
bức ở các thuộc địa… nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang
tập trung ở các thuộc địa”, nếu khinh thường cách mạng ở thuộc địa tức là “muốn
đánh rắn đằng đuôi”.
- Vận dụng công thức của Các Mác: “Sự giải phóng giai cấp công nhân
phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân”, Nguyễn Ái Quốc đã đi tới
điểm: “Công cuộc giải phóng anh em (tức nhân dân thuộc địa) chỉ có thể thực
hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”.
- Do nhận thức được thuộc địa là một khâu yếu trong hệ thống của chủ
nghĩa đế quốc, do đánh giá đúng đắn sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh
S
thần dân tộc, ngay từ năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã sớm cho rằng: “Cách mạng
thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà
có thể giành thắng lợi trước”, và “trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện
tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những
người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”.
- Đây là một luận điểm sáng tạo, có giá trị lý luận và thực tiễn rất to lớn,

Mặt khác kinh nghiệm của các nước trên thế giới như Trung Quốc, ấn
Độ và của Việt Nam trước năm 1930 cho thấy đấu tranh chống đế quốc thực
dân giành độc lập dân tộc chỉ thuần túy đấu tranh vũ trang, hoặc đấu tranh hòa
bình đều thất bại.
Thành công của Cách mạng Tháng Tám và thắng lợi của hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ đã khẳng định tính đúng đắn
cách mạng và sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân
tộc ở nước ta.
* Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
trong giai đoạn hiện nay Đảng ta cần chú ý đến những nội dung như sau:
Sự vận dụng của ĐCSVN trong giai đoạn hiện nay, luôn kết hợp giữa
CNYN và CNQT, gắn liền ĐLDT – CNXH. Thực hiện công bằng xã hội, chống
áp bưc, bất công, đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành
động tiêu cực, sai trái, bảo vệ độc lập dân tộc, phấn đấu đến 2020 nước ta trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Thứ nhất, nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc trên lập trường
giai cấp. Trên quan điểm về giai cấp của Hồ Chí Minh, xuất phát từ hoàn cảnh
lịch sử và điều kiện cụ thể của dân tộc để từ đó Đảng ta đề ra đường lối đúng
đắn, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cách mạng của nước ta, phù hợp với xu thế
phát triển của cách mạng thế giới. Hơn bao giờ hết, phải làm cho quan điểm của
Hồ Chí Minh về sự kết hợp dân tộc với giai cấp, chủ nghĩa yêu nước với chủ
nghĩa quốc tế, độc lập dân tộc với CNXH được quán triệt sâu sắc trong toàn
Đảng và toàn dân.
Thứ hai, kiên định mục tiêu, con đường xây dựng đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã xác
định: Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con
đường cách mạng vô sản. Đi theo con đường đó, Đại hội XI của Đảng đã khẳng
định: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường
lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vân dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa


+ Thực hiện sản xuất có kế hoạch, tiến tới xóa bỏ sản xuất hàng hóa trao
đổi tiền tệ.
$
+ Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, thể hiện sự công bằng
và bình đẳng về lao động và hưởng thụ.
+ Khắc phục dần sự khác biệt giữa các giai cấp, giữa nông thôn và thành
thị, giữa lao động tri óc và lao động chân tay, tiến tới một xã hội tương đối thuần
nhất về giai cấp.
+ Giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, nâng cao trình độ tư
tưởng và văn hóa cho nhân dân, tạo điều kiện cho con người tận lực phát triển
mọi khả năng sẵn có của mình.
+ Sau khi đạt được những điều nói trên, khi giai cấp không còn nữa thì
chức năng chính trị của Nhà nước sẽ dần dần diệt vong. Những đặc trưng trên
đây của chủ nghĩa xã hội là những phán đoán khoa học của Mác và Ăngghen
nêu lên trên cơ sở phân tích những điều kiện kinh tế-chính trị-xã hội ở các nước
tư bản chủ nghĩa Tây Âu phát triển nhất vào cuối thế kỷ XIX. Với sự vận động
của lịch sử, với thành tựu khoa học-công nghệ, với những kinh nghiệm của thực
tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội đã qua và hiện nay, trong những luận điểm đó,
có điểm ngày nay đã được nhận thức lại cho phù hợp.
- Chủ nghĩa xã hội là một chế độ do nhân dân làm chủ, nhà nước phải
phát huy quyền làm chủ của nhân dân để huy động được tính tích cực và sáng
tạo của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản
xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, nhằm không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, trước hết là nhân
dân lao động.
- Chủ nghĩa xã hội là một xã hội phát triển cao về văn hóa, đạo đức, trong
đó người với người là bạn bè, đồng chí, là anh em, con người được giải phóng
khỏi áp bức, bóc lột, có cuộc sống vật chất và tinh thần phong phú, được tạo
điều kiện để phát triển hết mọi khả năng sẵn có của mình.

địa châu Á.
- Nội dung cách mạng XHCN mang tính chất triệt để và nhân đạo. Nhờ
cuộc cách mạng đó nhân dân lao động làm chủ nước nhà, những dân tộc nhỏ bé
giành được độc lập, ruộng đất về tay dân cày. (Trong khi đó “cách mệnh Pháp
cũng như cách mệnh Mỹ nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến
nơi… cách mệnh đã 4 lần rồi mà nay công nông Pháp vẫn còn phải mưu cách
mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức.” Dưới nhận thức của Hồ Chí
G
Minh, cách mạng tháng 10 như một sự nổi trội, vượt xa và khác hẳn với cuộc
cách mạng xã hội đã từng diễn ra trong lịch sử trước đó.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh độc lập dân tộc mới chỉ là cấp độ đầu tiên.
Giải phóng về mặt chính trị tự bản thân nó chưa phải là công cuộc giải phóng
hoàn toàn, độc lập dân tộc chỉ là tiền đề đầu tiên để tiến lên CNXH, đi tới cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
* Ý nghĩa, sự vận dụng những quan điểm đó vào công cuộc đổi mới hiện nay
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đạt được những
thành tựu quan trọng, tạo ra thế và lực mới cho con đường phát triển XHCN ở
nước ta. Cùng với tổng kết thực tiễn, quan niệm của Đảng ta về CNXH, con
đường đi lên CNXH ngày càng sát thực, cụ thể hóa. Nhưng, trong quá trình xây
dựng CNXH, bên cạnh những thời cơ, vận hội, nước ta đang phải đối đầu với
hàng loạt thách thức, khó khăn cả trên bình diện quốc tế, cũng như từ các điều
kiện thực tế trong nước tạo nên. Trong bối cảnh đó, vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về CNXH và con đường quá độ lên CNXH, chúng ta cần tập trung giải
quyết những vấn đề quan trọng nhất:

Giữ vững mục tiêu của CNXH
Trong điều kiện nước ta, độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH, sau khi
giành được độc lập dân tộc phải đi lên CNXH, vì đó là quy luật tiến hóa trong
quá trình phát triển của xã hội loài người. chỉ có CNXH mới đáp ứng được khát
vọng của toàn dân tộc: độc lập cho dân tộc, dân chủ cho nhân dân, cơm no áo

Đảng lãnh đạo, phải đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân, nghĩa là phải
biết phát huy mọi nguồn lực vốn có trong dân để xây dựng cuộc sống ấm no,
hạnh phúc cho nhân dân. Theo tinh thần đó, ngày nay, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước phải dựa vào nguồn lực trong nước là chính, có phát huy mạnh mẽ
nội lực mới có thể tranh thủ sử dụng hiệu quả các nguồn lực bên ngoài. Trong
nội lực, nguồn lực con người là vốn quý nhất.
Nguồn lực của nhân dân, của con người Việt Nam bao gồm trí tuệ, tài
năng, sức lao động, của cải thật to lớn. Để phát huy tốt sức mạnh của toàn dân
tộc để xây dựng và phát triển đất nước, cần giải quyết tốt các vấn đề sau:
- Tin dân, dựa vào dân, xác lập quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế,
làm cho chế độ dân chủ được thực hiện trong mọi lĩnh vực hoạt động của con
người, nhất là ở địa phương, cơ sở, làm cho dân chủ thật sự trở thành động lực
của sự phát triển xã hội.
- Chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân để nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực.
- Thực hiện nhất quán chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh,
trên cơ sở lấy liên minh công- nông- trí thức làm nòng cốt, tạo nên sự đồng
8
thuận xã hội vững chắc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.

Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Xây dựng CNXH phải biết tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, tận
dụng tối đa sức mạnh của thời đại. Ngày nay, sức mạnh của thời đại tập trung ở
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, xu thế toàn cầu hóa. Chúng ta phải
tranh thủ tối đa các cơ hội do xu thế đó tạo ra để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc
tế; phải có cơ chế, chính sách đúng để thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý
và công nghệ hiện đại, thực hiện kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Muốn vậy, chúng ta phải có đường lối chính trị độc lập, tự chủ. Tranh thủ

hăng hái đẩy mạnh tăng gia sản xuất kinh doanh gắn liền với tiết kiệm để xây
dựng nước nhà. Trong điều kiện đất nước còn nghèo, tiết kiệm phải trở thành
qốc sách, thành một chính sách kinh tế lớn và cũng là một chuẩn mực đạo đức,
một hành vi văn hóa như Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Một dân tộc biết cần, biết
kiệm” là một dân tộc văn minh, tiến bộ; dân tộc đó chắc chắn sẽ thắng được
nghèo nàn, lạc hậu, ngày càng giàu có về vật chất, cao đẹp về tinh thần tổng hợp
Câu 4: Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam và sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
a. Mục tiêu CNXH
Trên con đường cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mục tiêu
CNXH, Người đã khẳng định tính ưu việt của CNXH so với các chế độ xã hội
đã tồn tại trong lịch sử, chỉ ra nhiện vụ giải phóng con người một cách toàn diện
theo cấp độ: từ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xã hội đến giải phóng
từng cá nhân con người, hình thành nhân cách phát triển tự do.
Hồ Chí Minh ý thức được rõ ràng giá trị của chủ nghĩa xã hội về mặt lý
luận là quan trọng, nhưng vấn đề quan trọng hơn là tìm ra con đường để thực
hiện những giá trị này. Điểm then chốt, có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng
trong quan niệm của Hồ Chí Minh là Người đã đề ra các mục tiêu chung và mục
tiêu cụ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong mỗi giai đoạn cách mạng
khác nhau. Chính thông qua quá trình đề ra các mục tiêu đó, chủ nghĩa xã hội
được biểu hiện với việc thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích thiết yếu của người lao
động, theo các nấc thang từ thấp đến cao, tạo ra tính hấp dẫn, năng động của chế
độ xã hội mới.
Ở Hồ Chí Minh, mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội và mục tiêu phấn
đấu của Người là một, đó là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.
Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho
J
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Đó cũng chính là mục tiêu tổng quát

chủ nghĩa xã hội và chính sách thực tiễn. Trượt ra khỏi quỹ đạo đó thì hoặc là
chủ nghĩa xã hội giả hiệu hoặc không có gì tương hợp với chủ nghĩa xã hội.
S
Chỉ rõ và nêu bật mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã khẳng
định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội so với các chế độ xã hội đã tồn tại trong
lịch sử, chỉ ra nhiệm vụ giải phóng con người một cách toàn diện, theo các cấp
độ: từ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xã hội đến giải phóng từng cá
nhân con người, hình thành các nhân cách phát triển tự do.
Quá trình đi tới mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội là một quá trình
lâu dài, trải qua một thời kỳ quá độ, nhiều bước trung gian, quá độ nhỏ. Đối với
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh cho rằng: “Chúng ta phải xây
dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta.
Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến
có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ,
xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không có bóc lột áp bức.
Muốn thế, chúng ta phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu
thành một nước công nghiệp. Chúng ta phải dần dần tập thể hóa nông nghiệp.
Chúng ta phải tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư
nhân, đối với thủ công nghiệp. Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ
thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”. Như vậy, Hồ Chí
Minh đã xác định các mục tiêu cụ thể của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Mục đích, mục tiêu ấy phải được thực hiện trên các phương tiện của chế độ
xã hội chủ nghĩa do nhân dân lao động xây dựng và làm chủ. Đó là:
- Mục tiêu chính trị: Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, chế độ chính trị phải là do nhân dân lao động làm chủ, nhà
nước là của dân, do dân và vì dân. Nhà nước có hai chức năng: dân chủ với nhân
dân, chuyên chính với kẻ thù của nhân dân. Hai chức năng đó không tách rời
nhau, mà luôn luôn đi đôi với nhau. Một mặt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải phát
triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân; mặt khác, lại yêu cầu

- Về quan hệ xã hội: Xã hội mà chúng ta xây dựng là một xã hội công
bằng, dân chủ có quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Mọi chế độ, chính sách
xã hội phải là chế độ, chính sách về con người, vì con người, cho con người.
Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội là công trình tập thể của nhân
dân, do nhân dân xây dựng lấy. Nếu không có những con người thiết tha với lý
tưởng xã hội chủ nghĩa thì không thể có chủ nghĩa xã hội. Do đó Hồ Chí Minh
đặt lên hàng đầu nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa là đào tạo con
người. Bởi lẽ, mục tiêu cao nhất, động lực quyết định nhất công cuộc xây dựng
chính là con người.
$
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh con người xã hội chủ nghĩa phải là con
người có tinh thần và năng lực làm chủ, có đạo đức cần kiệm liêm chính, chí
công vô tư, có kiến thức khoa học-kỹ thuật, nhạy bén với cái mới, có tinh thần
sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Đó là nguồn lực quan trọng để xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội.
Để giải phóng mọi tiềm năng sẵn có của con người trong việc xây dựng
chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh nhấn mạnh là cần giải phóng phụ nữ. Bởi vì vai
trò và lực lượng của phụ nữ trong đấu tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa
xã hội được Người đánh giá rất cao: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu
không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không
giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”.
Do đó có thể nói rằng mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội là giải phóng
con người, giải phóng mọi tiềm năng của con người, tạo điều kiện về mọi mặt
cho sự phát triển tự do và toàn diện của con người.
b. Các động lực của chủ nghĩa xã hội
Để thực hiện những mục tiêu đó, cần phát hiện những động lực và những
điều kiện bảo đảm cho động lực đó thực sự trở thành sức mạnh thúc đẩy công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là những động lực bên trong, nguồn nội
lực của chủ nghĩa xã hội.
Động lực của chủ nghĩa xã hội là một hệ thống rất phong phú nhưng suy

quả khoa học-kỹ thuật thế giới.
Bên cạnh việc phát huy các động lực, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra sự cần thiết
phải đấu tranh khắc phục những trở lực của chủ nghĩa xã hội do đó Người yêu cầu:
+ Phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, căn bệnh đẻ ra trăm thứ bệnh.
+ Phải đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu.
+ Phải chống chia rẽ, bè phái, mất đoàn kết, vô kỷ luật.
+ Phải chống chủ quan, bảo thủ, giáo điều, lười biếng, không chịu học
tập cái mới.
c. Đảng ta vận dụng những quan điểm đó vào công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa hiện nay
Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa do Đảng ta khởi xướng và lãnh
đạo đạt được những thành tựu quan trọng, tạo ra thế và lực mới cho con đường
phát triển XHCN ở nước ta. Cùng với tổng kết thực tiễn, quan niệm của Đảng ta
về CNXH, con đường đi lên CNXH ngày càng sát thực, cụ thể hóa. Nhưng, trong
quá trình xây dựng CNXH, bên cạnh những thời cơ, vận hội, nước ta đang phải
đối đầu với hàng loạt thách thức, khó khăn cả trên bình diện quốc tế, cũng như từ
các điều kiện thực tế trong nước tạo nên. Trong bối cảnh đó, vận dụng tư tưởng
$9
Hồ Chí Minh về CNXH và con đường quá độ lên CNXH, chúng ta cần tập trung
giải quyết những vấn đề quan trọng nhất:
Thứ nhất, giữ vững mục tiêu của CNXH
Trong điều kiện nước ta, độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH, sau khi
giành được độc lập dân tộc phải đi lên CNXH, vì đó là quy luật tiến hóa trong
quá trình phát triển của xã hội loài người. chỉ có CNXH mới đáp ứng được khát
vọng của toàn dân tộc: độc lập cho dân tộc, dân chủ cho nhân dân, cơm no áo
ấm cho mọi người dân Việt Nam. Thực tiễn phát triển đất nước cho thấy, độc
lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo
đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.
Hiện nay, chúng ta đang tiến hành đổi mới toàn diện đất nước vì mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” là tiếp tục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status