Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai
Lời cảm ơn
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khoá luận này tôi không khỏi lúng
túng và bỡ ngỡ. Nhng dới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của Th.S Lê Thị Lan
Anh, tôi đã từng bớc tiến hành và hoàn thành khoá luận với đề tài: Chữa lỗi
chính tả cho học sinh tiểu học.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Lê Thị Lan Anh, các thầy
cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn
và các thầy cô giáo trờng Đại học S phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ
tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2008
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai
1
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, căn cứ, kết quả có trong khoá luận là trung thực.
Đề tài này cha đợc công bố trong bất kì công trình khoa
học nào khác.
2
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Mai Danh môc C¸c kÝ hiÖu viÕt t¾t
§ : ®óng
K.§ : kh«ng ®óng
qua phiếu điều tra (ankét)
Chơng 3. Một số biện pháp chữa lỗi chính tả cho học sinh tiểu học 47
3.1. Nguyên nhân và cách chữa lỗi chính tả 47
3.2.1. Nguyên nhân và cách chữa lỗi chính tả về âm 47
3.1.2. Nguyên nhân và cách chữa lỗi chính tả về vần 50
4
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai
3.1.3. Nguyên nhân và cách chữa lỗi chính tả về thanh điệu 51
3.2. Nguyên nhân chung và một số biện pháp giúp học 53
sinh tiểu học viết đúng chính tả
3.2.1. Nguyên nhân chung 53
3.2.2. Một số biện pháp giúp học sinh tiểu học 54
viết đúng chính tả
3.3. Những kiến nghị, đề xuất 64
3.4. Các dạng bài tập luyện viết đúng chính tả 66
Kết luận 67
Phụ lục 68
Tài liệu tham khảo 91
5
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học giữ vai trò nền
tảng với mục đích và nhiệm vụ là trang bị những cơ sở ban đầu quan trọng
nhất cho ngời công dân, ngời lao động tơng lai. Đó là những ngời phát triển
toàn diện, có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, sáng tạo.
Đáp ứng yêu cầu của giáo dục, các môn học ở tiểu học dần chú trọng
hình thành rèn luyện cho học sinh các kĩ năng học tập. Cùng với các môn học
thực trạng lỗi chính tả của các em, đa ra cách chữa và các biện pháp giúp các
em viết đúng chính tả sẽ đem lại cho chúng tôi những kinh nghiệm quý báu
phục vụ cho việc giảng dạy sau này.
2. Lịch sử vấn đề
Từ lâu chính tả tiếng Việt đã đợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu.
Năm 1976, tác giả Hoàng Phê trong cuốn Tạp chí ngôn ngữ đã đa ra một số
nguyên tắc giải quyết vấn đề chuẩn hoá chính tả. Tác giả cho rằng hiện nay
chúng ta đang cần phải: xác định chuẩn chính tả đối với một số âm tiết mà
chính tả cha nhất trí, quy định cách viết các từ nhiều âm tiết, quy định cách
dùng chữ hoa, cách viết các âm riêng nhiều âm tiết, kể cả các tên riêng nớc
ngoài phiên âm,
Đến năm 1998, Phan Thiều trong cuốn Rèn luyện ngôn ngữ, tập 1, Nxb
Giáo dục, khi nghiên cứu về chính tả đã dành gần 100 trang để bàn về vấn đề
luyện chính tả, đa ra một loạt bài tập chính tả phân biệt và một số quy định về
chính tả. Đặc biệt, tác giả đã đi tìm hiểu Chính tả là gì?, đặc điểm chính tả
tiếng Việt từ đó đa ra ba căn cứ để viết đúng chính tả: căn cứ ngữ âm, căn cứ
ngữ nghĩa, căn cứ quy tắc.
Trong cuốn Tiếng Việt thực hành, năm 2001, Nxb Giáo dục, Nguyễn
Minh Thuyết (chủ biên) lại đề cập đến vấn đề tìm hiểu quy tắc viết hoa và quy
7
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai
tắc phiên âm tiếng nớc ngoài. Đặc biệt tác giả bàn kĩ về lỗi chính tả mà học
sinh thờng mắc phải, tác giả phân loại lỗi chính tả thành: các lỗi về thanh điệu,
các lỗi về vần và các lỗi về phụ âm đầu. Trên cơ sở phát hiện ra các lỗi tác giả
đa ra cách khắc phục chung và giới thiệu một vài mẹo giúp giải quyết phần
nào những lỗi đó.
Còn trong cuốn Dạy học chính tả ở Tiểu học, Nxb giáo dục, tác giả
Hoàng Trung Thông - Đỗ Xuân Thảo, năm 2003 đã nghiên cứu một vấn đề
quan trọng của chính tả đó là mẹo luật chính tả theo quy tắc ngữ nghĩa và thói
tác giả đã trích quy định tạm thời về cách viết hoa tên riêng
trong sách giáo khoa.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nắm vững đặc điểm của chính tả tiếng Việt và xuất phát từ
các bài viết chính tả, bài tập làm văn viết của học sinh đã thống kê, khảo sát
phân tích; từ đó tìm ra nguyên nhân sai và các biện pháp khắc phục, góp phần
nâng cao chất lợng dạy học phân môn Chính tả nói riêng và dạy học Tiếng
Việt ở tiểu học nói chung.
4. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tợng nghiên cứu của đề tài
Các lỗi chính tả của học sinh tiểu học thờng mắc qua các bài viết chính
tả,
bài tập làm văn viết của học sinh lớp 4, lớp 5, cách chữa và các biện pháp khắc
phục.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi đi vào thực tế tìm hiểu các lỗi chính tả
của học sinh tiểu học qua các bài viết chính tả, bài tập làm văn viết của học
sinh lớp 4, lớp 5. Nhng do thời gian và điều kiện không cho phép, chúng tôi
chỉ có thể điều ta thực tế ở hai trờng tiểu học:
- Trờng Tiểu học Lu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
- Trờng Tiểu học Bạch Long, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận chính tả, khái niệm chính tả, căn cứ để
viết đúng chính tả, khái niệm lỗi chính tả, phân loại lỗi chính tả.
9
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai
- Tìm hiểu thực trạng lỗi chính tả của học sinh qua các bài viết chính tả,
bài tập làm văn viết lớp 4, lớp 5.
- Thông qua các bài tập trắc nghiệm về chính tả để kiểm tra và đánh giá
Tuy nhiên, tác giả Phan Thiều trong cuốn Rèn luyện ngôn ngữ (1998) đã
đa ra định nghĩa về chính tả một cách khái quát, đầy đủ, sâu sắc và toàn diện:
"Chính tả là những quy định mang tính xã hội cao, đợc mọi ngời trong cộng
đồng chấp nhận, mọi ngời đều tuân thủ" [15; 54]
Trong đề tài này, chúng tôi chọn và theo khái niệm chính tả của Phan
Thiều, Rèn luyện ngôn ngữ (1998) - Nxb Giáo dục.
1.2. Căn cứ để viết đúng chính tả
Để viết đúng chính tả chúng ta có thể có ba loại căn cứ sau: căn cứ ngữ
âm, căn cứ ngữ nghĩa và quy tắc chính tả.
1.2.1. Căn cứ ngữ âm
Chữ quốc ngữ là một thứ chữ ghi âm hiện đại. Nói chung, chính tả tiếng
Việt bảo đảm đợc tơng đối đầy đủ quan hệ 1:1 giữa âm và chữ: phát âm nh
nhau thì viết nh nhau, phát âm khác nhau thì viết khác nhau. Đối với những tr-
ờng hợp nh thế việc viết chính tả không khó, học xong phần Học vần sẽ viết
đúng chính tả.
11
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai
Tuy nhiên, cũng cần lu ý những vần khó. Thờng thấy ngoằn ngoèo viết
thành ngoằn ngèo, huênh hoang viết thành huyênh hoang, khuếch tr-
ơng viết thành khuyếch trơng. Lỗi nh thế chính là vì cha thuộc vần, cha
nắm đợc cách thể hiện những vần khó ấy trên chữ viết, cách thể hiện này
vẫn bảo đảm quan hệ 1:1 giữa âm và chữ.
Cũng có lúc quan hệ âm - chữ không xác định rõ. Điều đó xảy ra những
trờng hợp đồng âm khác chữ tức là nói (đọc) nh nhau nhng lại viết khác nhau.
Trong tiếng Việt, có thể nêu ba kiểu đồng âm khác chữ:
- Kiểu do bất hợp lý của chữ viết tạo nên.
Ví dụ: /k/ có ba con chữ thể hiện là c, k, q.
- Kiểu do biến đổi lịch sử trong hệ thống ngữ âm chuẩn.
Ví dụ: /z/ có hai con chữ thể hiện là d, gi.
nhớ là: Huyền - ngã - nặng
Sắc - hỏi - không
Quy tắc này có nghĩa là gặp một chữ không biết nên viết dấu hỏi hay
dấu ngã thì hãy tạo một từ láy âm, nếu chữ láy lại viết với dấu huyền, dấu ngã
hoặc dấu nặng thì chữ đợc xét sẽ viết dấu ngã. Ngợc lại, nếu chữ láy viết với
dấu sắc, dấu hỏi hoặc không dấu thì chữ đang xét phải viết với dấu hỏi. Ví dụ:
so sánh nghĩ ngợi (ngợi dấu nặng thì nghĩ phải viết dấu ngã), nghỉ ngơi (ngơi
không dấu thì nghỉ phải viết dấu hỏi).
Nắm đợc các quy tắc chính tả đó (do các nhà nghiên cứu ngôn ngữ xác
định) ngời viết sẽ có những chỗ dựa khách quan để xác định cách viết đúng
chính tả những trờng hợp mình còn lúng túng.
1.3. Quy định về chính tả
Chuẩn hoá chính tả tiếng Việt là cả một quá trình lâu dài, phức tạp vì
những nhận thức không thống nhất, thậm chí có thể sai về cách viết. Cho dù là
một quá trình, song điều cơ bản là phải nắm vững những đặc điểm ngôn ngữ
và chữ viết tiếng Việt. Chỉ trên cơ sở đó và có phơng châm, nguyên tắc cùng
với những xử lý mềm dẻo, chúng ta mới có thể tiến hành chuẩn hoá chính tả
13
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai
tiếng Việt. Đây là công việc cần sự hợp tác của nhiều cơ quan khoa học, cơ
quan quản lý Nhà nớc. Bộ Giáo dục và đào tạo cũng đã nhiều lần ban hành
quy định về chính tả tiếng Việt nh:
+ Một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục do
Bộ giáo dục (Thứ trởng Võ Thuần Nho kí), ban hành ngày 30/4/1980.
+ Quyết định số 240/QĐ - Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng
Việt của Bộ trởng Bộ giáo dục (Nguyễn Thị Bình kí), ban hành ngày 5/3/1984.
+ Quy định tạm thời về viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa (Ban hành
kèm theo Quyết định số 07/2003/QĐ - BGD và ĐT 13/3/2003 của Bộ trởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo).
anh em có cấu tạo từ đa âm tiết (các âm tiết đọc liền nhau)
Đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có
gạch nối giữa các âm tiết: Ê- đê, Ba - na, Xơ- đăng, Tà - ôi,
5) Tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể
Viết hoa chữ cái đầu của âm viết đầu tiên và các âm tiết đầu của bộ
phận tạo thành tên riêng: Ban Chấp hành Trung ơng Đảng Cộng sản Việt
Nam, Uỷ Ban Thờng vụ Quốc hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo,
6) Từ và các cụm từ chỉ các con vật, đồ vật, sự vật đợc dùng làm tên riêng của
nhân vật
Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết tạo thành tên riêng: (chú) Chuột, (bác)
Gấu, (cô) Chào Mào, (bác) Nồi Đồng, (cô) Chổi Rơm,
Cách viết tên riêng nớc ngoài
1) Tên ngời, tên địa lí
1.1. Trờng hợp phiên âm qua âm Hán - Việt:
Viết theo quy tắc viết tên ngời, tên địa lí Việt Nam: Mao Trạch Đông,
Kim Nhật Thành, Đức,
1.2. Trờng hợp phiên âm qua âm Hán - Việt (phiên âm trực tiếp, viết sát
theo cách đọc)
15
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai
Đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có
gạch nối giữa các âm tiết: Phri- đrích Ăng - ghen, Vla - đi - mia I - lích Lê - nin,
2) Tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể nớc ngoài
2.1. Trờng hợp dịch nghĩa
Viết theo quy tắc viết tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể Việt Nam: Viện
khoa học Giáo dục Bắc Kinh, Trờng Đại học Tổng hợp Quốc gia Mát- xcơ- va
mang tên Lô- mô - nô - xốp,
2.2. Trờng hợp viết tắt
Viết nguyên dạng viết tắt. Tuỳ từng trờng hợp, có thể ghi thêm tên dịch
thành ĐHBK, Công ty xuất nhập khẩu viết thành Công ty XNK, quyết định
viết thành QĐ, danh từ viết thành DT, chủ ngữ viết thành CN,
6) Chữ đầu câu, đầu dòng thơ và mở đầu các dòng trong một phép liệt kê thì
phải viết hoa:
+ Quả nhiên, hoa mận vừa tàn thì mùa xuân đến. Bầu trời ngày
thêm xanh. Nắng vàng ngày càng rực rỡ.
+ Đây con sông nh dòng sữa mẹ
Nớc về xanh ruộng lúa vờn cây
Và ăm ắp nh lòng ngời mẹ
Chở tình thơng trang trải đêm ngày.
7) Tên chức danh, chức vụ
Những từ ngữ biểu thị chức danh, chức vụ (đợc xã hội xem là cao) thì
thờng đợc viết hoa chữ đầu tiên khi từ ngữ chỉ chức danh, chức vụ đó gắn với
cá nhân cụ thể: Giáo s Nguyễn Văn Hiệu, Thủ tớng Phan Văn Khải, Hiệu tr-
ởng Trờng Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh,
Ngoài ra, để biểu thị sự kính trọng, có thể viết hoa từ ngữ chỉ ngời hoặc
đối tợng đợc tôn kính đặc biệt:
Mình về với Bác đờng xuôi,
Th giùm Việt Bắc khôn nguôi nhớ Ngời
Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời,
áo nâu túi vải đẹp tơi lạ thờng.
17
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai
1.3.2. Quy định viết các âm
Các chữ cái biểu thị các phần của âm tiết (âm đầu, âm đệm, âm chính,
âm cuối) đợc sắp xếp theo cấu trúc âm tiết.
Âm tiết tiếng Việt ở dạng đầy đủ nhất gồm năm thành tố
Thanh điệu (5)
Phụ âm đầu
+ Viết q khi sau nó là âm đệm
+ Viết c trong các trờng hợp còn lại.
18
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai
2) Âm / / : + Viết gh khi sau nó là nguyên âm i, e, ê và nguyên âm đôi iê.
+ Viết g trong các trờng hợp còn lại.
3) Âm / / : +Viết ngh khi sau nó là nguyên âm i, e, ê và nguyên âm đôi iê.
+Viết ng trong các trờng hợp còn lại.
4) Âm /z/ : Nếu âm /k, , / đợc quy định theo nguyên tắc ngữ âm học thì âm /z/
viết d, gi theo nghĩa. Vì vậy, khi muốn viết đúng các trờng hợp này, ngời viết
cần nhớ nghĩa và cách viết tơng ứng. Khi cần thiết có thể tra cứu từ điển. Để
phân biệt d và gi có ý kiến đề nghị: Nếu thấy chúng có biến thể tr thì viết gi,
biến thể nh thì ta viết d: giả/ trả, giai/ trai, giao/ trao,
Trong những từ láy hai tiếng nếu tiếng đầu mở đầu bằng l hoặc d thì
tiếng thứ hai có phụ âm đầu thờng viết bằng d chứ không phải là gi: lò dò, dai
dẳng, dang dở,
Đối với trờng hợp khác thì căn cứ vào âm và nghĩa của từ Hán - Việt:
+ gia tăng thêm (gia hạn, gia tăng, gia vị,)
+ nhà (gia đình, gia trởng, gia tài,)
Còn viết là d là các từ nói về phần bọc ngoài của thân thể: da dẻ, da thịt,
da trời, da mặt,
1.3.2.2. Viết âm đệm / /
+ Viết o khi sau nó là e, a
+ Viết u trong các trờng hợp còn lại.
1.3.2.3. Viết âm chính
Bảng âm và chữ cái ghi âm chính
Âm Chữ Âm Chữ
/i/ y, i (suy, nghĩ) /u/ u (đúng, đủ)
/ie/ ia, ya, iê, yê (mía, khuya, điện, thuyền) /w/ (th, chừng)
3) Âm /uo/: + Viết ua khi không có âm cuối: mua, lúa, của,
+ Viết uô khi có âm cuối: suối, muộn, uống, thuốc,
4) Âm /w /: + Viết a khi không có âm cuối: lừa, thừa, la tha,
+ Viết ơ khi có âm cuối: thởng, trờng, vờn tợc, ơng,
5) Âm / /: + Viết a trong vần anh, ách, oanh, oách: khoanh, thành quách,
20
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai
+ Viết e trong những trờng hợp còn lại: mẹ, chè, bé,
6) Âm / /: + Viết a trong những vần au, ay: sau này, mau, láy,
+ Viết ă trong các trờng hợp còn lại: chắc chắn, con trăn,
7) Âm / /: + Viết oo khi có sự đối lập dài ngắn về phát âm: boong, soóc, moóc,
xoong,
+ Viết o trong các trờng hợp còn lại: mòn, bóng, mon men,
1.3.2.4. Viết âm cuối
Bảng âm và chữ cái ghi âm cuối
Âm Chữ Âm Chữ
/-i/ y, i (may, mai) /-m/ m (tìm, kiếm)
/-u/ o, u (sao, sau) /-n/ n (nên, nặn, lần)
/-k/ ch, c (sách, học) /-p/ p (họp, lớp)
/- / nh, ng (thênh, thang) /-t/ t (cất, thật)
Tiếng Việt có 8 âm cuối, trong đó có bốn trờng hợp có hai sự thể hiện
trên chữ viết (/ , , k, /). Quy tắc viết bốn trờng hợp đó nh sau:
1) Âm /i /: + Viết y khi xuất hiện trong các vần ay, ây: say, mây, mấy,
+ Viết i trong những trờng hợp còn lại: ai, mời, tơi, tội, tuổi,
2) Âm /u /: + Viết o trong các vần ao, eo: lèo tèo, lao xao, nhao nhao, cháo,
+ Viết u trong những trờng hợp còn lại: xấu, sấu, sếu, cừu, lựu,
3) Âm /k/: + Viết ch khi đi sau i, e, ê, a trừ từ phiên âm (chó béc giê, séc
chuyển tiền): lích chích, lếch thếch, chênh chếch,
Ngoài ra, đối với trờng hợp âm tiết (tiếng) có âm đệm đầu vần thì dấu
ghi thanh gắn với con chữ thể hiện âm chính: loá
+ Nếu có phụ âm cuối thì dấu ghi thanh gắn với con chữ thể hiện âm
chính: quỳnh, quỳ, khoẻn,
Việc nắm chắc các quy tắc chính tả nêu trên sẽ giúp ngời viết có những
chỗ dựa khách quan để viết đúng chính tả.
1.4. Khái niệm lỗi chính tả
Lỗi chính tả là những cách viết các từ không đúng với những quy định
mang tính xã hội cao, đợc mọi ngời trong cộng đồng chấp nhận, tuân theo.
1.5. Phân loại lỗi chính tả
Trong thực tế, những lỗi chính tả thờng gặp trong tiếng Việt khá đa dạng,
phản ánh bức tranh phơng ngữ đa dạng của tiếng Việt trên các miền đất nớc.
1.5.1. Lỗi về âm
1.5.1.1. Lỗi về phụ âm đầu
(1) Lỗi lẫn lộn l/n
22
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai
Đây là lỗi khá phổ biến ở ngoại thành Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ nói
chung. Sự lẫn lỗn về mặt từ vựng đã khiến nhiều trờng hợp đáng lẽ đọc l thì lại
đọc n và ngợc lại. Do đó, thể hiện trên chữ viết cũng sai.
Ví dụ: lòng lợn
nòng lợn
lên xe
nên xe
cô nơng
cô lơng
th/v: thí dụ/ ví dụ
x/ch: xung quanh/ chung quanh
g/c: gài/ cài
1.5.1.2. Lỗi lẫn lộn âm đệm
Các lỗi về âm đệm thờng thấy ở cả ba miền đất nớc. Đây là lỗi do trong
phát âm không có sự rõ ràng, phân biệt. Vì vậy, thể hiện trên chữ viết không
chính xác. Ví dụ: quẹt viết thành qoẹt
1.5.1.3. Lỗi lẫn lộn âm chính
Đây là loại lỗi thờng thấy ở miền Bắc: Hà Tây, Nam Định, do lỗi phát
âm địa phơng. Ví dụ:
ô/u: mông lung/ mung lung
uô/ô: muôi canh/ môi canh
i/ê: chình ình/ chềnh ềnh
/â: thực tình/ thật tình
a/â: làu bàu/ lầu bầu, đầy đọa/ đày đọa
â/ă: bậm môi/ bặm môi
ơ/a: đờng hoàng/ đàng hoàng
a/iê: nát bàn/ niết bàn
o/ô: nhỏm/ nhổm
u/o: lụm cụm/ lọm cọm
1.5.1.4. Lỗi lẫn lộn âm cuối
24
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai
Sự lẫn lộn về mặt từ vựng và sự phát âm không có sự rõ ràng, phân biệt
đã làm cho việc thể hiện âm cuối trên chữ viết không chính xác. Ví dụ:
nh/n: xanh/ xăn
ng/n: lang mang/ lan man
t/c: đánh bạc/ đánh bạt, tan tác/ tan tát
ch/c: chếch/ chếc