Khoá luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi đã nhận được sự quan
tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện của tổ bộ môn Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn Trường
ĐHSP Hà Nội 2 và đặc biệt là Thạc sỹ Lê Bá Miên cùng các thầy cô, các bạn
sinh viên trong khoa GDTH.
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tổ bộ môn Ngôn ngữ,
Thạc sỹ Lê Bá Miên đã động viên hướng dẫn và tận tình giúp đỡ chúng tôi
hoàn thành khoá luận đúng thời hạn quy định.
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các bạn trong
khoa GDTH, các thầy cô giáo của Trường Tiểu học Trưng Nhị (Phúc Yên –
Vĩnh Phúc), Tiểu học Xuân Phú (Xuân Trường – Nam Định) đã giúp đỡ
chúng tôi trong thời gian hoàn thành đề tài nghiên cứu.
Lần đầu tiên bước vào nghiên cứu khoa học, hơn nữa thời gian nghiên
cứu còn hạn hẹp nên chúng tôi khó tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài được
hoàn thiện hơn .
Hà Nội, Tháng 5 / 2008
Sinh viên
Phan Thị Hồng
Phan Thị Hồng K30B - GDTH
1
Khoá luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn 1
Mục lục . 2
Phần 1: Phần mở đầu 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề 5
3. Mục đích – yêu cầu 5
3.3. Biện pháp khắc phục 43
Phần 3: Kết luận 48
Tài liệu tham khảo 49
Phụ lục 50
Phan Thị Hồng K30B - GDTH
3
Khoá luận tốt nghiệp
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Từ vựng – là một bình diện của ngôn ngữ bên cạnh những bình diện khác
như ngữ pháp, ngữ âm, phong cách Dạy từ ngữ là một hoạt động không thể
thiếu trong chương trình phổ thông nói chung và chương trình Tiếng Việt bậc
tiểu học nói riêng. Mục tiêu đầu tiên của môn học Tiếng Việt hiện nay là hình
thành và phát triển ở học sinh kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc,
viết) để học tập và giao tiếp. Điều này có nghĩa là chương trình Tiếng Việt
Tiểu học giúp các em mở rộng và phát triển vốn từ làm cho các em hiểu nghĩa
của từ cụ thể, từ đó vận dụng vào học tập và giao tiếp.
Về từ ngữ, tác giả cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” khẳng định
“Từ vựng là một trong các bộ phận của hệ thống ngôn ngữ, thiếu từ vựng thì
không có bất cứ một ngôn ngữ nào”. Điều này lí giải tại sao việc dạy từ ngữ
được coi là nhiệm vụ quan trọng trong chương trình Tiếng Việt tiểu học, lí
giải tại sao việc mở rộng và phát triển vốn từ cho học sinh được chú trọng
ngay từ bậc Tiểu học.
Trung tâm của việc dạy từ vựng là dạy từ và khâu then chốt của dạy từ là
dạy ý nghĩa. Trong giao tiếp thông thưòng cả người phát (nói, viết) và người
nhận (nghe, đọc) đều phải nắm được từ, hiểu được từ thì mới sử dụng được
một cách chuẩn xác, từ đó giao tiếp mới có hiệu quả.
Đối với học sinh tiểu học việc phát hiện ra từ, hiểu nghĩa của từ, từ đó
thấy được cái hay cái đẹp của từ sẽ góp phần mở rộng và phát triển vốn từ cho
học sinh, từ đó “bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt, hình thành giữ gìn sự trong
hiện và hiểu nghĩa từ ngữ của học sinh.
Phan Thị Hồng K30B - GDTH
5
Khoá luận tốt nghiệp
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng phát hiện và hiểu ý
nghĩa từ ngữ của học sinh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau :
4.1. Phương pháp tổng hợp lí luận và thực tiễn.
4.2. Phương pháp điều tra – khảo sát – thống kê – phân tích ngôn ngữ học.
Muốn thực hiện được phương pháp này, người viết phải tiến hành các
công việc sau :
- Tiến hành khảo sát về khả năng phát hiện và hiểu ý nghĩa từ ngữ của
học sinh qua các dạng bài tập tại lớp 4A, 4B, 5A, 5B trường Tiểu học
Xuân Phú – Xuân Trường – Nam Định và lớp 4A1, 4A2, 5A1, 5A2
trường tiểu học Trưng Nhị – Phúc yên – Vĩnh Phúc.
- Xử lí số liệu bằng phương pháp : phân loại, so sánh hay đưa ra các biểu
mẫu.
- Đưa ra nguyên nhân dẫn tới lỗi sai của học sinh trong quá trình làm bài.
4.3. Phương pháp đề xuất giả thiết
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để tìm hiểu và thu thập tài liệu cho đề tài chúng tôi đã tiến hành nghiên
cứu nghĩa của từ trong chương trình tiểu học. Sau đó khảo sát khả năng phát
hiện và hiểu ý nghĩa từ ngữ của học sinh qua ba dạng bài tập
Bài tập phát hiện từ ngữ
Bài tập giải nghĩa từ ngữ
Bài tập cảm thụ từ ngữ
Phan Thị Hồng K30B - GDTH
6
Khoá luận tốt nghiệp
khác. Lớp nghĩa bên trong gồm hai loại, đó là nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ
pháp. Ý nghĩa riêng của từ vựng là ý nghĩa riêng của từng từ, không lặp lại ở
từ khác. Nghĩa từ vựng bao gồm nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu vật, nghĩa biểu
thái.
Nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung cho nhiều từ cùng loại và liên quan đến
chức năng cấu tạo câu. Nghĩa này có thể quy về các phạm trù như : giống, số,
cách, ngôi, thời, thể, thức hay các phạm trù như : danh, động, tính, số từ
Nghĩa ngữ pháp tạo thành khuôn từ loại, còn nghĩa từ vựng là lõi nằm trong
khuôn từ loại đó. Như vậy muốn hiểu được nghĩa của từ ta phải đối chiếu từ
với các hoạt động giao tiếp, với các chức năng tín hiệu học của từ, phải nắm
được ý nghĩa riêng của từ đó là nghĩa từ vựng và ý nghĩa chung của từ đó là
nghĩa ngữ pháp. Trong phần nghiên cứu này ta chỉ đi tìm hiểu ý nghĩa riêng
của từ. Vì vậy trong phần này chúng tôi chỉ đề cập tới phần nghĩa từ vựng.
2. Các thành phần nghĩa của từ
2.1. Nghĩa biểu vật
Ý nghĩa biểu vật bắt nguồn từ chức năng biểu vật của từ. Nghĩa biểu vật
là nghĩa gọi tên các loại sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất, hoạt động
theo lối tổng hợp tính, nghĩa là gọi tên không có lý do.
Khi nghiên cứu nghĩa biểu vật của từ phải đặt từ vào trong mối liên hệ
với thực tế khách quan. Bởi vì đó là những “mẩu”, những “mảnh”, những
“đoạn cắt” của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế khách quan,
giữa từ và thực tế khách quan ít nhiều có sự tương ứng 1 – 1, cùng một sự vật
nhưng có rất nhiều tên gọi hoặc cùng một từ nhưng chỉ nhiều sự vật, hiện
tượng khác nhau.
Các từ trong Tiếng Việt có từ có ý nghĩa biểu vật rộng, có từ có ý nghĩa
biểu vật hẹp. Những từ có ý nghĩa biểu vật rộng là những từ có ý nghĩa khái
quát có thể gọi tên nhiều sự vật, hiện tượng đó là những từ đơn âm tiết, từ
Phan Thị Hồng K30B - GDTH
8
Khoá luận tốt nghiệp
Như vậy, một ý nghĩa biểu niệm tương ứng với bốn khái niệm
2.3. Nghĩa biểu thái
Ngoài hai thành phần nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm khi xác định
nghĩa của từ người ta còn phân biệt một thành phần nghĩa nữa, đó là nghĩa
ngữ dụng hay còn gọi là nghĩa biểu thái, nghĩa hàm chỉ.
Nghĩa biểu thái (nghĩa ngữ dụng, nghĩa hàm chỉ) bắt nguồn từ chức năng
biểu thái của từ, nó biểu thị thái độ, tình cảm, cách đánh giá của người sử
dụng ngôn ngữ đối với sự vật được gọi tên.
Như vậy, nghiên cứu nghĩa biểu thái, nó đặt trong mối quan hệ với người
sử dụng ngôn ngữ, biểu hiện ở thái độ: người ta ứng sử như thế nào trước một
sự vật được gọi tên; ở các cung bậc tình cảm: vui, buồn, lo ghét, yêu, sầu ; ở
trong cách đánh giá: con người đánh giá như thế nào trước một sự vật hiện
tượng trong thực tế khách quan, ví dụ: đánh giá về lượng nhiều hay ít, về chất
tốt hay xấu, về cường độ nhanh hay chậm, về phương hướng xa hay gần
Trong hệ thống từ vựng, nghĩa biểu thái của từ cũng biểu hiện không
đồng đều giữa các từ: những từ có ý nghĩa biểu thái cao nhất là các từ cảm,
các trợ từ : ái, ôi, a, chao ôi ; những từ có nghĩa biểu thái thấp hơn là nhóm
từ vừa có ý nghĩa định danh vừa có ý nghĩa biểu thái, đó là những từ ghép, láy
sắc thái hoá và một số từ đơn có ý nghĩa biểu thái ví dụ: lom khom, khấp
khỉnh, tấp tỉnh, đen sì, đỏ làu Nhóm từ có ý nghĩa sắc thái hoá thấp nhất là
nhóm từ có nghĩa định danh thông thường. Muốn tìm hiểu ý nghĩa sắc thái
hoá của những từ định danh thông thường phải đặt nó trong mối quan hệ với
dãy đồng nghĩa để ta so sánh từ này với từ kia, xét nó ở mức độ nào đó. Ví dụ
dãy đồng nghĩa: đi, chuồn, phắn, lặn.
Như vậy, nghĩa của từ có ba thành phần: Nghĩa biểu vật gọi tên sự vật
bên ngoài (khách quan), cụ thể; Nghĩa biểu niệm chỉ khái niệm bên trong (bản
chất), trừu tượng; Nghĩa biểu thái chỉ ý nghĩa đi kèm thái độ, cảm xúc của
Phan Thị Hồng K30B - GDTH
10
Khoá luận tốt nghiệp
“bình cũ” (cái biểu đạt) để chứa “rượu mới” (cái được biểu đạt)) từ vừa thực
hiện được chức năng biểu thị gọi tên, vừa phù hợp với đặc tính tổ chức của
ngôn ngữ.
2.3. Các chiều hướng biến đổi nghĩa của từ
Có hai hướng biến đổi nghĩa: mở rộng và thu hẹp nghĩa.
2.3.1. Mở rộng nghĩa
Quá trình biến đổi nghĩa từ cái riêng đến cái chung, từ cái cụ thể xác
định đến cái khái quát trừu tượng được gọi là quá trình mở rộng nghĩa. Nghĩa
được hình thành từ quá trình này gọi là nghĩa rộng.
Từ chua vốn có nghĩa chỉ tính chất của trái cây (chanh chua thì khế
cũng chua – Ca dao) sau còn được chỉ cả đất trồng có chứa nhiều phèn (đất
chua), chỉ các sự vật đã lên men (dưa cải đã chua) Từ trong biểu thị tính
chất tinh khiết, không có gợn, mắt có thể nhìn thấu suốt qua (Nước trong, bầu
trời trong không một gợn mây ). Với câu “Trong như tiếng hạc bay qua”,
trong được dùng để chỉ âm thanh không có tạp âm, không lẫn tiếng ồn Từ
đỏ có thể dùng để chỉ màu sắc của sự vật (cờ đỏ, hoa phượng đỏ) sau còn
được dùng để chỉ sự may mắn (số đỏ, đen bạc đỏ tình). Từ nước vốn có nghĩa
chỉ chất lỏng có trong tự nhiên nói chung (nước sông, nước biển ), nay hợp
chất được tạo ra bởi hydro và oxy cũng gọi là nước.
Trong nội bộ của các từ chua, trong, đỏ trên đây đã có sự biến đổi
nghĩa theo con đường mở rộng nghĩa.
2.3.2. Thu hẹp nghĩa
Là quá trình biến đổi nghĩa từ cái chung đến cái riêng, cái trừu tượng
đến cái cụ thể xác định. Nghĩa được hình thành từ quá trình này là nghĩa hẹp.
Ví dụ từ thành tích lúc đầu chỉ kết quả đạt được, hiện nay kết quả cao mới
được gọi là thành tích. Hoặc từ trốc với nghĩa chỉ bộ phận trên hết, trước hết
của cơ thể người hoặc động vật (cái đầu), nay chỉ còn có nghĩa chỉ một thứ
Phan Thị Hồng K30B - GDTH
12
Khoá luận tốt nghiệp
cánh bướm, cánh chuồn chuồn. Nghĩa 2 chỉ vật có hình tấm rộng bản giống
như cánh chim, cánh bướm, ví dụ: cánh buồm, cánh cửa.
+ Từ mắt: Nghĩa 1 chỉ cơ quan để nhìn của người, của động vật,
ví dụ: đôi mắt, đau mắt Nghĩa 2 chỉ bộ phận ngoài của vỏ dứa, na có hình
giống con mắt, ví dụ: mắt dứa, mắt na.
Nghĩa 2 của các từ cánh, mắt trên đây là nghĩa được biến đổi, phát triển
từ nghĩa 1 theo kiểu ẩn dụ hình thể.
(b) Ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về chức năng
+ Từ lá: Nghĩa 1: lá cây, lá chuối Nghĩa 2: lá phổi (bộ phận nằm
trong lồng ngực của người, động vật, có chức năng giống lá cây trao đổi chất).
+ Từ đầu: Nghĩa 1: chỉ bộ phận trên cùng của người hay phần trứơc
nhất của thân thể động vật, nơi chứa não là trung ương thần kinh có chức
năng điều khiển mọi hoạt động (đau đầu, đầu trâu ). Nghĩa 2: chỉ phần đi
trước của tàu hoả, có chức năng điều khiển cả đoàn tàu. Đầu tàu chạy kéo các
tao tàu chạy, đầu tàu dừng các toa tàu dừng Chức năng chỉ huy điều khiển
này giống đầu người, động vật.
Nghĩa 2 của các từ lá, đầu như đã phân tích ở trên đây được hình thành
từ mối liên tưởng giống nhau về chức năng giữa các sự vật trong thực tế
khách quan.
(c) Ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về màu sắc
+ Từ rêu: Nghĩa: chỉ nhóm thực vật có màu xanh, mọc ở nơi ẩm ướt
(đám rêu, rêu phủ khắp mảng tường). Nghĩa 2: chỉ màu sắc của những vật có
màu xanh giống rêu (quần màu rêu, rèm cửa màu rêu ).
+ Từ nõn chuối: Nghĩa 1: chỉ lá chuối non còn cuộn trong thân cây.
Nghĩa 2: chỉ màu sắc của những vật có màu xanh pha vàng nhạt giống màu
của nõn chuối (màu nõn chuối).
Phan Thị Hồng K30B - GDTH
14
Khoá luận tốt nghiệp
Các ví dụ trên cho thấy đây là hình thức biến đổi nghĩa của từ bằng
Như vậy, có thể nói: Hoán dụ là cách lấy tên gọi của sự vật, hiện
tượng này gọi tên cho sự vật, hiện tượng khác dựa vào mối quan hệ tương
cận giữa chúng.
Mối quan hệ tương cận giữa các đối tượng da dạng phong phú. Sau đây
là một số hình thức hoán dụ phổ biến thường gặp trong thực tế.
(a) Hoán dụ dựa vào mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể
- Từ vai, cổ: Nghĩa 1: cổ cao ba ngấn, khoác túi trên vai. Cổ, vai chỉ
các bộ phận của con người. Nghĩa 2: cổ cày, vai bừa chỉ người phải cáng
đáng những công việc nặng nhọc trong nghề nông.
- Từ tay trong Tay ấy làm ăn giỏi lắm có nghĩa chỉ một con người.
Nghĩa này nảy sinh từ nghĩa chỉ bộ phận của cơ thể người : cái tay.
(b) Hoán dụ dựa vào mối quan hệ giữa vật chứa đựng và vật được chứa
đựng. Ví dụ:
- Từ chai: Nghĩa 1: chỉ đồ đựng bằng thuỷ tinh thường được dùng để
đựng chất lỏng (cái chai, chai nước mắm ). Nghĩa 2: chỉ chất lỏng được
đựng trong cái chai (bán cho hai chai). Chai ở đây có thể là bia, nước ngọt,
tương ớt ).
Mối quan hệ giữa vật chứa đựng và vật được chứa đựng là mối quan
hệ tiếp xúc gần gũi.
(c) Hoán dụ dựa vào mối quan hệ giữa âm thanh và đối tượng phát ra âm
thanh. Ví dụ từ chim chích với từ biểu thị tiếng chim kêu chích chích của loài
chim này, mèo với từ meo meo, tắc kè, v.v
(d) Hoán dụ dựa vào mối quan hệ giữa người và y phục, đồ dùng (vật sở
thuộc). Ví dụ:
Phan Thị Hồng K30B - GDTH
16
Khoá luận tốt nghiệp
Áo chàm đưa buổi phân li / Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay (Tố
Hữu) (trang phục) biểu thị người Việt Bắc.
Có nhiều kiểu hoán dụ nữa, ngoài những dạng phổ biến đã nêu trên
này mang tính võ đoán (không có lí do), còn nghĩa phái sinh có thể giải thích
được. Người Việt không rõ vì sao gọi hoạt động di chuyển của chân với vận
tốc là chạy, nhưng lại hiểu lí do về tên gọi của chạy trong các kêt hợp chạy
chợ, chạy án, chạy trường là khẩn trương, gấp gáp Các nghĩa phái sinh có
thể được phát triển từ mỗi nét nghĩa của nghĩa gốc. Chẳng hạn: từ cánh để chỉ
bộ phận của máy bay (cánh máy bay) bắt nguồn chỉ sự đối xứng qua bên này,
bên kia của chim, côn trùng; để chỉ bộ phận của cái quạt (cánh quạt) lại xuất
phát từ nét nghĩa chỉ chức năng phát ra gió khi bay của chim, ong ; nét nghĩa
hình thành nên nghĩa phái sinh của từ cánh trong cánh cửa “có thể mở ra
khép vào khi bay của cánh chim” Hay nét nghĩa chỉ thuộc tính có hình dài
của từ mướp (quả mướp) là cơ sở hình thành nghĩa phái sinh của từ này: vú
mướp; nét nghĩa chỉ đặc tính khi già thành xơ của nó lai được dùng để chỉ vải
vóc, quần áo, người: rách mướp, mẹ mướp.
5.2. Căn cứ vào sự khác nhau về tần số sử dụng và mối quan hệ đối với các từ
khác, có thể chia nghĩa của từ đa nghĩa thành nghĩa chính và nghĩa phụ.
Nghĩa chính là nghĩa thường được dùng của từ. Nó ít lệ thuộc vào ngữ
cảnh. Chẳng hạn nghĩa chính của từ cây là chỉ cái cây, nghĩa chính của từ
vàng là chỉ kim loại quý hiếm.
Nghĩa phụ là nghĩa chỉ dùng trong một số ngữ cảnh. Chẳng hạn, khi từ
cây được dùng để chỉ những sự vật giống cái cây thì đó là nghĩa phụ của từ
cây. Với nghĩa này cây chỉ xuất hiện trong một số kết hợp như: cây cột, cây
cầu, cây bút, v.v Hoặc nghĩa chỉ “sự quý hiếm, đáng trân trọng” của từ vàng
là nghĩa phụ, nó chỉ xuất hiện trong một vài kết hợp như: tấm lòng vàng, bàn
tay vàng, chất lượng vàng. Hoặc nghĩa chính của từ xanh là chỉ màu sắc của
Phan Thị Hồng K30B - GDTH
18
Khoá luận tốt nghiệp
sự vật trong thực tế (lá xanh, trời xanh ), nghĩa biểu thị trạng thái tâm lí của
người trong trường hợp sợ xanh mặt là nghĩa phụ.
5.3. Căn cứ vào sự khác nhau của mối quan hệ đối với nhận thức, nghĩa của từ
- Trường Tiểu học Trưng Nhị – Thị xã Phúc Yên – Vĩnh Phúc (khu
vực thị xã).
Chúng tôi thu được kết quả như sau.
1. Dạng 1: Bài tập phát hiện từ ngữ.
Nội dung của mỗi đoạn trích, mỗi tác phẩm đều được thể hiện trên những
từ ngữ có trên văn bản. Vì vậy việc phát hiện từ ngữ biểu hiện một nội dung
nào đó trong tác phẩm là bước đầu tiên quan trọng để từ đó các em có thể rút
ra nội dung ý nghĩa của toàn tác phẩm, thấy được cái hay cái đẹp của tác
phẩm đó. Và việc phát hiện ra từ ngữ là biểu hiện ban đầu của việc hiểu ý
nghĩa của từ ngữ.
Đề bài mà chúng tôi đưa ra khảo sát tại hai trường Tiểu học Xuân Phú và
Trường Tiểu học Trưng Nhị là:
- Khối 4
Phan Thị Hồng K30B - GDTH
20
Khoá luận tốt nghiệp
Đọc kỹ bài tập đọc “Dế Mèn bênh vực kẻ yếu” – Sgk TV4, Tr 4 và
hãy tìm từ ngữ thể hiện chị Nhà Trò rất yếu ớt.
- Khối 5
“Những ngày thu đã xa” được đặc tả trong hai khổ thơ đầu bài “Đất
nước” (Nguyễn Đình Thi), đẹp mà buồn. Em hãy tìm từ ngữ để nói lên điều
đó.
Chúng tôi thu được kết quả như sau
1.1. Kết quả khảo sát
a. Khối 4
Những từ ngữ thể hiện chị Nhà Trò rất yếu ớt là : Bé nhỏ, gầy yếu, người
bự những phấn như mới lột, (cánh) mỏng, ngắn chùn chùn, (cánh) yếu.
Tiểu học Xuân Phú (70 phiếu)
SL Từ
Lớp
4 5,7 14 20 18 25,7 13 18,5 16 22,9 5 7,1
THTN
64 phiếu
1 1,6 3 4,7 15 23,4 15 23,4 12 18,7 18 28,2
b. Khối 5
Những từ ngữ đặc tả “Những ngày thu đã xa” trong hai khổ thơ đầu bài
“Đất nước” (Nguyễn Đình Thi), đẹp mà buồn : mát, trong, gió , hương cốm,
chớm lạnh, xao xác, hơi may, lá rơi.
Tiểu học Xuân Phú (65 phiếu)
SL
Từ
Lớp
3 4 5 6 7 8
SL % SL % SL % SL % SL % SL %
5A
32 phiếu
1 3,1 2 6,25 7 21,8 7 21,8 10 31,2 5 15,6
5B
33 phiếu
3 8 4 12,1 5 15,1 10 30,3 8 24,3 3 9
Phan Thị Hồng K30B - GDTH
22
Khoá luận tốt nghiệp
Tiểu học Trưng Nhị (60 phiếu)
SL Từ
Lớp
3 4 5 6 7 8
SL % SL % SL % SL % SL % SL %
5A1
30 phiếu
Khoá luận tốt nghiệp
Tiểu học Trưng Nhị: 15 bài = 23,4%
Tìm đúng được 5 từ, ngữ
Tiểu học Xuân Phú: 16 bài = 22,9%
Tiểu học Trưng Nhị: 12 bài = 18,7%
Tìm đúng được 6 từ, ngữ
Tiểu học Xuân Phú: 5 bài = 7,1%
Tiểu học Trưng Nhị: 18 bài = 28,2%
Số bài tìm được đầy đủ chính xác từ ngữ thể hiện chị Nhà Trò yếu ớt có
sự chênh lệch nhau đáng kể giữa hai trường Tiểu học Xuân Phú và Tiểu học
Trưng Nhị (21,1%).
Một thực tế mà chúng tôi thu được đó là ngoài việc tìm những từ ngữ thể
hiện chị Nhà Trò yếu ớt, các em còn tìm sang cả những từ ngữ thể hiện Nhà
Trò rất nghèo túng, đáng thương. Cụ thể Tiểu học Xuân Phú : 60 bài (85%),
Tiểu học Trưng Nhị : 50 bài (80%)
Như vậy số bài tìm từ chưa chính xác chiếm lớn hơn 80%. Đây là một
thực trạng mà mỗi giáo viên cần lưu tâm.
Nhiều học sinh chưa xác định được ranh giới từ ngữ và câu, có rất nhiều
em đưa ra hẳn một câu chứa từ ngữ cần phát hiện. Cụ thể
“Chị Nhà Trò bé nhỏ lại gầy yếu quá”
(Phương Thảo 4A1 – Tiểu học Trưng Nhị)
“Chị mặc áo thâm dài, đôi chỗ điểm vàng, hai cánh mỏng như
cánh bướm non”
(Nguyễn Hồng Phượng 4A1 – Tiểu học Trưng Nhị)
“Chị ngồi gục đầu bên tảng đá cuội”
(Tiểu học Xuân Phú)
“Hình như cánh yếu quá chưa quen mở, mà cho dù có khoẻ cũng
chẳng bay được xa”
Phan Thị Hồng K30B - GDTH
24