MỤC LỤC
A – LỜI NÓI ĐẦU .........................................................................................1
B – NỘI DUNG CHÍNH. ..............................................................................1
I – MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG. ................................................................1
1,Khái niệm người nước ngoài ..........................................................................1
2, Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài. ......................................2
3, Khái niêm nhà ở …………………………………………………………..…3
II – CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHO PHÉP
NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC
NGOÀI SỞ HỮU NHÀ TẠI VIỆT NAM………………………………….….3
1, Các quy định của pháp luật hiện hành về cho phép người Việt Nam định
cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam………………………………..…3
1.1 . Đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà tại
Việt Nam…………………………………………………………………..…….3
1.2. Điều kiện người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà tại
Việt Nam………………………………………………………………………10
1.3. Quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở là người Việt
Nam định cư ở nước ngoài ……………………………………………..….…11
2, Các quy định của pháp luật hiện hành về cho phép người nước ngoài sở
hữu nhà ở tại Việt Nam……………………………………………………….15
2.1 .Các quy định về đối tượng và điều kiện để người nước ngoài sở hữu
nhà tại Việt Nam…………………………………...………………………….15
2.2. Quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở là người nước
ngoài……………………………………………………………………………17
C – KẾT LUẬN ……………………………………………………………19
1
A – LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với xu hướng mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, để đảm
bảo sự phát triển của đất nước có thể theo kịp với khu vực và thế giới, chúng ta
đã không ngừng phát huy sức mạnh nội lực kết hợp với việc thu hút những
nguồn lực từ bên ngoài. Trong xu thế đó, số lượng người nước ngoài cũng như
theo Điều 2 Nghị định 81/2001/NĐ-CP ngày 5-11-2001 quy định về việc người
Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà tại Việt Nam: “Người Việt Nam định
cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam là người gốc Việt Nam cư trú và làm ăn
sinh sống lâu dài tại nước ngoài”. Đối tượng người Việt Nam sống ở nước ngoài
bao gồm : những người còn quốc tịch Việt Nam nhưng đang sinh sống ở nước
ngoài và những người gốc Việt Nam hiện không còn quốc tịch Việt Nam nữa
(người gốc Việt Nam).
Khi Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 ra đời thay thế Luật quốc tịch
Việt Nam năm 1998, quy định về người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã rõ
ràng và chi tiết hơn. Khoản 3 Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 kế thừa
quy định của Luật quốc tịch năm 1998, đồng thời bổ sung thêm định nghĩa về
người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người đã từng có quốc tịch Việt
Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo huyết thống và con,
cháu đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.
Như vậy, khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm hai
nhóm chủ thể là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài và người gốc Việt Na
định cư ở nước ngoài.
3
3, Khái niêm nhà ở
Theo điều 1 Luật Nhà ở năm 2005: “Nhà ở là công trình xây dưng với
mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sịnh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”.
Điều 3 Nghị định 71/2010/ NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở quy định có các loại nhà ở sau: nhà ở tự
do tạo lập, nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ.
Theo điều1 Nghị quyết 19/2008/QH12, khái niệm nhà ở mà người nước
ngoài được mua và sở hữu có phạm vi hẹp hơn rất nhiều theo đó “ Nhà ở mà cá
nhân, tổ chức nước ngoài được mua và sở hữu theo quy định của Nghị quyết này
là căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại và không thuộc khu
vực hạn chế hoặc cấm người nước ngoài cư trú, đi lại”. Như vậy, khái niệm nhà
ở thuộc điều chỉnh của Nghị quyết 19/2008/QH12 có phạm vi hẹp hơn rất nhiều
2005 đã đánh đồng giữa sở hữu nhà ở của công dân Việt Nam với người nước
ngoài. Theo Hiến pháp năm 1992 và Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, công
dân Việt Nam có quốc tịch Việt Nam người Việt Nam có quốc tịch Việt Nam
còn người gốc Việt Nam là những người trước đây có quốc tịch Việt Nam
nhưng hiện tại đã mang quốc tịch nước khác hoặc là người không quốc tịch. Do
đó, về mặt pháp lý, người gốc Việt Nam là người nước ngoài nhưng với quy
định tại Luật Nhà ở năm 2005, quyền sở hữu nhà ở giữa công dân Việt Nam và
người gốc Việt Nam là ngang nhau với những điều kiện sở hữu như nhau. Điều
này là không công bằng với những người Việt Nam luốc muốn giữ quốc tịch
Việt Nam để làm công dân Việt Nam trong khi những người khác đã từ bỏ quốc
tịch Việt Nam.
Hai là , quy định tại Điều 126 Luật Nhà ở năm 2005 không đảm bảo
được nguyên tắc hiến định là “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”, thể
hiện ở công dân Việt Nam đang định cư ở nước ngoài nếu không thuộc diện
5
những nhà đầu tư, nhà khoa học … thì sẽ không được sở hữu nhà ở một cách tự
do về số lượng như công dân Việt Nam định cư ở trong nước. Nói cách khác ,
theo quy định này thì chỉ những công dân định cư ở nước ngoài mang lợi ích về
cho đất nước mới được quyền sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam. Điều này
có phần vô lý vì trong khi có những người Việt Nam định cư ở nước ngoài
không mang quốc tịch Việt Nam thì được phép mua và sở hữu nhà ở tại Việt
Nam người mang quốc tịch Việt Nam lại không có quyền đó. Trong khi đó,
quyền sở hữu nhà ở của mọi công dân Việt Nam đã được quy định tại Điều 58
Hiến pháp năm 1992.
Vì vậy, để khắc phục những bất cập trên, Quốc hội đã ban hành Luật số
34/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của
Luật Đất đai. Theo đó, Điều 126 Luật Nhà ở năm 2005 đã được sửa đổi như sau:
“1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây
được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba
tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia
đất nước. Đồng thời quy định mới này cũng đảm bảo được sự công bằng trong
vấn đề sở hữu nhà ở giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với công dân
Việt Nam ở trong nước.
Thứ hai, đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư trực
tiếp tại Việt Nam: Theo Điểm b Khoản 2 Điều 66 Nghị định 71/2010/NĐ – CP,
đây là những người trực tiếp đầu tư theo quy định của Luật đầu tư được cấp
Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan
có thẩm quyền của Việt Nam cấp. Những đối tượng này đóng góp một vai trò
quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước. Trong thời gian qua, đặc biệt
là những năm gần đây số lượng Việt kiều đầu tư về Việt Nam khá nhiều, họ có
đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế của nước ta. Việc quy định cho đối tượng
7
này được mua nhà tại Việt Nam là một chính sách hợp lý và cần thiết , một mặt
thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với kiều bào , mặt khác khuyến khích họ
đầu tư, góp phần xây dựng đất nước. Có nhà ở tại Việt Nam sẽ giúp họ có một
cuộc sống ổn định, thuận tiện cho hoạt động đầu tư , đồng thời giúp họ cảm thấy
gắn bó hơn với quê hương, đất nước, mong muốn đóng góp nhiều hơn cho quê
hương.
Thứ ba, đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có công đóng góp
với đất nước: Theo Điểm b Khoản 2 Điều 66 Nghị định 71/2010/NĐ – CP,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài có công đóng góp với đất nước bao gồm:
- Người được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có
công với cách mạng có giấy tờ chứng minh được hưởng chế độ ưu đãi do cơ
quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp;
- Người có thành tích đóng góp trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng
đất nước được Chủ tịch nước , Chính phủ tặng Huân chương, Huy chương; được
Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen;
- Người được Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam hoặc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan quản lý ngành ở Trung ương
tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp của ngành đó;