Phân tích bốn trụ cột giáo dục của UNESCO - Pdf 26

Phân tích bốn trụ cột giáo dục của UNESCO
HỌC ĐỂ BIẾT
Khi bạn học để biết tức là bạn không quan tâm nhiều đến việc tiếp thu
lượng kiến thức đã được cấu trúc sẵn mà điều bạn quan tâm là làm sao
để nắm vững được các công cụ học tập. Nói cách khác, đó là học cách
học chứ không phải học kiến thức. Có thể xem học để biết vừa là phương
tiện vừa là mục đích của cuộc sống. Nếu xem đó là phương tiện, bạn cần
phải học để hiểu thế giới xung quanh mình, ít nhất là hiểu để có thể sống
một cuộc sống được tôn trọng, phát triển các kỹ năng nghề nghiệp và
giao tiếp với người khác. Nếu xem học để biết là một mục đích thì việc
học này phải xuất phát từ sự yêu thích tìm hiểu và khám phá kiến thức.
Khía cạnh này của việc học thường được tìm thấy ở các nhà nghiên cứu,
tuy nhiên, với một phương pháp giảng dạy tốt thì ai cũng có thể áp dụng
được. Kiến thức của bạn càng rộng thì bạn càng hiểu được nhiều khía
cạnh của cuộc sống hơn. Học theo cách như thế khuyến khích sự tò mò
trí tuệ nhiều hơn, mài giũa khả năng phê phán và thúc đẩy bạn phát triển
các phán xét độc lập của mình về thế giới chung quanh. Với cách nhìn
việc học như thế thì mọi trẻ em, dù sống ở nơi nào, cũng phải được cơ
hội tiếp cận với một nền giáo dục khoa học và trở thành những người
bạn của khoa học trong suốt cuộc đời mình.
Tuy nhiên, vì kiến thức vô cùng phong phú và có thể được phát triển vô
bờ bến, thật vô ích khi ai đó nỗ lực học để biết hết tất cả. Thực tế là sau
khi hoàn thành giai đoạn giáo dục cơ bản, ý tưởng sẽ trở thành một
chuyên gia đa lĩnh vực là một ảo tưởng. Chính vì thế mà các chương
trình giáo dục trung học phổ thông và đại học được thiết kế xoay quanh
một vài ngành học cụ thể với mục đích là cung cấp cho người học các
công cụ, ý tưởng và những phương pháp tham khảo.
Nhưng giáo dục chuyên sâu lại cũng không có nghĩa là không cần giáo
dục đại cương. Giáo dục ngày nay phải cung cấp cho người học các kiến
thức đại cương rộng rãi, đồng thời cũng phải tạo điều kiện để người học
có cơ hội tiếp cận nghiên cứu chuyên sâu một số các môn học họ yêu

năng thiết lập các mối liên hệ giữa các dữ kiện “có bà con xa lắc xa lơ”
với nhau tốt hơn cả máy tính. Khả năng đặc trưng của con người về việc
liên kết các dữ kiện được ghi nhớ là quá trình không thể tự nhiên mà có.
Quá trình này phải được tập luyện, trau dồi một cách cẩn thận. Hơn thế
nữa, các nhà nghiên cứu cũng cho rằng kỹ năng ghi nhớ phải được phát
triển từ lúc còn bé, và thật nguy hiểm nếu bỏ đi các bài tập tập kiểu
truyền thống ở trường (tức là học thuộc lòng) bởi vì chúng bị cho là quá
nhàm chán.
Kỹ năng suy nghĩ (hay tư duy) là điều mà trẻ con học được đầu tiên ở
cha mẹ và thầy cô. Quá trình này cần phải chứa đựng trong nó cả hai kỹ
năng giải quyết vấn đề thực tế và tư duy trù tượng. Vì thế giáo dục và
nghiên cứu cần phải kết hợp cả lý luận diễn dịch (deductive) và quy nạp
(inductive), mà hai quá trình này thường được xem là đối lập nhau.
Trong khi kiểu lý luận này được xem là phù hợp hơn kiểu lý luận kia, tùy
vào môn học được giảng dạy, nhìn chung là không thể theo đuổi một
dòng tư tưởng logic nếu không kết hợp cả hai.
Quá trình học để tư duy (suy nghĩ) kéo dài suốt đời và có thể được nâng
cao bởi bất cứ loại kinh nghiệm nào của con người. Ở khía cạnh này, khi
công việc của con người ngày càng bớt nhàm chán họ sẽ nhận ra rằng kỹ
năng tư duy của mình ngày càng được thử thách ở nơi công tác.

HỌC ĐỂ LÀM
Học để làm liên quan mật thiết đến câu hỏi làm thế nào để giáo dục và
đào tạo có thể trang bị cho người học các kiến thức và kỹ năng cần thiết
cho công việc sau này. Ở đây chúng ta sẽ phân biệt rõ hai loại công việc:
làm công ăn lương (wage-earners) và tự làm chủ (self-employment).
Làm công ăn lương phát triển mạnh suốt thế kỷ 20 do sự phát triển của
các nền công nghiệp. Với sự tự động hóa ngày càng cao, người làm công
ăn lương càng trở nên khó nhận thấy được (intangible). Tuy vậy, làm
công ăn lương nhấn mạnh mảng kiến thức trong công việc, thậm chí

vào năng lực cá nhân chứ không dựa vào những bằng cấp chứng nhận kỹ
năng mà họ đạt được vì những kỹ năng này, theo họ, chỉ thể hiện khả
năng làm được những công việc chân tay cụ thể. Năng lực cá nhân này
được đánh giá qua việc quan sát một tập hợp những kỹ năng và tài năng,
kết hợp các kỹ năng được đào tạo với các cách hành xử trong xã hội, các
sáng kiến cá nhân và một tinh thần sẵn sàng chấp nhận rủi ro.
Nếu ta thêm một yêu cầu về sự cam kết cá nhân của người nhân viên
trong vai trò là các tác nhân tạo ra sự thay đổi, rõ ràng là loại năng lực cá
nhân này còn bao gồm cả các tư chất mang tính bẩm sinh hoặc được tiếp
thu mà ngày nay người ta thường gọi là các kỹ năng “quan hệ với con
người” (“people skills” hay “interpersonal skills”). Trong những phẩm
chất đó, kỹ năng giao tiếp (communication skills), kỹ năng làm việc theo
nhóm và giải quyết vấn đề (team and problem-solving skills) được xem
là quan trọng nhất. Tốc độ phát triển của ngành kinh tế dịch vụ đã dẫn
đến sự gia tăng của xu hướng này.
Sự “chia tay” với các công việc tay chân – các ngành công nghiệp
dịch vụ
Trong các nền kinh tế tiên tiến có sự “chia tay” với các công việc tay
chân. Hàm ý của điều này đối với giáo dục càng rõ hơn nữa khi ta nhìn
vào sự phát triển của các ngành kinh tế dịch vụ cả về số lượng lẫn chất
lượng. 60-80% dân số trong độ tuổi lao động ở các nước công nghiệp
hoá đang làm việc trong lĩnh vực dịch vụ. Đặc điểm nổi bật của lĩnh vực
rộng lớn này là nó bao gồm toàn bộ các hoạt động không phải công
nghiệp cũng không phải nông nghiệp, và dù vô cùng phong phú, nó cũng
không liên quan đến một sản phẩm hữu hình nào.
Nhiều loại hình dịch vụ được định nghĩa chủ yếu dựa vào các mối quan
hệ giữa người với người (interpersonal relationship) có liên quan. Bằng
chứng cho điều này được tìm thấy cả ở khu vực dịch vụ tư nhân như dịch
vụ bảo vệ, dịch vụ tư vấn công nghệ cao, dịch vụ tài chính, kế toán, quản
lý và ở cả khu vực nhà nước như dịch vụ xã hội, dịch vụ y tế, giáo dục.

và bí quyết (know-how) chính là điều họ rút ra được từ công việc của
mình. Vì lý do này mà giáo dục không thể được đúc khuôn theo các kiểu
mẫu dường như chỉ thích hợp với các xã hội hậu công nghiệp. Ngoài ra,
chức năng của học tập không thể chỉ giới hạn ở công việc mà còn phải
đạt tới mục đích rộng hơn, đó chính là sự tham gia chính thức hoặc
không chính thức vào quá trình phát triển. Để đạt được điều này, người
học cần phải được trang bị các kỹ năng xã hội bên cạnh những kỹ năng
nghề nghiệp.
Ở các nước đang phát triển khác, một nền kinh tế hiện đại và phi chính
thức phát đạt dựa vào thương nghiệp và tài chính có thể tồn tại bên cạnh
một khu vực kinh tế chính thức nhỏ hơn và nông nghiệp. Hai nền kinh tế
(chính thức và phi chính thức) song song này cho thấy sự hiện diện của
các cộng đồng doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được các đòi hỏi địa
phương.
Trong cả hai trường hợp, việc cung cấp các hình thức đào tạo đắt tiền với
giảng viên được mời từ các trường nước ngoài và tư liệu giảng dạy quốc
tế là không cần thiết. Ngược lại, giáo dục phải được phát huy từ sự phát
triển nội sinh bằng cách củng cố các tiềm lực địa phương (local
potential) và tinh thần trao quyền lực (the spirit empowerment).
Đến đây, chúng ta phải đối mặt với câu hỏi được đặt ra ở cả các nước
phát triển và đang phát triển: Con người học cách hành động một cách
thích hợp trong các hoàn cảnh không chắc chắn như thế nào? Họ tham
gia vào việc định hướng tương lai như thế nào?
Làm thế nào để con người được chuẩn bị sẵn sàng cho đổi mới?
Câu hỏi này được hỏi ở cả những nước phát triển và đang phát triển.
Điều cơ bản của câu hỏi này là làm sao để phát triển các sáng kiến cá
nhân. Một điều nghịch lý là, những quốc gia giàu có nhất lại thường bị
gò bó ở mặt này vì được tổ chức quá chỉnh chu và hình thức bởi các quy
chuẩn, đặc biệt là trong hệ thống giáo dục, và vì nỗi lo sợ mạo hiểm nào
đó do chính sự hợp lý hóa của mô hình kinh tế mang lại. Chắc chắn là

sản xuất, người phát minh ra những phương pháp kỹ thuật mới và một
người biết-mơ-mộng-một-cách-tích-cực.
Sự phát triển này của một người, bắt đầu từ khi sinh ra và tiếp tục cho
đến hết cuộc đời, là một quá trình biện chứng dựa vào kiến thức mình có
và các mối quan hệ với người khác. Sự phát triển này cũng cho ta những
phỏng đoán rằng người này sẽ có những kinh nghiệm thành công. Với tư
cách là một phương tiện đào tạo cá tính, giáo dục phải là một quá trình
đặc thù hóa cao độ và cũng là một kinh nghiệm xã hội mang tính tương
tác cao.
Từ đầu những năm 70, người ta đã bắt đầu lo sợ những tiến bộ về kỹ
thuật sẽ làm cho thế giới trở nên mất dần nhân tính. Vì thế người ta cho
rằng giáo dục phải làm sao cho người học có khả năng tự giải quyết các
vấn đề của mình, tự ra quyết định và tự chịu trách nhiệm về những quyết
định đó. (Thông điệp này là tiền đề cho việc giáo dục kỹ năng sống mà
hiện nay nước ta đang áp dụng.) Kể từ đó, tất cả các tiến bộ trong những
lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là sự gia tăng đáng kinh ngạc quyền lực của
thông tin đại chúng, đều làm cho nỗi lo sợ đó tăng thêm và tạo ra cảm
giác rằng nó càng ngày hợp pháp. Thay vì giáo dục trẻ em trong một xã
hội đã định hình sẵn, thách thức mới sẽ là làm sao để mọi người luôn có
đủ các năng lực cá nhân và các công cụ tri thức cần thiết để hiểu thế giới,
hành xử một cách không thành kiến và đầy trách nhiệm. Hơn bao giờ
hết, nhiệm vụ cấp bách của giáo dục là hiện giờ có lẽ là đảm bảo cho mọi
người có được sự tự do trong tư duy, phán xét, cảm nhận, sáng tạo để
phát triển tài năng của mình và kiểm soát được cuộc sống của mình càng
nhiều càng tốt.
Đây không đơn giản chỉ là lời kêu gọi của chủ nghĩa cá nhân. Những
kinh nghiệm gần đây cho thấy rằng những gì chỉ là cơ chế tự vệ cá nhân
chống lại một hệ thống xa lạ không thân thiện cũng tạo cơ hội tốt cho
tiến bộ xã hội. Nơi nào có những sự khác biệt mang dấu ấn của cá tính,
sự độc lập và các sáng kiến cá nhân, hoặc chỉ là việc làm đảo lộn một trật

năng tự hủy diệt vô cùng to lớn mà con người đã tạo ra trong suốt thế kỷ
20. Kế đến là khả năng của thông tin đại chúng trong việc cung cấp cho
toàn thế giới những thông tin và báo cáo không thể thẩm tra được về các
mâu thuẫn đang diễn ra. Dư luận quần chúng trở thành một người quan
sát vô dụng hoặc thậm chí là con tin của những kẻ khởi xướng hay duy
trì mâu thuẫn. Cho đến giờ, giáo dục vẫn chưa thể làm gì để giảm nhẹ
tình trạng này. Chúng ta có thể làm tốt hơn bằng cách tự giáo dục mình
để tránh xảy ra mâu thuẫn hoặc để giải quyết mâu thuẫn trong hòa bình?
Dù việc giáo dục về tính phi bạo lực trong trường học được đánh giá cao,
nhưng thực tế nội dung giảng dạy này cũng chưa đủ. Thách thức càng trở
nên khó khăn hơn khi con người có thiên hướng đánh giá quá cao khả
năng của mình, hoặc khả năng của nhóm mình để từ đó áp đặt thành kiến
lên những người khác hoặc những nhóm còn lại. Hơn thế nữa, một môi
trường cạnh tranh chung được thể hiện ở tất cả các nền kinh tế nội địa và
quốc tế đang có xu hướng biến tính ganh đua và thành công của cá nhân
thành những giá trị hiện đại. Thực tế, tính ganh đua ngày nay đã bị biến
thành một cuộc chiến kinh tế tàn nhẫn và một tình trạnh căng thẳng giữa
các nước giàu và nghèo, xé toang các quốc gia và thế giới này và làm
trầm trọng thêm những sự kình địch lịch sử. Thật đáng tiếc, với việc hiểu
sai nghĩa của từ “cạnh tranh”, giáo dục đôi khi lại giúp duy trì tình trạng
trên.
Chúng ta có thể làm tốt hơn bằng cách nào? Kinh nghiệm cho thấy nếu
chỉ thiết lập mối liên hệ và thông tin giữa những người đáng tin cậy được
giao trọng trách dấn thân vào mâu thuẫn để làm giảm nguy cơ (ví dụ như
ở các trường học đa chủng tộc và đa giáo phái) là chưa đủ. Nếu những
nhóm khác nhau là địch thủ của nhau hoặc nếu họ không có cùng địa vị
trong cùng một khu vực địa lý, những mối liên hệ như thế có khi lại có
tác dụng ngược lại điều mà nó mong muốn – có khi nó lại tạo ra những
căng thẳng ngầm và suy thoái thành cơ hội cho mâu thuẫn xuất hiện.
Mặc khác, nếu mối liên hệ này được đặt trong một bối cảnh trung lập với

có thể cung cấp một công cụ tham khảo hữu ích để hun đúc những hành
vi đúng đắn trong tương lai.
Sau hết, phương pháp giảng dạy quá giáo điều trong trường học thường
dập tắt hết những tò mò và phê bình lành mạnh từ phía học trò. Người
giáo viên, ngược lại, phải dạy cho học trò cách tham gia vào những cuộc
tranh luận sống động để các em nhận ra rằng ai cũng có quyền của mình.
Nếu quên rằng mình chính là những “người mẫu” đối với học trò mà vẫn
tiếp tục cứng nhắc và giáo điều, giáo viên sẽ làm cản trở sự cởi mở của
trẻ với những người xung quanh và bào mòn khả năng đương đầu với
những căng thẳng không thể tránh khỏi trong cuộc sống của các em
(những căng thẳng giữa cá nhân với nhau, giữa nhóm với nhóm, hoặc
lớn hơn là giữa quốc gia với quốc gia). Vì thế, một trong những công cụ
cần thiết của giáo dục trong thế kỷ 21 là cần có một diễn đàn để đối thoại
và thảo luận.
Hướng đến một mục tiêu chung
Khi con người làm việc cùng nhau trong cùng những dự án với những
hoạt động không quen thuộc với họ, những sự khác biệt, thậm chí cả mâu
thuẫn giữa họ có xu hướng sẽ giảm dần và có khi mất đi. Một hình thái
nhận dạng mới sẽ ra đời từ những dự án như thế, giúp các thành viên
nhóm vươn ra khỏi những lối mòn trong cuộc sống cá nhân, vun đắp cho
giá trị chung của nhóm và chống lại những gì chia rẽ họ. Một ví dụ dễ
thấy nhất là trong thể thao, căng thẳng (nếu có) giữa những người thuộc
các tầng lớp xã hội khác nhau hoặc quốc tịch khác nhau sẽ dần dần được
gắn vào tinh thần đoàn kết và cam kết của toàn đội vì sự nghiệp chung.
Trong công việc cũng vậy. Người ta không thể đạt được ngần ấy thành
tựu nếu thất bại trong việc vượt qua mâu thuẫn thường xuất phát từ việc
sắp xếp thứ bậc để tham gia vào một dự án chung.
Vì thế, giáo dục chính quy phải thiết kế chương trình học sao cho người
học có đủ thời gian và cơ hội để đến với các dự án hợp tác ngay từ
những năm đầu đời, bắt đầu từ những hoạt động thể thao và văn hóa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status