1 Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
LỜI MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 9
KHÁI QUÁT VỀ THU NHẬP VÀ GIÁO DỤC CỦA HỘ GIA ĐÌNH 9
CHƯƠNG 2 41
PHÂN TÍCH THỐNG KÊ THU NHẬP VÀ GIÁO DỤC CỦA HỘ GIA
ĐÌNH VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI TIÊU THỨC NÀY 41
PHỤ LỤC 71
Nguyễn Nam Phương Thống kê 47A
2 Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Nam Phương Thống kê 47A
3 Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Các biểu số liệu
Biểu 2.1: Thu nhập bình quân 1 nhân khẩu 1 tháng chia theo thành thị -
nông thôn giai đoạn 1998 – 2006
38
Biểu 2.2: Thu nhập bình quân 1 nhân khẩu 1 tháng chia theo nhóm thu
nhập giai đoạn 2002 – 2006
38
Biểu 2.3: Thu nhập bình quân đầu người chia theo giới tính của chủ hộ giai
đoạn 2002 – 2006
40
Biểu 2.4: Thu nhập bình quân 1 nhân khẩu 1 tháng chia theo năm nhóm thu
nhập và giới tính của chủ hộ giai đoạn 2002 – 2006
49
Biểu 2.12: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo bằng cấp cao nhất và giới
tính giai đoạn 1998 – 2006
50
Biểu 2.13: Chi cho giáo dục đào tạo bình quân 1 người theo vùng
năm 2006
51
Biểu 2.14: Chi cho giáo dục đào tạo bình quân 1 người trong 12 tháng theo
nhóm thu nhập năm 2006
53
Biểu 2.15: Bằng cấp cao nhất của dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo giới tính
năm 2006
Nguyễn Nam Phương Thống kê 47A
5 Chuyên đề tốt nghiệp
55
Biểu 2.16: Học lực của học sinh phổ thông chia theo giới tính
năm học 2006
57
Biểu 2.17: Mối quan hệ giữa TNBQ và Trình độ trên CĐ phân theo nhóm
thu nhập năm 2006
58
Biểu 2.18: Mối liên hệ giữa TNBQ đầu người 1 tháng với các nhân tố liên
quan đến giáo dục
61
7 Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
“Dân giàu – nước mạnh, xã hội công bằng – dân chủ – văn minh” là chủ
trương và cũng là mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta theo tinh thần dân có
giàu thì nước mới mạnh. Trong những năm đổi mới, dưới sự chỉ đạo của
Đảng và nhà nước, Tổng cục Thống kê triển khai nhiều cuộc điều tra hộ gia
đình để thu thập thông tin phản ánh mức sống của các tầng lớp dân cư phục
vụ hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.
Khảo sát mức sống hộ gia đình được tiến hành định kỳ hai năm một lần
và năm chẵn, từ năm 2002 đến năm 2010. Kết quả khảo sát được dùng làm cơ
Nguyễn Nam Phương Thống kê 47A
8 Chuyên đề tốt nghiệp
sở để đánh giá việc thực hiện các chủ trương, chính sách của chính phủ và
hiệu quả của nó. Từ số liệu của cuộc khảo sát, em đã sử dụng số liệu về thu
nhập và giáo dục để phục vụ cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp: “Phân tích
thu nhập và giáo dục của hộ gia đình giai đoạn 2002 – 2006”.
Trong đề tài này, trước hết về thu nhập, em sử dụng số liệu vào phân tích
nhằm làm sáng tỏ sự khác biệt về thu nhập của từng vùng, từng thành phố,
từng nhóm thu nhập,…, với nhau. Từ đó rút ra những đặc điểm chung nhất về
sự khác biệt nêu trên. Đối với giáo dục, từ số liệu khảo sát em sẽ phân tích sự
chênh lệch về chi phí dành cho giáo dục, trình độ học vấn, học lực…giữa các
vùng, các nhóm thu nhập, các dân tộc…kết quả đạt được là cơ sở cho các kết
luận mang tính khách quan nhất. Dựa vào những phân tích trên, em phân tích
thêm mối quan hệ giữa thu nhập và giáo dục của hộ gia đình. Những phân
tích này giúp em nắm bắt được sự tương quan giữa thu nhập và giáo dục, tầm
quan trọng cũng như sức ảnh hưởng của hai yếu tố đến nhau.
Thu nhập ảnh hưởng đến giáo dục như thế nào? Đây không phải là một
câu hỏi khó nhưng không phải là ai cũng biết câu trả lời, và là một câu hỏi
không phải chỉ một hai người quan tâm mà là mối quan tâm chung của toàn
xã hội. Tìm ra mối quan hệ giữa giáo dục và thu nhập, từ đó có thể tiến hành
Khái niệm mức sống dân cư cho ta một cơ sở vững chắc để sử dụng các
kết quả của điều tra mức sống hộ gia đình, từ đó rút ra những kết luận khách
quan nhất về mức sống của các tầng lớp dân cư trong nước.
Sau đây là một vài nét khái quát về khảo sát mức sống hộ gia đình:
1.1.1.1. Khảo sát mức sống hộ gia đình
Khảo sát mức sống hộ gia đình là cuộc khảo sát định kỳ 2 năm một lần
vào các năm chẵn bắt đầu từ năm 2002 đến năm 2010
1.1.1.2. Mục đích khảo sát
Khảo sát mức sống hộ gia đình nhằm mục đích thu thập các thông tin
làm căn cứ đánh giá mức sống, đánh giá tình trạng nghèo đói và phân hóa
giàu nghèo để phục vụ công tác hoạch định các chính sách, kế hoạch và các
chương trình mục tiêu quốc gia của Đảng và Nhà nước nhằm không ngừng
nâng cao mức sống dân cư trong cả nước, các vùng và các địa phương.
Ngoài ra, khảo sát mức sống còn thu thập các thông tin phục vụ nghiên
cứu, phân tích một số chuyên đề về y tế, giáo dục, việc làm, cung cấp số liệu
để tính quyền số chỉ số giá tiêu dùng và phục vụ tính toán tài khoản quốc gia.
1.1.1.3. Nội dung của cuộc khảo sát
Các cuộc khảo sát bao gồm những nội dung chủ yếu phản ánh mức sống
của người dân trong các hộ gia đình trên cả nước và những điều kiện kinh tế
xã hội của xã/phường (năm 2002) và xã (năm 2004, 2006) có tác động đến
người dân nơi họ sinh sống. Các nội dung cụ thể bao gồm:
- Đối với hộ gia đình:
Nguyễn Nam Phương Thống kê 47A
11 Chuyên đề tốt nghiệp
+ Một số đặc điểm về nhân khẩu học của các thành viên trong hộ gồm:
tuổi, giới tính, dân tộc, tình trạng hôn nhân.
+ Thu nhập của hộ gia đình gồm: mức thu nhập, thu nhập phân theo
nguồn thu (tiền công, tiền lương; hoạt động sản xuất tự làm nông nghiệp, lâm
nghiệp, thủy sản; hoạt động sản suất kinh doanh dịch vụ tự làm của hộ gia
đình; thu khác); thu nhập phân theo khu vực kinh tế và ngành nghề kinh tế.
thuộc thành phố thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh/thành phố).
Mẫu khảo sát: xuất phát từ nhu cầu thông tin cả về số lượng và chất
lượng ngày càng tăng ở cả hai cấp trung ương và địa phương để đánh giá mức
sống, đặc biệt là các thông tin để đánh giá tình trạng nghèo đói và những kết
quả đạt được trong xóa đói giảm nghèo; căn cứ vào ngân sách nhà nước dành
cho cuộc khảo sát. Khảo sát mức sống được thiết kế với 2 mẫu: một mẫu lớn
hơn với nội dung khảo sát tập trung chủ yếu vào thu nhập của hộ gia đình để
đánh giá mức sống cho cấp trung ương, vùng, tỉnh/thành phố; và một mẫu
nhỏ hơn nhưng với đầy đủ các nội dung khảo sát để đánh giá mức sống sâu
hơn ở cấp trung ương và vùng. Thiết kế cụ thể như sau:
Khảo sát năm 2002:
+ Trong năm 2002 tổ chức khảo sát đầy đủ tất cả các nội dung trên mẫu
quốc gia 30.000 hộ gia đình (gọi tắt là khảo sát thu nhập và chi tiêu). Mẫu này
được chia thành 4 mẫu con, mỗi mẫu con gồm 7.500 hộ được khảo sát lần
lượt vào tháng đàu của 4 quý trong năm 2002. Mẫu 30.000 hộ này sẽ cho các
ước lượng ở cấp toàn quốc và cấp vùng cho năm 2001 – 2002.
+ Trong 6 tháng đầu năm 2002 tổ chức khảo sát các nội dung trừ nội
dung chi tiêu trên mẫu quốc gia 45.000 hộ (gọi tắt là khảo sát thu nhập). Mẫu
này được chia thành 2 mẫu con gồm 22.500 hộ được khảo sát lần lượt vào
quý I và II năm 2002. Mẫu khảo sát thu nhập (45.000) kết hợp với 15.000 hộ
của mẫu khảo sát thu nhập và chi tiêu (30.000 hộ) được khảo sát trong tháng
đầu của quý I và II năm 2002 sẽ tạo thành một mẫu 60.000 hộ cho phép đưa
ra các ước lượng ở cấp toàn quốc, cấp vùng và cấp tỉnh/thành phố cho năm
2001.
Cụ thể:
Nguyễn Nam Phương Thống kê 47A
13 Chuyên đề tốt nghiệp
Thời gian thu
thập số liệu
Khảo sát thu
Khảo sát thu
nhập và chi tiêu
Khảo sát
thu nhập
Cộng
TỔNG SỐ 30.000
45.000 75.000
Chia ra:
Tháng 5/2004 4.650
18.600 23.250
Tháng 9/2004 4.650
18.600 23.250
Khảo sát năm 2006:
Nguyễn Nam Phương Thống kê 47A
14 Chuyên đề tốt nghiệp
Cỡ mẫu gồm 45.945 hộ được chọn từ 3.063 địa bàn của mẫu chủ, chia
làm 2 mẫu độc lập: mẫu thu nhập gồm 36.756 hộ để thu thập các nội dung
thông tin đã nêu trên, trừ chi tiêu của hộ gia đình, để đánh giá mức sống ở cấp
quốc gia, vùng và tỉnh/thành phố; mẫu thu thập chi tiêu gồm 9.189 hộ để thu
thập đầy đủ các nội dung thông tin đánh giá, phân tích mức sống một cách sâu
hơn ở cấp quốc gia và vùng.
Cụ thể:
Thời gian thu
thập số liệu
Khảo sát thu
nhập và chi tiêu
Khảo sát
thu nhập
Cộng
TỔNG SỐ 9.189
bàn được chon (sau khi đã được cập nhật) theo phương pháp ngẫu nhiên hệ
thống.
Đối với mẫu 45.000 hộ, áp dụng phương pháp chọn mẫu 2 bước:
Bước 1: Chọn 2.250 địa bàn khảo sát (525 đại bàn thành thị và 1.725 địa
bàn nông thôn) từ 9.000 địa bàn khảo sát của mẫu chủ độc lập theo hai khu
vực thành thị và nông thôn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống.
Bước 2: Chọn 20 hộ gia đình từ bản kê danh sách các hộ gia đình của địa
bàn được chọn (sau khi đã được cập nhật) theo phương pháp ngẫu nhiên hệ
thống.
Chọn mẫu cho Khảo sát mức sống hộ gia đình 2004 từ mẫu chủ:
Bước 1: Chọn địa bàn
Các địa bàn của KSMS 2004 sẽ được chọn theo cách luân phiên 50% số
địa bàn của KSMS 2002. Cụ thể là: căn cứ vào số địa bàn của KSMS 2002 có
ở mỗi tỉnh/thành phố chọn một nửa số địa bàn để điều tra cho năm 2004. Một
nửa số địa bàn của KSMS 2002 còn lại sẽ được thay thế bằng các địa bàn mới
của mẫu chủ, phần chưa được chọn vào mẫu của KSMS 2002. Số địa bàn đề
nghị điều chỉnh không vượt quá 5% tổng số địa bàn của tỉnh/thành phố. Các
Nguyễn Nam Phương Thống kê 47A
16 Chuyên đề tốt nghiệp
địa bàn sẽ được chọn độc lập theo hai khu vực thành thị và nông thôn theo
phương pháp ngẫu nhiên hệ thống.
Bước 2: Chọn hộ
+ Đối với những địa bàn có 20 hộ thu nhập và 5 hộ thu nhập chi tiêu của
KSMS 2002, chọn 15 hộ thu nhập (12 hộ chính thức, 3 hộ dự phòng) trong số
20 hộ thu nhập. Trong số 5 hộ thu nhập chi tiêu chọn 3 hộ chính thức, 2 hộ dự
phòng. Việc chọn hộ trên tiến hành theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống.
+ Đối với những địa bàn có 25 hộ thu nhập chi tiêu của KSMS 2002,
chọn trong số này 20 hộ. từ 20 hộ được chọn, chọn 15 hộ (12 hộ chính thức, 3
hộ dự phòng) để khảo sát thu nhập; 5 hộ còn lại (3 hộ chính thức, 2 hộ dự
phòng) để khảo sát thu nhập chi tiêu. Việc chọn hộ trên tiến hành theo
từng khu vực thành thị/nông thôn và vùng địa lý cho 2 kỳ khảo sát vào tháng
5 và tháng 9. Các xã có địa bàn được chọn tiến hành phỏng vấn hộ sẽ đồng
thời tiến hành phỏng vấn phiếu phỏng vấn xã
Phương pháp thu thập số liệu
Các cuộc KSMS từ năm 2002 đến năm 2006 đều sử dụng hai loại phiếu
phỏng vấn là phiếu phỏng vấn hộ gia đình và phiếu phỏng vấn xã. Phiếu
phỏng vấn hộ gia đình sẽ gồm hai loại: phiếu phỏng vấn thu nhập chi tiêu (áp
dụng cho mẫu thu nhập chi tiêu) bao gồm tất cả các thông tin của nội dung
khảo sát; phiếu phỏng vấn thu nhập(áp dụng cho mẫu thu nhập) gồm các loại
thông tin của nội dung khảo sát trừ các thông tin về chi tiêu của hộ. Phiếu
phỏng vấn được thiết kế tương đối chi tiết giúp điều tra viên ghi chép thuận
lợi, đồng thời tránh bỏ sót các khoản mục và tăng tính thống nhất giữa các
điều tra viên, từ đó nâng cao chất lượng khảo sát.
Phương pháp phỏng vấn là phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Điều tra
viên đến hộ, gặp chủ hộ và những thành viên trong hộ có liên quan để phỏng
vấn và ghi thông tin vào phiếu phỏng vấn hộ gia đình. Đội trưởng đội khảo sát
Nguyễn Nam Phương Thống kê 47A
18 Chuyên đề tốt nghiệp
sẽ gặp lãnh đạo xã và các cán bộ địa phương có liên quan để phỏng vấn và ghi
thông tin vào phiếu phỏng vấn xã. Để đảm bảo chất lượng thông tin thu thập,
cuộc khảo sát mức sống hộ gia đình không chấp nhận phương pháp khảo sát
gián tiếp hoặc sao chép các thông tin từ các nguồn có sẵn khác vào phiếu
phỏng vấn.
1.1.1.5. Kết quả khảo sát
Khảo sát mức sống hộ gia đình bao gồm những nội dung chủ yếu để
kháo sát mức sống dân cư. Kết quả khảo sát mức sống dân cư được thể hiện
qua 13 chỉ tiêu. Sau đây là tóm lược kết quả của cuộc khảo sát mức sống năm
2006:
- Nhân khẩu học cho biết số nhân khẩu bình quân trong một hộ gia
đình. Từ đó có thể nắm bắt được hiệu quả của công tác kế hoạch hóa gia
và hộ giàu là 3,8% (năm 2002 là 6,8%; năm 2004 là 5,3%). Tỷ lệ này có giảm
so với hai cuộc KSMS trước đó là đáng mừng vì độ tuổi 15-19 đang là độ tuổi
đến trường. Tuy nhiên, tỷ lệ ở hộ nghèo nhất vẫn cao là do kinh tế khó khăn
nên trẻ em ở các hộ này phải đi làm sớm.
+ Về cơ cấu ngành nghề, mặc dù đã có những thay đổi tích cực là phát
triển thêm nhiều ngành nghề phi nông – lâm – thủy sản , tuy nhiên vẫn có sự
khác biệt lớn giữa những hộ nghèo nhất và hộ giàu. Tỷ lệ dân số 15 tuổi trở
lên làm công, làm thuê hoặc tự làm phi nông – lâm – thủy sản của nhóm
nghèo nhất lần lượt là: 9,1% và 5,9%, còn ở nhóm giàu nhất lần lượt là:
47,2% và 29,7%.
- Y tế và chăm sóc sức khỏe:
+ Kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ người dân đi khám chữa bệnh đã tăng
nhưng tăng không nhiều so với năm 2004 (năm 2006 là 34,3%, năm 2004 là
33%). Chi phí cho khám chữa bệnh đều tăng.
+ Ngoài ra, kết quả mô-đun mở rộng về y tế trong cuộc KSMS 2006 đã
chỉ ra tình trạng thiếu thốn các y, bác sĩ có tay nghề ở các trạm y tế thôn bản
và chỉ có 65% số trạm y tế các xã điều tra có bác sĩ. Kết quả còn cho thấy chỉ
có 1/3 số trạm y tế thực hiện xử lý rác thải trước khi xả thải. Hơn 60% trạm y
Nguyễn Nam Phương Thống kê 47A
20 Chuyên đề tốt nghiệp
tế gặp vấn đề trong khử trùng, và 45% số trạm y tế thiếu các dụng cụ cần
thiết.
- Tỷ lệ người khuyết tật: cuộc khảo sát năm 2006 là cuộc khảo sát
mức sống đầu tiên có các câu hỏi về khuyết tật theo phương pháp đánh giá
chức năng dựa trên bảng phân loại chức năng (ICF) của tổ chức Y tế thế giới
(WHO). Mỗi thành viên từ 5 tuổi trở lên của hộ gia đình được hỏi 6 câu hỏi
để đánh giá các chức năng cơ bản của con người là: nghe, nhìn, vận động,
nhận thức, khả năng ghi nhớ, tự chăm sóc bản thân và chức năng giao tiếp.
Các chức năng được đánh giá theo 4 nấc là không khó khăn, khó khăn, rất
khó khăn, và không thể thực hiện được. Nếu một trong 6 chức năng trên được
tiêu cho đời sống của khu vực thành thị gấp 2,06 lần khu vực nông thôn, và
của hộ giàu nhất gấp 4,54 lần nhóm hộ nghèo nhất.
Tỷ trọng chi cho ăn uống trong chi tiêu đời sống giảm xuống còn 52,8%
(năm 2004 là 53.5%; năm 2002 là 57%). Điều này thể hiện tỷ lệ các hộ khá và
hộ giàu tăng lên, vì đây là những đối tượng có xu hướng tiếp cận và sử dụng
những dịch vụ xã hội chất lượng cao hơn.
- Nhà ở, điện nước, phương tiện vệ sinh và đồ dùng lâu bền:
Tỷ lệ hộ có nhà kiên cố tăng lên rõ rệt, năm 2002 là 12,7%; năm 2004 là
20,8%; năm 2006 là 23,7%. Tuy nhiên có sự chênh lệch về chất lượng nhà ở,
tỷ lệ nhà ở kiên cố của nhóm hộ giàu nhất là 46%, ở nhóm hộ nghèo nhất là
7,5%.
Tỷ lệ hộ có điện thắp sáng tăng từ năm 2002 là 86,5% đến năm 2006 là
96%. Tỷ lệ này ở nông thôn tăng mạnh từ 83% đến 95%. Tuy nhiên ở các
vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Bắc và Tây Nguyên vẫn còn nhiều hộ
chưa có điện lưới.
Tỷ lệ hộ được dùng nước sạch tiếp tục tăng.
Tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu bền đều tăng ở các vùng miền. Tuy nhiên tỷ lệ
này ở thành thị vẫn cao hơn nông thôn, lần lượt đối với các loại đồ dùng lâu
bền: xe máy là 72% và 46%; tủ lạnh là 53% và 11%; tivi là 92% và 73%
Nguyễn Nam Phương Thống kê 47A
22 Chuyên đề tốt nghiệp
- Chênh lệch thu nhập và phân hóa giàu nghèo: Sự chênh lệch thể
hiện qua hệ số GINI hoặc tiêu chuẩn “40%”. Về hệ số GINI được tính trong
KSMS 2006 về thu nhập tính chung cho cả nước là 0,42, tương đương so với
năm 2004, hệ số năm 2002 là 0,418, năm 1999 là 0,39. Thể hiện sự bất bình
đẳng về thu nhập ở mức thấp nhưng có xu hướng tăng. Sử dụng tiêu chuẩn
“40%” của Ngân hàng thế giới cũng có kết quả tương tự
- Tham gia các chương trình xóa đói giảm nghèo và tín dụng: Trong
năm 2006, đã có 90% số hộ nghèo được hưởng lợi từ dự án/chính sách
Chương trinh 135 hoặc Chương trình 143 của Chính phủ. Có 85% số hộ tự
Hay thu nhập hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các
thành viên nhận được trong một thời gian nhất định.
Hai khái niệm chính về thu nhập được định nghĩa là: tổng thu nhập của
hộ gia đình và tổng thu nhập có thể sử dụng của hộ gia đình.
Tổng thu nhập của hộ gia đình được định nghĩa là tổng của thu nhập ban
đầu, thu nhập tài sản và tiền trợ cấp khác nhận được. Nó chỉ ra tổng thu nhập
hiện tại của hộ gia đình trước khi nộp thuế trực tiếp và đóng góp bảo hiểm xã
hội và các quỹ trợ cấp. Thu nhập ban đầu gồm: các khoản trả cho người làm
thuê – lao động được trả tiền (tiền công, tiền lương và các khoản đóng góp
bảo hiểm xã hội hoặc tương tự của chủ), thu nhập từ công việc tự làm phi
nông nghiệp và nông nghiệp sau đã trừ thuế sản xuất và chi phí sản xuất. Thu
nhập tài sản nhận được gồm: thu từ cho thuê nhà ở và cho thuê khác, tiền lãi
tiết kiệm, cổ phần. Tiền trợ cấp khác nhận được gồm: trợ cấp bảo hiểm xã hội,
trợ cấp hưu trí, bảo hiểm tính mạng, và các khoản trợ cấp hiện hành khác.
Tổng thu nhập có thể sử dụng của hộ gia đình là khoản sẵn có để hộ gia
đình sử dụng cho chi tiêu cuối cùng, các khoản chi không bắt buộc khác và để
Nguyễn Nam Phương Thống kê 47A
24 Chuyên đề tốt nghiệp
tiết kiệm. Nó được lấy ra từ tổng thu nhập của hộ gia đình sau khi trừ thuế
trực tiếp và các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội và quỹ trợ cấp.
Để tính một số khoản thu nhập, không thể thu thập tất cả các thông tin
cần thiết từ hộ gia đình dưới dạng tiền mặt. Một phần của thu nhập có thể
nhận bằng hiện vật. Khi tính thì những thu nhập bằng hiện vật sẽ được quy
đổi sang tiền mặt.
1.1.2.3. Nội dung của thu nhập hộ gia đình
Cấu thành của thu nhập bao gồm:
+ Thu từ tiền công, tiền lương
+ Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí sản
xuất).
+ Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thủy sản(sau khi đã
=
Trị giá SP
bán (đổi)
trong 12
tháng qua
+
Tổng
sản
lượng
Số
bán
(đổi)
x
Giá bình
quân năm tại
thị trường
địa phương