Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
A. Đặt vấn đề
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, ngoài các điều kiện sẵn có thì vấn đề
giao tiếp là vô cùng quan trọng. Vì vậy trong trơng trình giáo dục, ngoài các môn
học khác thì môn Tiếng Anh rất đợc coi trọng một trong những yếu tố chính hỗ trợ
đắc lực cho giao tiếp.
Bàn đến vấn đề học tiếng và sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp là bàn đến vô
vàn khía cạnh, chuyên môn, ngành nghiên cứu chuyên môn khác nhau. Học tiếng,
trớc hết ngời học cần phải học kiến thức ngôn ngữ, các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ.
Nghiên cứu cho công việc giảng dạy bao gồm nghiên cứu các tầng bậc cho một
mô hình ngôn ngữ học, sự liên hệ giữa chúng. Học sinh phổ thông phải học tiếng
(Anh) nh là một công việc bắt buộc và học sinh cần đợc sử dụng ngôn ngữ này
trong thực hành giao tiếp, để học ở trờng phổ thông hoặc cho các công việc trong
tơng lai. Nhng trong quá trình học và thực hành, ngời thầy không phải lúc nào
cũng nhận đợc câu trả lời đúng theo ý của mình. Điều này muốn nói học sinh chắc
chắn không thể chánh khỏi mắc lỗi (lỗi về cách phát âm, cách dùng từ hay cách sử
dụngcú pháp ) trong quá trình thực hành. Và đây chính là nguyên nhân dẫn
đến các em mất sự tự tin trong khi thực hành và cả trong giao tiếp.
Vậy vấn đề đặt ra là để cho học sinh tự tin khi sử dụng ngôn ngữ để thực
hành, trong khi các em còn rất sợ sệt mình mắc lỗi này ,lỗi kia là một việc làm vô
cùng khó khăn và mang tính rất s phạm của ngời thầy giáo.
Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Anh trong trờng
THCS, tôi nhận thấy: Trong quá trình thực hành ngữ liệu hay rèn luyện kỹ năng ,
học sinh nhiều lúc mắc phải lỗi mà lẽ ra các em không thể sai lầm đợc, dẫn đến sự
nóng giận từ phía giáo viên. Vây nếu giáo viên không có trình độ ứng sử s phạm
cao trong việc giảng dạy ngôn ngữ nói chung và việc sửa lỗi cho học sinh nói
riêng sẽ dẫn đến học sinh thụ đông, lời học, chán học và ngại giao tiếp Điều này
càng thể hiện rõ nét ở học sinh lớp 9
Với mong muốn góp phần vào việc nâng cao chất lợng học tập của học sinh,
qua nghiên cứu chúng tôi nhằm mục tiêu đề ra một số giải pháp nâng cao chất l-
ợng dạy học bằng cách áp dụng phơng pháp " chữa lỗi sai cho học sinh trong
hành và phải sửa chữa ngay bất cứ lời nói không đúng nào của học sinh dù là phải
phát âm, cách dùng từ hay về cú pháp, dù cho mục đích của bài tập là gì. Trong
khi đó thực tế cho thấy, kể cả học sinh giỏi đến đâu cũng có thể mắc lỗi nhất là
trong luyện tập và thực hành ngôn ngữ. Bởi vì lỗi là một phần tất yếu của quá trình
phát triển ngôn ngữ.
Hơn thế nữa, lỗi còn có những giá trị nhất định vì chúng phản ánh kết quả
của việc dạy học, từ đó giúp giáo viên hiểu sâu sắc hơn về quá trình học của học
sinh. Tôi chọn đề tài này, vì nó xuyên suốt quá trình học tập ngôn ngữ của học
sinh nói chung và học sinh khối 9 sử dụng ngôn ngữ trong bài nói riêng. Và trong
đề tài này tôi xin đa ra một số nhận đinh: bản chất của lỗi, bản chất của nhầm lẫn,
giải pháp và cách thức sửa lỗi của giáo viên giúp học sinh học tốt trong khi thực
hành
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
2
Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
C. cách giải quyết vấn đề
Trong bất kỳ bài dạy nào( luyện tập thực hành hay bài kỹ năng), học sinh
mắc lỗi cũng luôn đồng hành với học sinh nhầm lẫn. Để có cách nhìn đúng đắn về
hai vấn đề này chúng ta nên xét bản chất của từng vấn đề: "lỗi"và "nhầm lẫn"
I. Bản chất của lỗi
Lỗi là những bằng chứng của sự tiến bộ trong học tập và làm chủ các đặc
điểm ngữ pháp thông thờng. Chúng xảy ra khi học sinh sử dụng trí thông minh của
mình tạo ra lời nói mới. Có thể có những nguyên nhân khác nhau dẫn đến mắc lỗi.
Nguyên nhân thứ nhất là do áp dụng sai quy tắc mà họ đợc học trớc đó do khái
quát nó
Example:
She asked me if
* *
what my name was
hơn.
III. Giải pháp
Trong các quy tắc giao tiếp, khen là quy tắc ảnh hởng tích cực nhất với đói
tợng giao tiếp. Vậy giáo viên cần nhớ rằng một phần thởng (khen) bao giờ cũng
có tác dụng tốt hơn là một hình phạt (chê). Vì vậy bất cứ một câu trả lời tốt nào
cũng xứng đáng đợc khen ngợi, đôi khi chỉ cần một cái gật đầu, một nụ cời, hay
một lời khen. Thậm chí một câu trả lời chỉ đúng một phần thôi cũng thể hiện sự
đóng góp và cố gắng.
Ví dụ học sinh cần đạt tới một câu sau
I went to the cinema yesterday
Nhng một học sinh đã nhầm lẫn
I goed
* * to the cinema yesterday
Rõ ràng ở vi dụ trên em học sinh này đã nhận biết đợc rằng thì quá khứ
trong câu khẳng định có cấu tạo V-ed. Em đó không nói " I go
* *
to the cinema
yesterday " chứng tỏ em đó đã thấy đợc sự việc xảy ra ở quá khứ ( có trạng từ
yesterday). Tuy nhiên, em cha nhận ra rằng động từ "to go" là động từ bất quy
tắc ở quá khứ. Đơn giản là em ấy đã quên mất
Vậy với tính huống này, giáo viên cũng cần hết sức tránh tỏ thái độ chê
bai, đe doạ hay chữa ngay lỗi cho học sinh. Ngợc lại ngời giáo viên cần biết cách
bày tỏ sự hài lòng, tán thành bằng cử chỉ, nét mặt điệu bộ cũng nh lời nói đối với
các em. Cần khuyến khích khích lệ các em với những phần các em làm đợc đồng
thời dẫn đờng chỉ lối để các em có thể tìm ra nhầm lẫn và tự sửa
Ta có thể xét thêm một ví dụ nữa qua bức tranh minh hoạ sau.
Nhìn vào bức tranh ta nhận thấy đợc, em học sinh tỏ vẻ thái độ rất sợ cô
giáo của mình mặc dù em đã nhận biết dợc là em đã mắc lỗi trong bài của em và
em đã sửa dợc. Còn với thái độ của cô giáo trong bức tranh minh hoạ sẽ có hại
bài.
Học sinh thờng hay mắc lỗi trong những câu hỏi đặc biệt ( Wh- questions)
đòi hỏi câu trả lời đầy đủ, hay trong gián tiếp với Yes/ No questions hoặc Wh-
questions vì các loại câu hỏi gián tiếp có liên quan đến trợ động từ ( một số trợ
đọng từ nh do/ does/ did bỏ trong câu hỏi gián tiếp). Nếu nh thông tin của
các bài luyện tập trên vẫn đúng thì giáo viên cần tỏ ra độ lợng và tỏ thái độ khen
ngợi. Trớc hết, giáo chỉ nên chỉ ra lỗi sai và gợi ý cách sửa rồi đeer học sinh tự
chữa lỗi của mình. Nếu học sinh đó thực sự gặp khó khăn không thể tự sửa lỗi đ-
ợc thì cũng tránh làm cho các em bối rối, lúng túng. Hãy gọi học sinh thứ hai,
nếu học sinh cũng không chữa đợc thì lúc này không nên chỉ định tiếp nữa mà
khuyến khích xem ai biết thì xung phong.
Sau khi luyện tập thực hanh có sự hớng dẫn của giáo viên là giai đoạn học
sinh có cơ hội để sử dụng ngôn ngữ vừa học một cách tự do hơn, để " phiêu lu
mạo hiểm vố ngôn ngữ. ( Cấu trúc của một bài thực hành là đa ngữ liệu mới, thực
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
5
Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
hành có hớng dẫn và cuối cùng là thực hành tự do) . Giai đoạn này gọi là giai
đoận sản sinh hay giai đoạn thực hiện. Trong giai đoạn này câu hỏi suy luận có
vai trò chủ đạo. Thờng giáo viên nên đứng ở góc lớp để cho cuộc thảo luận tự do
phát triển. Mặc dầu vậy, không phải là giáo viên không có vai trò gì và chỉ đứng
nhìn mà giáo viên phải thực hiện công việc sau:
1. Quan sát
D. Kết luận
Theo tôi, trên đây là nhng kiến thức và phơng pháp mà mỗi giáo viên
cần có để dạy học sinh- học về ngữ liệu mới. Nói nh vậy có nghĩa là, khi dạy
cho học sinh không phải là dạy toàn bộ kiến thức đã nêu hay áp dụng toàn bộ
các thủ thuật, kỹ thuật giảng dạy mà phải mềm dẻo để không những cung cấp
đủ kiến thức cơ bản cho học sinh mà còn phù hợp với quỹ thời gian và trình độ
II. Cơ sở thực tiễn
C. Nội dung
I. Giới thiệu chung về dạng bài dạy ngữ liệu mới.
II. Cùng bàn về phơng pháp mới trong việc giảng dạy ngữ
liệu mới.
1. Vào bài ( Warm up ).
2. Giới thiệu ngữ liệu ( Presentation )
2.1 Mục tiêu chung
2.2 Ngữ nghĩa và cách sử dụng.
2.3 Tạo dựng ngữ cảnh / tình huống
2.4 Giới thiệu hình thái ngữ pháp mới.
2.5 Kiểm tra mức độ tiếp thu của học sinh
1
2
2
2
3
3
4
4
5
5
5
6
8
9
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
7
Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
3. Thực hành ( Practice )
toàn thế giới. Và đặc biệt nớc ta vừa mới gia nhập WTO, môn Tiếng Anh trong tr-
ơng trình phổ thông lại càng trở lên quan trọng gấp bội.
Nhận thức đúng đắn đợc điều này, giáo viên Tiếng Anh cần phải làm cho
học sinh nắm chắc ngữ pháp cơ bản và biến chúng thành kĩ năng kỹ xảo của học
sinh. Sự nắm bắt đợc ngữ pháp trong Tiếng Anh, chịu ảnh hởng bởi nhiều yếu tố
khác nhau trong việc dạy nhiều ngữ liệu mới qua tình huống cụ thể có ý nghĩa hết
sức quan trọng đối với các em học sinh ở bậc trung học cơ sở.
Trong thực tế lợng Tiếng Anh ở nớc ta nói chung và Hải Phòng nói riêng có
quan hệ chắt chẽ với phơng pháp giảng dạy. Và phơng pháp giảng dạy mới cũng
đợc áp dụng đại trà cho tất cả các khối lớp ở tất cả các bộ môn ở cấp THCS.
Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Anh trong trờng
THCS. Tôi thấy việc dạy ngữ liệu mới thông qua tình huống là một vấn đề quan
trọng và nó góp phần vững chắc tạo nền móng cho việc hình thành các kỹ năng kỹ
xảo sau này. Điều này càng thể hiện rõ nét và quan trọng hơn ở học sinh THCS
mới bắt đầu làm quen với bộ môn Tiếng Anh.
Với mong muốn góp phần vào việc nâng cao chất lợng học tập của học sinh,
tôi xin mạnh dạn đóng góp kinh nghiệm giảng dạy của mình đã rút ra qua những
giờ lên lớp về vấn đề " giảng dạy ngữ liệu mới" cho học sinh THCS
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
9
Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
B. cơ sở khoa học
I. Cơ sở lý luận.
Theo tâm lý học, thì đặc điểm của lứa tuổi thanh thiếu niên là có xu hớng v-
ơn lên làm ngời lớn, muốn tự mình tìm hiểu và khám phá trong quá trình nhận
thức. Ơ lứa tuổi học sinh THCS đã có điều kiện thuận lợi cho khả năng tự điều
chỉnh hoạt động học tập và tự sẵn sàng tham gia vào hoạt động khác nhau. Các em
cũng rất dễ tiếp thu những ngoại cảnh và đặc biệt là những tình huống giao tiếp.
Vì vậy giáo viên có thể lợi dụng chính sự tiếp thu đó để vận dụng vào bài giảng
của mình. Tuy nhiên việc vận dụng tình huống vào giảng để dạy ngữ liệu mới
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
10
Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
C. Nội dung
I. Giới thiệu chung về dạng bài dạy ngữ liệu mới.
Theo quan điểm dạy học và soạn sách giáo khoa mới ngày nay, bài dạy ngữ
liệu mới là bài dạy nhằm giời thiệu và rèn luyện cho học sinh những từ và cấu trúc
mới trong các ngữ cảnh gần gũi đối với đời sống. Hơn nữa, cũng có thể là một
chức năng ngôn ngữ, đặc điểm ngôn bản hay một thủ pháp học (learning strategy).
Các bớc dạy ngữ liệu cần theo một tiến trình sau:
1. Giới thiệu tình huống ngữ cảnh để làm rõ ngữ nghĩa và cách sử dụng cấu
trúc hay từ mới.
2. Tách riêng cấu trúc hay từ mới bằng cách đọc to, học sinh nghe, nhắc lại
hoặc bằng các thủ thuật khác nhằm nêu bật cấu trúc hay từ mới.
3. Viết cấu trúc, từ mới nên bảng, làm rõ hình thái cấu trúc (form), giải
thích nếu thấy cần thiết.
4. Làm rõ thêm nghĩa và cách sử dụng cấu trúc hay từ mới bằng cách tiếp
xúc giới thiệu chúng trong các tình huống ngữ cảnh khác.
5. Học sinh tiếp tục lặp lại bớc 2.
6. Kiểm tra mức độ tiếp thu của học sinh (qua luyện tập nhanh).
Khi ngời thầy thấy học sinh làm tốt đợc bớc 6 thì có thể chuyển tiếp sang
giai đoạn luyện tập sáng tạo các câu mới phi máy móc và mang tính giao tiếp
hơn.Tiến trình trên tuy là tiêu biểu nhng không phải lúc nào cũng là nhất thiết với
mọi trờng hợp. Nếu ngay sau bớc 2 thầy giáo cảm thấy học sinh đã hiểu và có thể
làm tốt các bài tập tái tạo thì có thể chuyển ngay sang bớc 6.
Có thể khái quát theo sơ đồ sau:
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
Học sinh
làm tốt
H/s tái tạo
học mới, khởi động những kiến thức có sẵn của học sinh có liên quan cần thiết cho
bài học mới, giúp học sinh liên hệ giữa điều đã học với bài mới đồng thời gây
hứng thú cho bài học mới.
Ngoài ra, với tính chất của một bài học ngoại ngữ những hoạt động vào bài
còn có ý nghĩa nh một phần của bài học mà nếu không có sẽ làm cho những bớc
tiếp theo khó hoặc không thể thức hiện đợc. Cụ thể những hoạt động này thờng có
vai trò tạo tình huống, bối cảnh cho phần giới thiệu hoặc tạo nhu cầu cho một hoạt
động nào đó của bài là những điều rất cần thiết để học bài mang tính giao tiếp cao.
Với những ý nghĩa trên khi dự định làm gì trong phần này, ngời thầy cần
luôn luôn đặt câu hỏi làm nh vậy để làm gì, nhằm mục đích gì và liệu cách làm
nh vậy có đạt đợc mục đich đã dự định hay không?.
Nh vậy, các hoạt động vào bài không phải chỉ để vui cho màu sắc và tùy
thích mà ngợc lại chúng cần đợc nhìn nhận nh những việc làm không thể thiếu cho
một bài học ngoại ngữ, và có thể nói cách vào bài có phơng pháp quyết định phần
lớn của cả bài học.
1.2 Các hình thức và thủ thuật vào bài :
Tùy theo mục đich và đặc thù của giờ dạy ngời thầy có thể chọn những hoạt
động và thủ thuật cụ thể cho phù hợp.Sau đây là một số gợi ý cho các mục đích cụ
thể :
a/ Tạo môi trờng thuận lợi: Tạo không khí dễ chịu giữa ngời thầy vào trò,
tạo thế chủ động, tự tin cho học sinh bằng các hoạt động:"Chatting" Tự giới thiệu
về nhà mình, chào hỏi, hỏi chuyện gẫu, kể chuyện vui
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
12
Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
Tập chung sự chú ý, ổn định lớp, gây hứng thú bắng cách bắt đầu ngay một
hoạt động học tập nào đó nh : Quan sát tranh, hỏi và trả lời về tranh, giải ô chữ đố
từ, (Jumbled words, Hangman, Shark attack, Word square, cross word Puzzle ).
b/ Chuẩn bị tâm lý và kiến thức cho bài mới.
Khai thác kiến thức tổng hợp đã biết bắng các thủ thuật: eliciting,
Chữ viết
Ngữ âm
Ngữ pháp
Giới thiệu ngữ liệu
(Presentation)
Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
thể hiểu đợc nghĩa của từ dễ dàng, song không phải nh vậy là ngời đọc sẽ biết
cách sử dụng từ đó. Cách sử dụng của một từ hay một cấu trúc ngữ pháp phụ thuộc
rất nhiều vào ngữ cảnh, vào thói quen của ngời bản ngữ và các mối quan hệ cùng
với môi trờng văn hóa và xã hội của họ. Cách sử dụng những ngữ liệu này chỉ có
thể đợc hiểu rõ khi chúng đợc giới thiệu trong ngữ cảnh, trong đúng tình huống
mà ngời bản ngữ đã sử dụng chúng. Với một ngữ pháp cũng vậy, ý nghĩa ngữ pháp
và ý nghĩa sử dụng của một cấu trúc không phai lúc nào cũng trùng nhau. Nói một
cách khác một cấu trúc ngữ pháp sẽ có nhiều ý nghĩa chức năng ngôn ngữ khác
nhau.
Lấy thời hiện tại tiếp diễn trong Tiếng Anh làm ví dụ: ý nghĩa ngữ pháp của
thời này là chỉ một hành động đang diễn ra ở thời điểm đang nói nhng lại đợc sử
dụng không chỉ để miêu tả bình luận những gì đang diễn ra nh bình luận bóng đá
thể thao, các sự kiện xã hội mà còn nói đến nhiều dự định trong kế hoạch trong t-
ơng lai.
Eg: We are visiting the national Park this weekend.
Hay một lời cảnh cáo, ngăn ngừa:
Eg: You are using my computer again!
Hoặc diễn tả sự thay đổi với các động từ " become" và " get"
Eg: The city is becoming/ getting beautiful
Có thể nói ngữ cảnh hay tình huống đóng vai trò vô cùng quan trọng trong
việc làm rõ ngữ nghĩa và ý nghĩa sử dụng của ngữ liệu.
Nh vậy công việc chủ yếu của việc giới thiệu ngữ liệu là tạo dựng đợc ngữ
cảnh hay tình huống phù hợp cho ngữ liệu đó.
2.3 Tạo dựng ngữ cảnh/ tình huống.
Những tình huống thật trong thực tế luôn có sẵn và đa dạng để cho chúng ta
có thể khai thác một cách phong phú và sinh động.
c) Sử dụng thực tế đời sống gia đình, bạn bè của học sinh
Rất nhiều sự việc thực tế trong đời sống gia đình, bạn bè quen thuộc của
học sinh có thể đợc sử dụng để làm ngữ cảnh cho việc giới thiệu ngữ liệu. ví dụ
nh nghề nghiệp của bố mẹ, anh chị em; hoàn cảnh gia đình; sở thích; các hoạt
động thể thao, giải trí; bạn bè nào biết đánh đàn, bạn nào biết vẽ , nuôi lợn đều
có thể khai thác một cách linh hoạt, muôn màu muôn vẻ.
d) Sử dụng các chuyện có thật, các hiện tợng phổ biến.
Những hiện tợng tự nhiên, hiện tợng xã hội, các câu chuyện có thật trong
đời sống hàng ngày của học sinh là nguồn ngữ cảnh phong phú vô tận cho giao
viên sử dụng vào mục đích dạy học. VD: để giới thiệu các khái niệm lớn bé, to
nhỏ,cao thấp và cách so sánh tính từ, thầy giáo có thể đa ngay những nhận định
thực tế nh:
Ho Chi Minh city is bigger than Hanoi
The post office is higher than the bank
Hoan Kiem lake is smaller than the West lake.
e) Sử dụng các bảng biểu, bản đồ, bản tin, báo chí.
Các bảng biểu nh thời khóa biểu, thời gian biểu của học sinh, tờ lịch, lịch
làm việc, đều có thể khai thác để giới thiệu những khái niệm nh thời gian,các
hoạt động trong ngày, thứ tự diễn biến các hoạt động, cách sử dụng thời thể, cách
phối hợp thời và nhiều vấn để khác.
f) Lập tình huống và ngữ cảnh với sự hỗ trợ của giáo cụ trực quan và
ngôn ngữ đã học.
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
15
Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
Có những ngữ liệu (ngữ pháp và từ vựng), không thể minh họa bằng những
tình huống thật hay sự việc thât, phải cần đến những tình huống giáo viên tự tạo.
Lúc này, giáo viên có thể phối hợp dùng giáo cụ trực quan và / hoặc ngôn ngữ có
học sinh có thể dễ dàng nắm bắt đợc cấu trúc khái quát và hệ thống hóa đợc những
ngữ liệu đã học từ đó có thể sử dụng ngữ liệu đợc dễ dàng.
Ví dụ; Mục dạy của bài là cách thực hiện lời mời bằng Tiếng Anh thầy có
thể giới thiệu mẫu câu khái quát:
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
16
Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
1 2
Would you like to + verb
và làm rõ khả năng thay thế ở phần(2) sau to nh sau:
Would you like to go to the cinema?
have dinner with me tonight?
play tennis?
Điều cần l u ý :
Công thức hay mẫu câu khái quát hóa các cấu trúc ngữ pháp có tác
dụng làm rõ hình thái ngữ pháp (form) của lời nói, song không thể
qua đó làm rõ ngữ nghĩa (meaning) hay cách sử dụng (use) của cấu
trúc ngữ pháp đó.
Ngợc lại việc nhấn mạnh cách dùng ngữ cảnh và tình huống để giới
thiệu ngữ nghĩa và cách sử dụng một cấu trúc ngữ pháp không có
nghĩa là sẽ loại bỏ các biện pháp làm rõ cách cấu tạo, hình thái của
cấu trúc ngữ pháp đó.
Ba yếu tố ngôn ngữ : form, meaning and use luôn luôn phải đợc giới
thiệu đồng thời, phối hợp và có tầm quan trọng ngang bằng nhau.
2.5 Kiểm tra mức độ tiếp thu của học sinh
(Checking comprehension).
Sau khi giáo viên đã tạo tình huống và làm rõ các ý nghĩa và cách sử dụng
ngữ liệu cần giới thiệu, điều cần phải thực hiện tiếp theo ở giai đoạn này là kiểm
tra mức độ tiếp thu của học sinh để thầy có thể bổ xung bài giảng kịp thời nếu cần.
Thực hành có hớng dẫn
(Guided practice)
Thực hành tự do
(Free production)
Drills
Meaningful practice in context
Communicative
activities
Tuy nhiên, việc phân chia các bớc hay giai đoạn luyện tập nh trên chỉ là t-
ơng đối mang tính lý thuyết. Trong thực tế, các hoạt động luôn diễn ra uyển
chuyển và không có giới hạn rành mạch giữa các bớc với nhau. Sơ đồ trên giúp
cho ngời thầy hình dung rõ hơn mục đích công việc phải làm, từ đó lập ra nhiều
giáo án phù hợp cho giai đoạn học tập cụ thể.
Quan điểm đi từng phần đến tổng thể, hay từ thực hành máy móc đến sử
dụng sáng tạo ngôn ngữ nh đợc trình bày trên thực tế là một quan điểm truyền
thống, đợc sử dụng tơng đối phổ biến và quen thuộc trong trờng phổ thông đặc
biệt là trong trờng THCS hiện nay.
3.1 Thực hành máy móc ( Controlled practice ).
Mục đích của các loại hoạt động này là thực hành để nắm đợc hình thái cấu
trúc, cách dùng mẫu câu mang tính máy móc nhằm đạt đợc sự chính xác và đúng
ngữ pháp. Sản phẩm ngôn ngữ của học sinh bị khống chế chặt bởi bản chất của
các bài tập do thầy đề ra. Loại thực hành này do tính chất máy móc của nó chỉ phù
hợp với bớc đầu của phần thực hành. Với tính chất đó không nên lạm dụng và kéo
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
18
Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
dài những bài tập thuộc loại này. Đồng thời việc khai thác sử dụng chúng hoàn
toàn phụ thuộc vào đặc thù của loại ngữ liệu đang đợc thực hành.
Để có thể áp dụng những thủ thuật làm cho chúng đa dạng, có nghĩa và
mang tính giao tiếp hơn có thể sử dụng những cách sau.
Teacher: Now say.
Mary: Mary has school on Saturday.
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
19
Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
Sandy and Tom : Sandy and Tom have school on Saturday.
Now: on Thursday.
Peter has school on Thursday.
Jack has school on Thursday.
Peter and Jack have school on Thursday.
Now what about you?
I have school on Thursday and Saturday.
I have school on all week days etc
Ví dụ 2: Sử dụng "sổ tay nhật ký" thầy tự tạo làm bảng gợi ý:
Date Don't forget
Monday
buy birthday present
Tuesday
meet Mai
Wednesday
have music lesson
Thursday
go to the Circus
Friday
see the dentist
Saturday
go shopping
Sunday
visit grandparents
Với một bảng trực quan trên, giáo viên có thể khai thác để luyện nhiều mẫu
trên lớp. Các hoạt động này cũng có nhiều mức độ khó dễ và phức tạp khác nhau,
đi từ có hớng dẫn để khống chế chặt sản phẩm ngôn ngữ của học sinh đến nới
lỏng dần để cuối cùng có thể chuyển sang tự do giao tiếp hoàn toàn ở giai đoạn
sau.
(1) Các hoạt động tình huống
Thầy giáo đa ra những tình huống. Học sinh đặt mình vào những tình
huốngđó để sử dụng ngôn ngữ phù hợp, dựa vào những từ gợi ý hoạc hớng dẫn
của thầy.
Ví dụ : Giving advice: Should - Shouldn't
+ Sử dụng tình huống thật trên lớp
T: I don't feel very well today. What should I do?
S1: You should take a rest.
S2: You should stay at home.
S3: You should go and see the doctor after work.
Ect
+ Những tình huống tơng tự có thể sử dụng cho cùng mục đích:
My cat refuses to eat / hasn't eaten anything for three days now.
What should I do?
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
21
Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
My family and I are going to Da Lat on holiday this summer. What
should I bring along?
Lan's birthday is coming. What should we give her? Etc
(2) Các hoạt động cá thể hoá, cụ thể hoá tình huống.
Những hoạt động cá thể hoá, cụ thể hoá tình huống thờng đợc dùng kế
tiếp những bài tập luyện tập mẫu, có kiểm soát chặt, nhằm hớng học sinh liên hệ
với tình huống thật để áp dụng những cấu trúc, vốn từ mới học, diễn đạt lời nói
có nghĩa, phù hợp với hoàn cảnh thật.
Những loại hoạt động này có thể ở dạng có khống chế ngữ liệu, hoặc có
2)
3)
Now talk with your friend, compare your likings. Have a conversation like
this:
A: Do you like to go shopping when you visit a new city?
B: No, I don't. I hate to go shopping. What about you?
A: Oh, I love it. What about buying souvenirs? Don't you hate it, either ?
Etc
Hình thức của các hoạt động loại này rất đa dạng và có mức độ khó dễ
khác nhau, tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của ngữ liệu đợc sử dụng, đợc giới
thiệu và chi phối bởi những bài luyện có kiểm soát chặt và có hớng dẫn trớc đó.Ơ
các hoạt động có liên hệ đến cá nhân này, ngoài việc áp dụng những mẫu đã
học , bài luyện tập đợc mở rộng tự do hơn với những câu hỏi mở rộng và những
câu trả lời tự nhiên, không bị gò ép theo khuôn mẫu, có thật, đúng với tình
huống, sẽ giúp học sinh phối hợp cùng một lúc vốn kiến thức có sẵn với kiến
thức mới học để diễn đạt những vấn đề có tính giao tiếp cao hơn
III) ứng dụng vào một bài giảng ở chơng trình Tiếng Anh 8
Period 47
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
23
Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
Unit 8 : County life and city life
Lesson 2 : Speak - Page 78
Language focus 3 - Page 73
I) Aim : Practice in present progressive tense to show the changes with " get "
and " become"
II) Objective: By the end of the lesson, Ss will be able to practice speaking about
the changes of the places by using the present progressive tense with " get" and "
become"
III) Teaching aids: Text book , Pictures,
2) omdenr = modern
3) lecan = clean
4) bsuy = busy
5) iwed = wide
6) allt = tall
7) baeutflui = beautiful
8) epxneives = expensive
(on the right of the
board)
Unit 8 : County life and
city life
Lesson 2 : Speak - P 78
Language focus 3 - P 73
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
24
Đề tài:Chữa lỗi cho học sinh lớp 9 trong bài thực hành
*Set the scence:(Use the pictures of
Nam.Once was in 2004 .once is now)
- T sticks the pictures on the board and
says;" This is Nam . He was in 2004.
And this is Nam, too.He is now.Now
answer the questions about him
Q1:Is Nam different from he was?
Q2: How different ?
Q3: Is he taller than he was?
-T says:" So we can say: Nam is getting
taller"
- Ask Ss to repeat then write them on the
board.
- T says:" In other way , we can use
- the present
progressive
tense
- One s
answers
Whole
class copy
* Model sentences
Nam is getting taller
becoming
* Form
am
S + is + V-ing
are
* Use: The present
progressive is used to
show the changes with
verbs "get" and " become"
Nguyễn Thị Thanh Huệ- Giáo viên trờng THCS TRung Lập
25