LỜI MỞ ĐẦU
Bước vào quá trình toàn cầu hoá, nền kinh tế Việt Nam trong những
năm gần đây đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Hoà chung với sự
biến đổi của cả nước, ngành ngân hàng đang tự khẳng định vị thế của mình
đối với công cuộc phát triển đất nước. Sau gần hai thập kỷ đổi mới, hệ thống
ngân hàng nước ta đã tạo lập được những cơ sở vững chắc để tiếp tục thể
hiện vai trò quan trọng, cống hiến vào sự nghiệp chung của đất nước. Tuy
nhiên, so với các ngân hàng trong khu vực và thế giới, trình độ ngân hàng
nước ta chỉ ở mức trung bình, hoạt động còn đơn điệu, công nghệ vẫn còn
lạc hậu, giao dịch thủ công, chưa đồng bộ, khó liên kết với các ngân hàng
khác.
Để có thể tồn tại và phát triển, các NHTM phải lựa chọn cho mình con
đường phù hợp nhất, từng bước khẳng định uy tín và thương hiệu, nâng cao
năng lực cạnh tranh của mình. Một trong những phương pháp tốt nhất giải
quyết vấn đề của mình trong bối cảnh hiện nay là các NHTM phải nâng cao
hiệu quả huy động vốn để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của đất
nước.
Ra đời và phát triển trong giai đoạn đất nước đang có những biến
chuyển mạnh mẽ, hệ thống ngân hàng đang có nhiều cơ hội để phát triển
cũng như thách thức khó khăn cần vượt qua. Các NHTM nói chung và
NHTMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Hoàng Mai (viết tắt là chi
nhánh NHCT Hoàng Mai) nói riêng luôn ý thức được nhiệm vụ của mình.
Công tác huy động vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động vốn luôn được đặt
lên hàng đầu.
Sau một thời gian được thực tập và nghiên cứu tại NHCT Hoàng Mai,
nhận thức được tầm quan trọng của vốn huy động trong sự phát triển của
1
ngân hàng và tính cấp thiết của hoạt động huy động vốn trong thời điểm hiện
nay, em đã chọn đề tài nghiên cứu "Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động
vốn tại NHTMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Hoàng Mai ".
Đề tài có kết cấu gồm 3 phần:
trọng nhỏ, song vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng, góp phần xác định
quy mô và cơ cấu của ngân hàng, tăng khả năng mở rộng cho vay và đầu tư,
đặc biệt là trung và dài hạn cũng như tạo ra trang thiết bị và công nghệ ngân
3
hàng hiện đại. Sau đây là các bộ phận cấu thành vốn chủ sở hữu của ngân
hàng:
1.1.1.1. Nguồn vốn hình thành ban đầu: Là vốn chủ sở hữu hình thành khi
ngân hàng bắt đầu hoạt động.
Tuỳ theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn gốc hình thành vốn
ban đầu khác nhau. Nếu là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước thì ngân sách
Nhà nước cấp. Nếu là ngân hàng cổ phần, các cổ đông đóng góp thông qua
mua cổ phần hoặc cổ phiếu. Ngân hàng liên doanh do các bên liên doanh góp.
Ngân hàng tư nhân do cá nhân ứng ra.
Vốn chủ sở hữu ban đầu phải tuân thủ các quy định của nhà chức
trách tiền tệ. Trong các quy định đó thường nêu rõ số vốn tối thiểu - vốn
pháp định mà chủ ngân hàng cần phải có khi bắt đầu hoạt động. Vốn pháp
định có thể được quy định cho từng loại ngân hàng trong từng điều kiện cụ
thể.
Vốn chủ sở hữu không hoàn toàn phải trả. Chủ ngân hàng có thể tăng,
giảm hoặc thay đổi cơ cấu vốn chủ sở hữu, quyết định chính sách phân phối
lợi nhuận.
1.1.1.2. Vốn chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn của chủ theo nhiều
phương thức khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể. Nó thường bao gồm:
Lợi nhuận tích luỹ, cổ phần phát hành thêm trong quá trình hoạt động, các
quỹ, thặng dư vốn…
Nguồn từ lợi nhuận: Đối với các ngân hàng cổ phần, lợi nhuận sau
thuế sau khi bù trừ các khoản chi phí đặc biệt, thường được chia làm hai
phần: Một phần chia cho các cổ đông theo giá trị các cổ phần và phần bổ
sung vào vốn chủ sở hữu dưới tên gọi là “lợi nhuận tích luỹ lại”. Phần này
toàn vốn tính theo tỷ lệ lạm phát. Quỹ này làm gia tăng quy mô vốn chủ sở
hữu.
Trong quá trình hoạt động, có thể thị giá cổ phiếu của ngân hàng lớn
hơn mệnh giá. Khi ngân hàng phát hành thêm cổ phiếu mới, phần chênh lệch
giữa thị giá và mệnh giá cổ phiếu được ghi lại dưới tên gọi là thặng dư vốn.
Do giá trị các tài sản và nợ của ngân hàng thường xuyên thay đổi theo
giá trị thị trường, đặc biệt là các chứng khoán và bất động sản. Mặc dù chưa
bán nhưng ngân hàng thường xuyên đánh giá lại chúng theo giá trị thị
trường. Những chênh lệch do đánh giá lại được đưa vào quỹ đánh giá lại.
Quỹ này thường xuyên biến động gắn liền với thay đổi thị giá, cho phép các
nhà quản lý có thể đánh giá giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu.
Ngoài ra, ngân hàng thường trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế
như quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ đào tạo, quỹ nghiên cứu phát triển
sản phẩm mới… Phần lớn các quỹ này được sử dụng trong kỳ.
Tóm lại các quỹ của ngân hàng thuộc sở hữu của chủ ngân hàng và
nguồn hình thành các quỹ này từ chính thu nhập của ngân hàng. Tuy nhiên
khả năng sử dụng các quỹ này vào hoạt động kinh doanh tuỳ thuộc vào mục
đích sử dụng quỹ.
1.1.1.4. Cổ phần ưu đãi có thời hạn và giấy nợ có khả năng chuyển đổi
thành cổ phiếu
Một số ngân hàng coi cổ phần ưu đãi có thời hạn và các khoản vay
dài hạn bằng giấy nợ có thể chuyển đổi thành cổ phiếu cũng thuộc vốn chủ
sở hữu mặc dù chúng mang tính chất của một khoản nợ. Việc gia tăng loại
vốn này có nhiều ưu điểm đối với quản lý ngân hàng như không làm thay
đổi quyền kiểm soát, hạn chế giảm cổ tức…
1.1.2. Nguồn tiền gửi
6
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của
NHTM. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động thì nghiệp vụ đầu tiên là mở
các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng. Đối tượng
sử dụng, trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể
gửi tiết kiệm nhằm mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm
đó. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm hơn từ dân cư, các ngân
hàng đã đưa ra nhiều hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp
dẫn. Theo đó, ngân hàng có thể mở cho mỗi khách hàng nhiều chương, mục
tiết kiệm cho mỗi kỳ hạn và mỗi lần gửi khác nhau. Sổ tiết kiệm này không
dùng để thanh toán tiền hàng và dịch vụ song có thể thế chấp để vay vốn nếu
được ngân hàng cho phép.
1.1.2.4. Tiền gửi của các ngân hàng khác
Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác, các
NHTM có thể gửi tiền tại ngân hàng khác, tuy nhiên quy mô nguồn tiền này
thường không lớn.
Như vậy có thể thấy đặc điểm chung của tiền gửi là chúng phải được
thanh toán khi khách hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa
đến hạn. Sự thay đổi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn, làm thay đổi cầu thanh
khoản của ngân hàng.
Quy mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác. Thông thường
nguồn này chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng
năm của các ngân hàng.
8
Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc, do vậy chi phí tiền gửi
thường cao hơn lãi trả cho tiền gửi. ở nhiều nước ngân hàng phải mua bảo
hiểm cho tiền gửi.
Tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn, thường nhạy cảm với các biến
động về lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ chi tiêu và nhiều nhân tố khác.
1.1.3. Nguồn đi vay
Mặc dù tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM song khi cần,
các ngân hàng có thể vay mượn thêm. Tại nhiều nước, ngân hàng Trung
ương thường quy định tỷ lệ giữa nguồn vốn huy động và vốn của chủ. Do
vậy, nhiều ngân hàng vào những giai đoạn cụ thể phải vay mượn thêm để
1.1.3.3. Vay trên thị trường vốn
Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng vay mượn
bằng cách phát hành các giấy nợ trên thị trường vốn. Rất nhiều NHTM thiếu
nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu cho
vay trung và dài hạn. Do vậy, các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung
cho các khoản tiền gửi sẽ góp phần đáp ứng được nhu cầu cho vay và đầu tư
trung và dài hạn. Thông thường đây là khoản vay không có đảm bảo. Những
ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn.
Ngược lại các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này
cho nên họ thường có xu hướng vay thông qua các ngân hàng đại lý được
bảo lãnh của ngân hàng đầu tư. Tuy nhiên, khả năng vay mượn còn phụ
thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển
đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng. Nghiệp vụ mượn tương đối
phức tạp, ngân hàng cần nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường để quyết định quy
mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hợp.
10
Ngân hàng có thể đi bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng các nguồn
này có đặc điểm chung là: Tỷ trọng của loại nguồn này trong tổng nguồn
thường thấp hơn nguồn tiền gửi, trừ một số ngân hàng chuyên hoạt động bán
buôn.
Các khoản đi vay thường là với thời hạn và quy mô xác định trước, do
vậy tạo thành nguồn ổn định cho ngân hàng.
Khác với nhận tiền gửi ngân hàng không nhất thiết phải đi vay thường
xuyên mà ngân hàng chỉ vay lúc cần thiết và ngân hàng hoàn toàn chủ động
quyết định khối lượng vay phù hợp với nhu cầu sử dụng.
Nguồn vay có thể không phải chịu dự trữ bắt buộc và bảo hiểm tiền
gửi.
Do rủi ro lớn hơn nên lãi suất trả cho tiền vay thường lớn hơn lãi suất trả cho
tiền gửi cùng kỳ hạn.
1.1.3.4. Các nguồn khác
Vốn, đặc biệt là vốn đầu tư là tiền đề của sự tăng trưởng kinh tế - xã
hội bởi tất cả các cá nhân, các TCKT muốn thực hiện các hoạt động kinh tế
cũng như triển khai các dự án nhằm phát triển sản xuất kinh doanh đều cần
phải có vốn đầu tư. Mặc dù, hiện nay, trên thị trường có nhiều kênh huy
động tạo vốn cho nền kinh tế nhưng huy động vốn qua NHTM vẫn đóng vai
trò chủ đạo vì vốn ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển còn có phần
hạn chế. Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, các
doanh nghiệp muốn làm ăn có hiệu quả phải không ngừng đổi mới công
nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, tạo ra sản phẩm chất lượng tốt, giá thành rẻ
để có thể đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.
12
Không phải doanh nghiệp nào cũng có nguồn vốn đủ lớn để thực hiện được
điều này vì vậy vay vốn ngân hàng là một trong những cách làm đơn giản,
tiết kiệm chi phí và lượng vốn huy động được lớn. Nhờ vậy, doanh nghiệp
có đủ lượng vốn cần thiết để đầu tư mua sắm trang thiết bị, máy móc… từ
đó góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Mặt khác, khi vay vốn của ngân hàng, các doanh nghiệp chịu áp lực trả nợ
và chịu sự giám sát của ngân hàng trong việc sử dụng vốn vay nên các doanh
nghiệp phải thực hiện dự án đầu tư có lãi và thực hiện tốt chế độ hạch toán
kinh tế.
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng góp phần tiết kiệm chi phí xã
hội. Thực tế, người cho vay không phải lúc nào cũng tìm kiếm được người
có nhu cầu vay vốn một cách dễ dàng, hơn nữa họ có thể không nắm rõ được
tình hình tài chính và khả năng trả nợ của bên vay nên đưa ra quyết định cho
vay là rất khó khăn. Ngược lại, những người cần vốn đôi khi khó khăn trong
việc tìm kiếm nguồn vốn, đặc biệt những nguồn vốn đầu tư cho dự án với
quy mô lớn trong thời gian nhất định. Việc huy động vốn của ngân hàng đã
giải quyết được vấn đề này. Ngân hàng đã tiến hành huy động toàn bộ các
khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, từ đó tích tụ và tập trung vốn biến tiết
kiệm thành đầu tư, tạo ra một nguồn vốn khổng lồ cho xã hội. Mặt khác, do
nhỏ trong cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng.
Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Hoạt động kinh
doanh của ngân hàng có được mở rộng và đa dạng hoá hay không phụ thuộc
vào khả năng nguồn vốn huy động của ngân hàng. Các ngân hàng có nguồn
vốn lớn sẽ thực hiện triển khai được nhiều hình thức dịch vụ cả truyền thống
lẫn hiện đại, do đó ngân hàng không chỉ đơn thuần tiến hành các huy động
14
cho vay mà còn thực hiện liên doanh, liên kết, cho thuê tài chính, bảo lãnh
Hiện nay, các ngân hàng cạnh tranh với nhau bằng sự đa dạng và chất lượng
của các loại hình dịch vụ ngân hàng cung cấp. Ngoài ra, với nguồn vốn huy
động đa dạng, ngân hàng còn có thể điều chỉnh mức chi phí bình quân đầu
vào để có thể giảm lãi suất cho vay đầu ra, chủ động về thời gian cho vay và
thực hiện áp dụng lãi suất một cách linh hoạt đối với từng đối tượng khách
hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh của ngân hàng so với các ngân hàng khác.
Như vậy, vốn huy động đảm bảo khả năng thanh toán chi trả của ngân
hàng đồng thời cho phép ngân hàng đáp ứng được mọi nhu cầu của khách
hàng như thanh toán, vay mượn… ngân hàng sẽ tạo được niềm tin đối với
khách hàng, uy tín ngân hàng ngày càng được khẳng định và củng cố. Có thể
nói, hoạt động huy động vốn của ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng
trong hoạt động kinh doanh, đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
cũng như của xã hội. Do đó, các ngân hàng luôn chú trọng phát triển và đa
dạng hoá các hình thức huy động vốn nhằm tạo ra nguồn vốn phong phú, dồi
dào, cơ cấu hợp lý đối với từng ngân hàng.
1.2.2. Các hình thức huy động vốn của NHTM
1.2.2.1. Theo đối tượng huy động
* Vốn huy động từ dân cư: Tiền gửi của dân cư là một bộ phận thu
nhập bằng tiền của các tầng lớp dân cư trong xã hội gửi vào ngân hàng nhằm
mụch đích tiết kiệm, kiếm lời và để thanh toán. Đây là nguồn vốn có tiềm
năng lớn và khá ổn định đối với ngân hàng. Nguồn vốn này rất đa dạng, vì
nó có thể được huy động dưới nhiều hình thức nhằm phục vụ mục tiêu phát
ra bất cứ lúc nào và ngân hàng luôn có nghĩa vụ phải thoả mãn các nhu cầu
đó, loại tiền gửi này có mục đích chính là thanh toán. Mặc dù, việc gửi và rút
16
có thể thực hiện vào bất cứ lúc nào, ngân hàng khó xác định trước nhưng
trên thực tế luôn có sự chênh lệch về thời gian, và số lượng giữa việc gửi và
rút tiền, cho nên tại mỗi ngân hàng luôn tồn tại một số dư tiền gửi không kỳ
hạn và ngân hàng có thể sử dụng để cho vay. Lãi suất của loại tiền gửi này
rất thấp, thậm chí có thể bằng không. Cho nên nguồn vốn này giúp cho ngân
hàng huy động được giá rẻ từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trong cho
vay và đầu tư.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có sự thoả thuận về thời gian rút
tiền. Về nguyên tắc, người gửi chỉ có thể rút tiền theo thời hạn đã thoả thuận,
tuy nhiên trên thực tế, các ngân hàng thường cho phép rút tiền trước thời hạn
nhằm thu hút loại tiền gửi này được nhiều hơn.
Nguồn vốn này có độ ổn định cao, ngân hàng chủ động trong quá
trình sử dụng. Vì vậy, để có thể thu hút nhiều hơn loại tiền gửi này, các ngân
hàng thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau phù hợp với thời gian vốn
nhàn rỗi ở các đơn vị. Mỗi kỳ hạn có một mức lãi suất tương ứng theo
nguyên tắc kỳ hạn càng dài, lãi suất càng cao.
NHTM có thể huy động vốn bằng hình thức đi vay các NHTM khác
và các TCTD. Loại vốn này lãi suất có lúc cao hơn lãi suất từ các nguồn tiền
gửi hay huy động từ dân cư. Tuy nhiên, có cũng rất cần thiết để đáp ứng nhu
cầu dự trữ, chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay
thế cho nguồn vay mượn từ Ngân hàng TW. Các ngân hàng có thể vay mượn
mà không cần phải có tài sản đảm bảo.
* Vốn huy động khác:
Đây là những nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập được khi thực hiện
chức năng làm trung gian thanh toán hoặc làm đại lý, tiếp nhận vốn tài trợ
uỷ thác đầu tư.
17
được rút tiền trước hạn. Tuy nhiên, do áp lực cạnh tranh hiện nay, các ngân
hàng vẫn phải chấp nhận cho khách hàng rút ra trước hạn khi đó người gửi
sẽ hưởng lãi suất thấp hơn lãi suất đã thoả thuận ban đầu hoặc chịu một mức
phạt nhất định tuỳ thuộc vào chính sách huy động vốn của ngân hàng và loại
tiền gửi có kỳ hạn.
Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn mang tính ổn định và ngân hàng có
thể sử dụng loại tiền gửi này một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh.
Do đó, để khuyến khích khách hàng gửi tiền, các ngân hàng đưa ra nhiều
loại kỳ hạn khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu gửi tiền của khách hàng. Với
mỗi kỳ hạn, ngân hàng áp dụng một mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc:
kỳ hạn càng dài thì mức lãi suất càng cao và với nhiều điều khoản hấp dẫn
khách hàng để tạo ra sự khác biệt.
- Tiền gửi tiết kiệm: Là hình thức huy động truyền thống của ngân
hàng. Khi gửi tiền vào ngân hàng, người gửi tiền được nhận sổ tiết kiệm, đó
là chứng từ đảm bảo tiền gửi, là giấy chứng nhận khách hàng đã gửi tiền vào
ngân hàng và họ có thể dùng sổ tiết kiệm đó để cầm cố vay vốn ngân hàng.
Tiền gửi tiết kiệm của dân cư cũng có hai loại đó là: Tiền gửi tiết
kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền tiết kiệm mà khách
hàng có thể rút tiền vào bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho
ngân hàng với mục tiêu nhờ ngân hàng giữ hộ là chủ yếu. Với tiền gửi tiết
kiệm không kỳ hạn, ngân hàng chỉ trả cho người gửi tiền lãi suất bằng lãi
suất tiền gửi thanh toán . Nguồn vốn này mang lại cho ngân hàng nguồn lợi
19
cao hơn vì lãi suất thấp, tuy vậy, nguồn vốn này không ổn định mà thường
xuyên biến động.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là nguồn vốn mang tính ổn định
cao nên ngân hàng rất chú trọng huy động theo hình thức này.
* Vốn huy động qua phát hành giấy tờ có giá.
- Trái phiếu ngân hàng: Là một trong những công cụ vay nợ dài hạn
dưới 1 năm. Để thoả mãn nhu cầu của khách hàng, ngân hàng có thể chia
nhỏ từng kỳ hạn thành các nguồn 3, 6, 9, 12 tháng với các mức lãi suất phù
hợp. Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn vốn
huy động của ngân hàng.
- Vốn huy động trung hạn: Để phục vụ cho các khoản vay trung hạn,
các NHTM đã tạo ra các sản phẩm với các kỳ hạn từ 1 đến 5 năm. Do thời
gian huy động khá dài cho nên nguồn này không được nhiều sự ưa chuộng
của khách hàng. Vì nguồn vốn này đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt
động kinh doanh của mình, cho nên ngân hàng cần phải thực hiện tốt các
giải pháp để thu hút được nhiều nguồn này.
- Vốn huy động dài hạn: Là những khoản tiền mà ngân hàng huy động
có thời hạn từ 5 năm trở lên, được dùng cho các dự án đầu tư dài hạn mang
tính khả thi. Đây là nguồn vốn ổn định mà ngân hàng huy động nhưng các
ngân hàng cũng phải trả mức lãi suất cao hơn cho những khoản vốn này.
1.2.2.4. Theo loại tiền huy động
21
Vốn huy động bằng VNĐ: Ngân hàng huy động vốn bằng VNĐ thông
qua tất cả các hình thức huy động khác nhau. Trong tổng nguồn vốn ngân
hàng huy động được thì nguồn vốn huy động bằng VNĐ chiếm tỷ trọng cao,
đáp ứng các nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng.
Vốn huy động bằng ngoại tệ: Ngoài huy động bằng VNĐ, ngân hàng
cũng tiến hành huy động vốn bằng ngoại tệ, nếu quy quy ra VNĐ cũng
chiếm tỷ trọng khá lớn trong hoạt động của ngân hàng. Mục đích huy động
vốn bằng ngoại tệ của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế
cùng như các hoạt động kinh doanh ngoại tệ của khách hàng hay của ngân
hàng.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NHTM
1.3.1. Nhân tố khách quan
1.3.1.1. Môi trường kinh tế xã hội
Bên cạnh đó, sự phát triển của thị trường tài chính ảnh hưởng không
nhỏ đến hiệu quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Thị trường liên
ngân hàng phát triển cho phép các ngân hàng dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn từ
các TCTD khác, các ngân hàng có thể cho vay khi thừa vốn và huy động
được một cách kịp thời khi thiếu vốn, nhằm đảm vốn cho hoạt động kinh
doanh, nâng cao hiệu quả huy động vốn. Thị trường vốn phát triển cũng là
kênh huy động quan trọng, thị trường này tạo ra nguồn vốn dài hạn, ổn định
góp phần khắc phục tình trạng khan hiếm vốn trung và dài hạn phục vụ cho
nhu cầu cho vay đầu tư trung và dài hạn của ngân hàng. Như vậy, thị trường
tài chính giúp ngân hàng có được cơ cấu vốn huy động phù hợp, đáp ứng
23
được nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng hay nói cách khác giúp ngân hàng
nâng cao hiệu quả huy động vốn.
1.3.1.2. Các yếu tố cạnh tranh
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng có sự tham gia của
nhiều loại hình ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Cạnh
tranh diễn ra ngày một mạnh mẽ và khốc liệt. Cạnh tranh về huy động tiền
gửi diễn ra dưới nhiều hình thức, các ngân hàng có thể áp dụng những điều
kiện khác nhau cho từng nhóm hoặc từng đối tượng khách hàng. Nhờ vậy,
các sản phẩm dịch vụ liên quan đến tiền gửi phát triển và được phổ biến
nhanh chóng. Cạnh tranh làm thay đổi biện pháp và kế hoạch thực hiện hoạt
động huy động vốn của các ngân hàng đồng thời làm thay đổi thị phần huy
động vốn trên thị trường.
1.3.1.3. Chính sách pháp luật của Nhà nước
Mọi đối tượng kinh doanh trong xã hội đều chịu sự quản lý của nhà
nước và hoạt động tuân theo pháp luật. Do vai trò và sự ảnh hưởng to lớn
của hoạt động ngân hàng đối với nền kinh tế quốc gia mà NHTM là đối
tượng chịu sự kiểm soát đặc biệt trong hoạt động của mình. Trong từng giai
đoạn cụ thể, ngân hàng phải tuân theo những quy định về lãi suất, tỷ lệ dự
trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng được cấp, số vốn tối đa được huy động, các
tiến hành mở thêm chi nhánh hay phòng giao dịch mới.
1.3.2.2. Uy tín của ngân hàng
Uy tín của ngân hàng đối với khách hàng chính là lòng tin của khách
hàng vào ngân hàng. Nó được đánh giá dựa trên khả năng hoàn trả vốn vay
cho khách hàng một cách đúng hạn, đảm bảo sự an toàn về nguồn vốn cho
25