Những giải pháp cơ bản để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010 của huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái - Pdf 26

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Qua hơn 20 năm đổi mới và phát triển, kinh tế Yên Bái đã phát
triển và tăng trưởng với tỷ lệ khá cao và ổn định so với các tỉnh thuộc miền
núi phía Bắc (tốc độ tăng trưởng GDP/người từ 1986-2000 đạt 7.81%) cơ
cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực, đời sống nhân dân tiếp tục được cải
thiện.
Bên cạnh những kết quả đạt được Yên Bái là tỉnh miền núi còn
gặp nhiều khó khăn, điểm xuất phát nền kinh tế thấp, vẫn là tỉnh nghèo,
kinh tế hàng hoá chậm phát triển.
Văn Yên là một huyện nằm ở phía bắc của tỉnh Yên Bái, với tốc độ
tăng trưởng và phát triển ngần như tương ứng với sự phát triển chung của
toàn tỉnh.
Bên cạnh đó Huyện Văn Yên vẫn là một huyện nghèo của tỉnh Yên Bái,
khả năng tận dụng hết nguồn lực để phát triển kinh tế chưa phát huy được
tối đa. Đời sống của nhân dân còn nhiều hạn chế và thiếu thốn. Tình hình
trên do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân đáng quan tâm là do chúng
ta chưa xem xét đầy đủ đến một chiến lược phát triển toàn diện mà trong đó
kế hoạch 5 năm đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc định hướng phát
triển kinh tế xã hội.
Xuất phát từ luận cứ trên cùng với thời gian thực tập ở phòng Tài
Chính – Kế hoạch của huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái, em đã tìm hiểu về
chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh từ 2001-2010 cũng như kế hoạch 5
năm 2006 -2010 của huyện Văn Yên.
Từ đó em lựa chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp là:
“ Những giải pháp cơ bản để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội 5 năm 2006-2010 của huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái ”
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Do khả năng có hạn nên bài viết của em không tránh khỏi những

can thiệp vào nền kinh tế để hạn chế thấp nhất những khuyết tật của thị
trường. Điều này cũng có nghĩa là đòi hỏi Nhà nước phải tham gia vào việc
giải quyết các vấn đề trong hoạt động của nền kinh tế.
Vì vậy việc Nhà Nước can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế để
hạn chế khuyết tật là một yếu tố khách quan. Nhà Nước thường sử dụng
các công cụ để điều tiết thị trường đó là một trong những công cụ sau: luật
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
pháp các chính sách kinh tế, các đòn bẩy kinh tế, kế hoạch phát triển kinh
tế – xã hội và huy động các lực lượng kinh tế của Nhà Nước.
Trong hệ thống những công cụ nói trên thì kế hoạch phát triển kinh tế – xã
hội có nhiệm vụ xác định được những mục tiêu cũng như các phương
hướng phát triển nền kinh tế và đưa ra những giải pháp để thực hiện được
các phương hướng và mục tiêu đó.
Dựa vào những định hướng về phát triển kinh tế xã hội mà nhà nước
đã sử dụng đồng bộ những công cụ khác nhau nhằm thực hiện và đạt được
những mục tiêu đã vạch ra, sao cho hiệu quả kinh tế phù hợp với điều kiện
của đất nước ta.
1.1. Khái niệm về kế hoạch hoá:
Kế hoạch hoá là sự thể hiện ý đồ phát triển của chủ thể quản lý đối
với một đối tượng quản lý và phương thức tác động để đạt được các mục
tiêu đặt ra: làm gì? làm như thế nào? ai làm? khi nào?
Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội là một trong những phương thức
quản lý của nhà nước bằng mục tiêu. Nó thể hiện ở việc chính phủ cần xác
định về các mục tiêu kinh tế – xã hội cần phải hướng đến một trong những
một thời kỳ nhất định (trong một năm, 5 năm) và cách thức để đạt được
những mục tiêu đó thông qua những chính sách, những biện pháp và định
hướng cụ thể .
Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội là một trong nhiều công cụ

công cụ để Nhà nước hướng dẫn thị trường và điều chỉnh thị trường nhằm
kết hợp giữa lợi ích ngắn hạn với lợi ích dài hạn, giữa sự phát triển trước
mắt với sự phát triển bền vững của đất nước.
+ Kế hoạch có tính linh hoạt, mềm dẻo: kế hoạch trong nền kinh tế thị
trường không phải là kế hoạch cứng nhắc mà là kế hoạch hết sức mềm dẻo
và linh hoạt thích hợp với điều kiện của thị trường. Điều đó có nghĩa là tuỳ
theo tình hình biến đổi của thị trường mà phải có kế hoạch thích ứng sao
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cho phù hợp với yêu cầu của thị trường mà vẫn đảm bảo được mục tiêu của
kế hoạch. Vì vậy cần đảm bảo theo yêu cầu của kế hoạch.
+ Kế hoạch chỉ mang tính định hướng, kế hoạch đưa ra một loạt các
phương hướng sẽ phải đạt được trong tương lai với những chỉ tiêu cụ thể.
Điều này có nghĩa là những biện pháp mệnh lệnh hành chính trực tiếp
không được sử dụng, mà chủ yếu sử dụng các biện pháp gián tiếp để cho
nền kinh tế đạt được mục tiêu mà kế hoạch đã đưa ra.
- Trong xây dựng kế hoạch thì coi việc xây dựng kế hoạch là việc hình
thành nên các kịch bản, từ đó xây dựng nên nhiều phương án ứng với điều
kiện cụ thể, mục đích cụ thể. Qua đó ta có thể đưa ra các giải pháp lựa chọn
phương án tối ưu. Mặt khác chỉ tiêu kế hoạch phải được xây dựng trong
một khoảng và phải tạo ra được các phương án thay thế khác nhau .
Trong việc triển khai thực hiện kế hoạch áp dụng nguyên tắc thay đổi
theo kiểu dựa vào mục tiêu theo dõi mục tiêu và điều khiển theo sự biến
động của bên ngoài. Để sao cho kế hoạch thực hiện một cách không cứng
nhắc. Thích hợp với thị trường tại điều kiện hiện tại.
Trong việc tổ chức hệ thống quản lý kế hoạch việc lựa chọn cán bộ kế
hoạch được giao quyền cho các đơn vị trực thuộc. Cần tạo điều kiện thuận
lợi nhất cho cấp dưới phát huy hết khả năng của mình, để việc thực hiện kế
hoạch được diễn ra thuận lợi nhất.

Kế hoạch hàng năm
Chương trình dự án
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Chiến lược phát triển là tổng hợp những phân tích, những đánh giá
và lựa chọn về căn cứ, những quan điểm, những mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội của đất nước trong một khoảng thời gian dài trên mười năm và
những chính sách cụ thể để có thể thực hiện những mục tiêu đã đưa ra. Đây
được coi là bộ khung của kế hoạch để có thể dựa vào đó để xây dựng kế
hoạch ngắn hạn.
+ 5 năm là thời gian bắt đầu một nhiệm kỳ Đại Hội Đảng toàn quốc
mới, cùng với một nhiệm kỳ chính trị. ở đấy họ có thể rút ra được những
điều còn hạn chế chưa được thực hiêntrong kế hoạch 5 năm vừa qua, để
thực hiện kế hoạch 5 năm tiếp theo cho hoàn chỉnh và đạt hiệu quả cao
hơn.
Kế hoạch 5 năm là kế hoạch cụ thể hoá chiến lược phát triển trong
dài hạn của nền kinh tế nhằm xác định những mục tiêu, định hướng, những
nhiệm vụ, các chương trình, các cân đối vĩ mô chủ yếu và các giải pháp
chính sách có giá trị hiện hành trong thời gian 5 năm.
Kế hoạch 5 năm được xác định trong thời gian đó để phù hợp với
một chu kỳ phát triển của nền kinh tế, trong một chu kỳ đó nó thể hiện
được bản chất của một bộ phận kinh tế nào đó. Trong thời gian 5 năm đó
không quá dài để khi phát hiện được hạn chế để có thể xử lý kịp thời.
Trong môi trường hiện tại tiến bộ phát triển khoa học hiện đại thì 5
năm là thời gian trung bình để hình thành các công trình, dự án cơ bản
trong hệ thống phát triển các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân, để có thể
đưa vào sử dụng và đánh giá phát huy hiệu quả vốn đầu tư. Kế hoạch 5
năm là khoảng thời gian không dài để đánh giá và cho các chỉ tiêu kế hoạch
mang tính thực tiễn. Từ đó, chúng ta mới có thể xây dựng định hướng mới
cho kế hoạch trong 5 năm tới.

thống kế hoạhc hoá vì nó là một trong những bước đi đầu tiên làm kế hoạch
xây dựng nền móng cho nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp đáp
ứng được nhu cầu phát triển của toàn cầu.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mặt khác nghị quyết đại hội 8 đã dần đặt ra yêu cầu sử dụng kế
hoạch 5 năm là chủ yếu và có phân ra từng năm, để đặt mục tiêu cụ thể.
Vậy nhằm để nâng cao chất lượng trong công tác Kế Hoạch Hoá ở
nước ta cần coi trọng kế hoạch 5 năm và lấy kế hoạch 5 năm là hình thức
quản lý chủ yếu để định hướng phát triển theo kế hoạch 5 năm làm lòng
cốt.
Một trong những chỉ tiêu để hoàn thành kế hoạch 5 năm là kế hoạch
hàng năm.
Kế hoạch hàng năm:
Kế hoạch hàng năm là một trong những công cụ triển khai cụ thể hoá
kế hoạch 5 năm. Nó phân đoạn 5 năm ra từng năm cụ thể để có thể hoàn
thành kế hoạch 5 năm một cách chắc chắn và bền vững.
Kế hoạch hàng năm nằm trong bộ khung của kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội 5 năm và dựa trên chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất
nước, các nghành, các địa phương sẽ dựa vào bản kế hoạch hàng năm để
xây dựng kế hoạch phát triển của các ngành và của địa phương.
Cũng có thể nói đây là kế hoạch để điều hành, quản lý những chỉ
tiêu, nó bao gồm cả việc thiết lập những cân đối lớn dựa trên cơ sở nghiên
cứu, dự báo những nhu cầu của thị trường và điều chỉnh một cách hợp lý
cho các kế hoạch tiếp theo.
Mặt khác kế hoạch hàng năm còn là công cụ để hoàn thiện kế hoạch
5 năm, có tính chất bổ xung dựa vào những vấn đề mới chưa có trong nội
dung của kế hoạch 5 năm, nó là sự bổ xung cần thiết để kế hoạch 5 năm trở
lên hoàn thiện.

triển kinh tế - xã hội cuả đất nước và sự phân kỳ các giai đoạn phát triển.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nội dung này bao gồm thiết lập hệ thống các tư tưởng chỉ đạo xây dựng kế
hoạch xuyên suốt trong thời kỳ kế hoạch. Một số quan điểm cần phải được
nghiên cứu là.
- Quan điểm về việc kết hợp tăng trưởng ổn định bền vững và tạo
điều kiện phát triển cho giai đoạn, quan điểm về kết hợp hài hoà kinh tế và
xã hội, quan điểm về phát triển toàn diện, quan điểm về kết hợp nguồn lực
và khai thác nguồn nội lực bên ngoài.
Xác định mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển của nền kinh tế. ở cấp
tổng thể nền kinh tế, cần xác định hệ thống mục tiêu kinh tế vĩ mô, bao
gồm một số mục tiêu cơ bản :
- Tăng trưởng kinh tế mà mục tiêu tổng quát là tốc độ gia tăng GDP,
theo đó là tốc độ gia tăng ngành công nghiệp, nông, lâm, ngư nghiệp, dịch
vụ.
- Tăng khả năng đối ngoại, xuất - nhập khẩu và thu hút nguồn vốn
đầu tư từ bên ngoài.
- Bảo đảm công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, phát triển dân trí, cải
thiện dân sinh và các mặt xã hội.
Xây dựng hệ thống các cân đối vĩ mô chủ yếu, bao gồm việc tính
toán và xác định các cân đối về tích luỹ tiêu dùng, cân đối ngân sách, cân
đối về đầu tư phát triển kinh tế - xã hội với việc huy động toàn bộ nguồn
lực phát triển trong nền kinh tế, cân đối về xuất - nhập khẩu, cân đối về cán
cân thanh toán, cân đối về năng lực sản xuất và nhu cầu các sản phẩm chủ
yếu.
Xây dựng các chương trình phát triển, nhằm bảo đảm mục tiêu. Bao
gồm những nội dung sau đây:
- Mục tiêu của chương trình dự án.

- Kế hoạch 5 năm “Cuốn chiếu”.
Phương pháp 1: Kế hoạch 5 năm “Thời kỳ”
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Xây dựng kế hoạch này trong khoản thời gian là 5 năm, với mốc
phân đoạn cố định (ví dụ: xây dựng kế hoạch 2001 - 2005, kế hoạch 2006 -
2010 ).
Cách tính toán chỉ tiêu xây dựng và tính bình quân trên một năm của
cả thời kỳ hoặc tính chỉ tiêu cho các năm cuối.
- Ưu điểm:
Phương pháp này dễ tính toán vì muốn xây dựng kế hoạch cho 5 năm
tiếp theo thì lấy số liệu kế hoạch và thực tế của kỳ trước rồi nhân với hệ số
phát triển bình quân của các giai đoạn trước. Bên cạnh đó, là cũng dễ quản
lý, dễ theo dõi đánh giá hơn khi dựa vào các chỉ số bình quân khi thực hiện
kế hoạch.
- Nhược điểm:
Kế hoạch được xây dựng theo phương pháp này được cho là duy ý
trí, cứng nhắc, mất đi tính linh hoạt và mềm dẻo của kế hoạch. Vì là chỉ
tiêu bình quân và được xác định trong khoảng thời gian dài (5 năm) nên có
nhiều tác động bên ngoài vào thực hiện kế hoạch (như khủng hoảng, lạm
phát, sự thay đổi của chính sách ) mà ta khó có thể dự đoán trước được
nên các chỉ tiêu đưa ra bị gò bó, khó điều chỉnh thay thế cho phù hợp với
thay đổi ngoại cảnh.
Phương pháp 2 : Kế hoạch 5 năm “Cuốn chiếu”.
Khoảng thời gian cố định là 5 năm nhưng thời gian cụ thể thì thay
đổi.
Cách tính toán chỉ tiêu - Xây dựng cụ thể các chỉ tiêu kế hoạch cho
một năm đầu. Dự tính, tính toán một số chỉ tiêu năm sau và dự báo một số
chỉ tiêu năm còn lại.

các dịch vụ văn hoá thông tin, bưu chính viễn thông; đặc biệt là Internet.
Thực hiện tốt công tác thông tin cổ động, biểu diễn văn nghệ ở vùng sâu,
vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Nâng cao chất lượng công tác phát thanh,
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tiếp sóng truyền hình. Đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục
thể thao phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của địa phương. Thực hiện tốt
cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá. Nâng cao
chất lượng phục vụ và hiệu quả của điểm bưu điện văn hoá xã, đảm bảo
thông tin liên lạc thông suốt. Nâng cao và quản lý sử dụng có hiệu quả nhà
văn hoá thôn, bản.
CHƯƠNG II. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH
TRONG GIAI ĐOẠN 2006 – 2007
I. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HUYỆN VĂN YÊN TỈNH YÊN BÁI.
1. Đặc điểm địa lý.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Văn Yên là một huyện vùng thấp của tỉnh Yên Bái được thành lập ngày
1 tháng 3 năm 1965 theo quyết định 117 – CP do hội đồng Chính phủ ban
hành ngày 16 tháng 12 năm 1964. Tính đến nay huyện có 27 xã và 1 thị
trấn. Huyện Văn Yên nằm ở toạ độ 104 độ 23’ đến 104 độ 60’ kinh đông,
21 độ35 đến 22 độ 10’ vĩ bắc. Phía tây nam giáp huyện Văn Chấn và Mù
Cang Chải, phía tây Bắc Huyện Trấn Yên. Chiều dài của huyện là 55 km,
nơi rộng nhất là 35 km. Toàn huuyện có 11 dân tộc đang sinh sống góp
công xây dựng huyện phát triển với nhiều loại hình phong phú và đa dạng.
Địa hình khá phức tạp nhưng có thể chia thành 2 vùng lớn: vùng cao và
vùng thấp. Vùng cao có độ cao trung bình 600 m trở lên, chiếm 67,56%
diện tích toàn huyện. Vùng này dân cư thưa thớt, có tiềm năng về đất đai,

từng ngành nghề đề cao trách nhiệm của người đứng đầu; của cán bộ, công
chức. Gắn với đổi mới cơ chế điều hành của UBND các cấp. Phát huy sự
giám sát của HĐND, đại biểu HĐND và cử tri. Nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu lực điều hành của UBND. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu
nước, phấn đấu hoàn thành mức các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2006 – 2010.
2. Tài nguyên thiên nhiên.
2.1. Tài nguyên đất.
Toàn huyện có diện tích là 1.363 km2 với hơn 22.000 dân, mật độ dân
số trung bình là 19.000 người/ km2. Trong đó đất nông nghiệp 137 km2,
chiếm 10,07%; đất lâm nghiệp 527 km2, chiếm 41%; đất chuyên dùng 52,9
km2, chiếm 4,25%; đất ở 6 km2, chiếm 0,55% và đất chưa sử dụng 535
km2, chiếm 44,13%. Trong đó số đất chưa sử dụng, đất có khả năng nông
nghiệp là 135 km2; đất có khả năng lâm nghiệp là 213 km2. Đất của Huyện
Văn Yên chủ yếu là đất xám (chiếm 82,36%), còn lại là đất mùn alít, đất
phù sa, đất glây, đất đỏ…
2.2. Tài nguyên rừng
Năm 2005, toàn tỉnh có 1.8680 ha rừng tự nhiên, chiếm 27,14% diện
tích đất tự nhiên toàn tỉnh, tăng 4,5% so với năm 2000 và tăng 3,5% so với
năm 2003; diện tích rừng trồng 9.430 ha bằng 13,86% diện tích đất tự
nhiên. Tỷ lệ che phủ đạt 41%. Tổng trữ lượng gỗ các loại theo số liệu điều
tra năm 1998 có 6,2 triệu m
3
, 5,133 triệu cây tre, vầu, nứa và các loại lâm
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sản khác, trữ lượng gỗ rừng trồng còn 0,9 triệu m
3
. Về khai thác lâm sản,
năm 2000, khối lượng gỗ tròn khai thác là 5.683 m

NLN 62,3 61,6 60,4 57,0 54,0
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CN – XD 14,73 15,0 15,35 16,4 19,0
DV - TM 22,95 23,4 24,25 26,6 27,0
- Thu nhập bình quân đầu người ( Giá trị gia tăng tính theo giá CĐ
94)
Năm 2001: 2.019.000 đồng/người/năm.
Năm 2004: 3.050.000 đồng/người/ năm.
Năm 2005: 3.500.000 đồng/ người/năm.
2. Các lĩnh vực kinh tế chủ yếu.
2.1. Sản xuất nông – lâm nghiệp.
Nông lâm nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu trên địa bàn huyện chiếm
60% giá trị tổng sản lượng, trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp đã thu
được những kết quả đáng kể, cụ thể tổng sản lượng lương thực tăng, đời
sống nhân dân tăng lên, đảm bảo ổn định về lương thực trên địa bàn huyện.
2.1.1. Về trồng trọt.
Sản lượng lương thực có hạt năm 2001: 30.242 tấn; năm 2004 tăng
lên 33.590,5 tấn, và vào năm 2005 là 34.100 tấn.
Bình quân đầu người về lương thực năm 2001 là 273 kg/người/năm;
năm 2004: 298 kg/người/năm; năm 2005 là 300,5 kg/người/năm. Có thể
thấy đó là chỉ tiêu đánh giá sự tăng trưởng lớn qua 5 năm trong giai đoạn
2001- 2005.
Một số cây trồng chủ yếu.
- Cây lúa: Diện tích lúa ổn định năm 2001 diện tích lúa cả năm là
5.064 ha, năm 2004: 5.340 ha, năm 2005 là 5.350 ha. Năng suất bình quân
năm 2001: 92,55 tạ/ha/năm; năm 2004: 97,9 tạ/ha/năm; đến năm 2005:
98,6 tạ/ha/năm.
- Cây ngô: Diện tích năm 2001: 2.095 ha; năm 2004: tăng lên 2.575

và năm 2005 sản lượng tinh bột sắn đạt 6.000 tấn.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngoài ra cơ sở sản xuất TCN tăng: như sản xuất vật liệu xây dựng
gạch từ 7,3 triệu viên năm 2003 lên 10,5 triệu viên năm 2004 và đến năm
2005; chế biến đường mật 1.700 tấn năm 2001 và năm 2005 là 1.000 tấn.
2.2.2. Xây dựng cơ sở hạ tầng.
Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện giai đoạn 2001
– 2005: 429.417 triệu đồng bằng nhiều nguồn vốn như: Vốn ngân sách tập
trung, vốn chương trình 135, vốn các chương trình mục tiêu, đã xây dựng
được một số công trình phục vụ nhu cầu sản xuất Nông – Lâm nghiệp,
công trình giao thông, y tế, giáo dục, đường điện như: Cầu qua sông, đường
Quy Mông – Đông An, đường Yên Bái – Khe Sang, kiên cố hoá trường lớp
học, đường điện đẩy mạnh việc lưu thông hàng hoá cũng như giáo dục
đào tạo, chăm soc sức khoẻ cải thiện đời sống nhân dân. Hoàn thiện được
chỉ tiểu của kế hoạch 5 năm 2001 – 2005.
Quản lý và sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, khắc phục tình trạng suy thoái và
cải thiện chất lượng môi trường. Lập đề án thực hành tiết kiệm trong sử
dụng tài nguyên đất, khoáng sản, nước gắn với việc thanh tra, kiểm tra và
thu hồi đất do vi phạm Luật Đất đai; hoàn thành đề án quy hoạch khảo sát,
thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trên địa bàn; quy hoạch
bảo vệ nguồn nước sông Hồng. Tiếp tục công tác lập bản đồ địa chính các
xã. Tăng cường năng lực quản lý nhà, đất ở tất cả các cấp, ngành.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản triển khai thực hiện
Luật Bảo vệ môi trường, tập trung vào công tác hướng dẫn đánh giá tác
động môi trường, thực hiện quy định bảo vệ môi trường trong xây dựng
chiến lược, quy hoạch kế hoạch, chương trình và dự án. Thành lập Chi cục
Bảo vệ môi trường. Chấn chỉnh công tác quản lý, bảo vệ môi trường, xử lý

92,5%. Chất lượng giáo dục đạt kết quả cao, tỷ lệ học sinh khá giỏi đạt trên
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
30%, chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dần được chuẩn hoá
theo yêu cầu của ngành giáo dục.
3.2. Y tế.
Hệ thống y tế ổn định, 100% số xã có trạm y tế để phục vụ khám,
chữa bệnh kịp thời cho người dân, số bác sĩ/ vạn dân năm 2001 là 2,5 năm
2004 là 2,7 và năm 2005 là 3 bác sĩ/vạn dân và có 5 xã chuẩn về y tế. Thực
hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, đồng thời tổ chức tốt
việc phòng dịch không để dịch bệnh xảy ra.
3.3. Văn hoá – TDTT.
Văn hoá là một hoạt đồng thường xuyên, phát thanh truyền hình và
TDTT từng bước đổi mới phục vụ nhu cầu văn hoá tinh thần cho nhân dân
trong huyện. Tính đến năm 2004 đã có 67 làng văn hoá, 15.000 gia đình
văn hoá. Năm 2005 ngần 100% số thôn bản có nhà văn hoá thôn.
3.4. Thông tin liên lạc.
Năm 2001 có 21 xã có điện thoại, kết thúc năm 2004 có 100% số xã
có điện thoại, 100% số xã có báo trong ngày, đảm bảo thông tin thông suốt
từ huyện đến trung tâm xã.
3.5. Lao động và giải quyết việc làm.
Quan tâm động viên, hỗ trợ các giai đình chính sách, khó khăn, giải
quyết kịp thời, đúng chế độ chính sách đến tân tay những đối tượng được
hưởng chế độ chính sách xã hội. Tạo việc làm mới cho nhiều lao động năm
2001 là 3.000 lao động, năm 2004 là 3.143 lao động. Số hộ vay vốn giải
quyết việc làm năm 2001 là 1.741 hộ; trong đó số hộ nghèo là 710 hộ và
đến năm 2005 giảm số hộ vay vốn để giải quyết việc làm này là 800 hộ.
III. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA KẾ HOẠCH 5 NĂM GIAI
ĐOẠN 2006 – 2010.

Xã Hội Chủ Nghĩa, lấy kinh tế Nhà nước làm chủ đạo, kinh tế Nhà nước và
kinh tế hợp tác xã là nền tảng trong quá trình phát triển. Phát huy mọi tiềm
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
25

Trích đoạn ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ NGUỒN LỰC TRONG VIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM THỜI KỲ 2008 2010. Về phỏt triển nụng, lõm nghiệp. Cụng tỏc thi đua khen thưởng. Cỏc giải phỏp về cải thiện mụi trường và nõng cao hiệu quả đầu tư. Giải phỏp về phỏt triển nguồn nhõn lực.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status