kế thừa và phát triển - Pdf 26

LỜI NÓI ĐẦU
***
Chế định về nghĩa vụ của công dân là chế định cơ bản trong hầu hết các bản
hiến pháp của các quốc gia trên thế giới. Cùng với chế định quyền trong Hiến
pháp, ta có thể xác định được mức độ dân chủ nhân đạo, tiến bộ của một nhà nước,
một xã hội. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là cơ sở để xác định địa
vị pháp lý của công dân, là cơ sở cho mọi quyền và nghĩa vụ khác.
Trong lịch sử lập Hiến nước ta, nội dung chế định về nghĩa vụ cơ bản của
công dân hết sức phong phú, ngày càng đầy đủ và hoàn thiện hơn. So với Hiến
pháp trước, Hiến pháp sau đã có những sửa đổi bổ sung điều khoản mới phản ánh
những thay đổi cơ bản về mọi mặt đời sống xã hội Việt Nam trong mỗi giai đoạn
phát triển. Do đó, nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp nước ta thể hiện tính kế
thừa, phát triển cả về hình thức và nội dung. Điều đó phù hợp với sự phát triển
kinh tế xã hội Việt Nam, phản ánh nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và địa vị xã hội
ngày càng tăng của các cá nhân con người.
Với tầm quan trọng như trên, chúng em xin chọn đề tài “Phân tích sự kế thừa
và phát triển các quy định về nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lịch sử lập hiến
Việt Nam”. Thông qua lịch sử lập hiến của bốn bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980
và 1992), việc nghiên cứu, phân tích chế định này giúp ta có cái nhìn tổng thể và
ngày càng hoàn thiện hơn nhằm trực tiếp góp phần nâng cao đời sống của người
dân, đồng thời cho phép chúng ta nhận thức rõ hơn trong việc xây dựng và áp dụng
pháp luật về nghĩa vụ của công dân trong thực tế.
Bài làm có thể còn nhiều thiếu sót nên chúng em kính mong thầy cô và các
bạn đóng góp những ý kiến bổ sung để chúng em có thể hoàn thiện kiến thức của
mình một cách đầy đủ và sâu sắc hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn.
1
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. CÁC KHÁI NIỆM.
1.1. Khái niệm kế thừa và phát triển.
Kế thừa là sự thừa hưởng, giữ gìn và tiếp tục phát huy những nhân tố hợp
quy luật, đồng thời loại bỏ những nhân tố trái quy luật

nước. Cơ sở đó được thiết lập trên cơ sở pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ
của các bên tham gia trong quan hệ. Khi công dân được nhà nước trao cho những
quyền và được nhà nước bảo đảm thực hiện thì Nhà nước cũng có quyền yêu cầu
công dân thực hiện những nghĩa vụ bắt buộc đối với nhà nước. Như vậy, quyền
công dân trở thành cơ sở nghĩa vụ của công dân.
2. SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA NGHĨA VỤ CƠ
BẢN CỦA CÔNG DÂN QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP.
2.1. Hiến pháp 1946.
2.1.1. Hoàn cảnh ra đời.
Hiến pháp 1946 ra đời trong bối cảnh đất nước vừa được giải phóng, nhân
dân Việt Nam chính thức làm chủ đất nước mình. Hiến pháp 1946 được thông qua
ngày 9/11/1946, bao gồm lời nói đầu và 7 chương, 70 điều. Chương “nghĩa vụ và
quyền lợi cơ bản của công dân” là chương thứ 2 bao gồm 18 điều. Trong hoàn cảnh
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ vừa ra đời, các thế lực thù địch bên ngoài
luôn rình rập chống phá nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “nếu nước được
độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chắng có ý nghĩa gì”
(1)
. Xuất phát từ đó, Hiến pháp 1946 đề ra “nghĩa vụ và quyền lợi của công dân”,
ghi nhận những giá trị quyền, nghĩa vụ của công dân mà nhân dân ta đã giành
được, coi đó là nội dung cơ bản của hiến pháp dân chủ.
2.1.2. Các nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Theo Hiến pháp 1946, có 2 điều quy định nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đó
−−−−−−−−−−−−−−−−−−−
(1): Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 3, trang 554
3
là điều 4: Mỗi công dân Việt Nam phải bảo vệ tổ quốc, tôn trọng hiến pháp và tuân
theo pháp luật và điều 5: Công dân Việt Nam có nghĩa vụ phải đi lính.
Điều đáng chú ý hơn cả ở Hiến pháp 1946 khác với các Hiến pháp sau này
là nghĩa vụ được đặt lên trước quyền lợi. Điều này rất có ý nghĩa vì nhân dân ta khi
vừa giành được chính quyền, vừa có địa vị công dân đã bị nhiều kẻ thù uy hiếp và

Ngoài ra, Hiến pháp 1946 chỉ dừng lại ở việc: “công dân Việt Nam phải tôn
trọng” thì tới 1959 đã quy định là “có nghĩa vụ tuân theo” Hiến pháp và pháp luật.
“Tôn trọng” và “tuân theo” là hai việc hoàn toàn khác nhau. Tôn trọng thì có thể
thực hiện có thể không còn tuân theo nghĩa là phải thực hiện theo. Điều này nhỏ
nhưng đã nâng cao vị thế của Hiến pháp và pháp luật.
Mặt khác, chúng ta cũng thấy được sự phát triển, kế thừa và phát triển không
chỉ dừng lại ở việc nêu ngắn gọn các nghĩa vụ của công dân như: “bảo vệ tổ quốc,
tuân theo pháp luật, tôn trọng Hiến pháp…” mà ở Hiến pháp 1959 đã bổ sung làm
rõ hơn về mặt ý nghĩa, tính chất và nghĩa vụ của công dân phải tuân theo. Chẳng
hạn như Hiến pháp 1959 có ghi: “Bảo vệ tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng cao quý
của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” hay “công dân có nghĩa vụ phải
tuân theo kỷ luật lao động, trật tự công cộng, và những quy tắc sinh hoạt xã hội”.
Đây đồng thời cũng là một điểm mới trong Hiến pháp 1959.
Nghĩa vụ cơ bản của công dân ở Hiến pháp 1959 còn được mở rộng hơn
so với Hiến pháp 1946. Ví dụ: Hiến pháp 1959 quy định về nghĩa vụ phải đóng
thuế là điều mới so với Hiến pháp 1946, nó phản ánh được phần nào tình hình đất
nước. Năm 1945, mặc dù ta đã giành được độc lập, nhưng khắp cả nước từ Lạng
Sơn đến Cà Mau đều rơi vào nạn đói khủng khiếp. Người dân chết đói như ngả rạ,
thù trong giặc ngoài làm nước ta rơi vào tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”, bởi vậy
Hiến pháp của chúng ta chưa quy định nghĩa vụ đóng thuế bắt buộc đối với công
dân. Năm 1959, miền Bắc vừa tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa, vừa là hậu
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status