SKKN MỘT VÀI KINH NGHIỆM TRONG GIẢNG DẠY TỪ HÁN VIỆT Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ - Pdf 26

phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Thờng Tín
trờng trung học tân minh
____________
Tên đề tài:
MT VI KINH NGHIM TRONG GING DY T
HN VIT TRNG TRUNG HC C S

ngời thực hiện: Nguyễn Xuân Trờng
Chức vụ: Phó hiệu trởng

Năm học 2008 - 2009
Ngời thực hiện: Nguyễn Xuân Trờng
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do -Hạnh Phúc
o0o
Sáng kiến kinh nghiệm
____________________
I. Sơ yếu lý lịch:
Họ và tên: Nguyễn Xuân Trờng
Ngày sinh: 03/3/1971
Năm vào ngành: 1994
Chức vụ: Phó hiệu trởng
Trình độ chuyên môn: Đại học Văn
Đơn vị công tác: Trờng THCS Tân Minh
Bộ môn giảng dạy: Văn - Tiếng Việt
Khen thởng: Chiến sĩ thi đua cơ sở
A. Lý do chọn đề tài
Do vị thế địa lý và hoàn cảnh lịch sử, trong tiếng Việt có một lớp
từ gốc Hán rất phong phú về mặt số lợng, có giá trị nhiều mặt, thờng đợc
gọi dới dạng cái tên chung là từ Hán - Việt.
Sáng kiến kinh nghiệm

1. Lầm lẫn từ Hán Việt đ ợc vay m ợn là đảo vị trí các yếu tố tạo
thành từ ghép song âm tiết (nh ng vẫn giữ nguyên ý nghĩa).
VD:
Sáng kiến kinh nghiệm
Trang: 3
Ngời thực hiện: Nguyễn Xuân Trờng
Lệ ngoại (Hán) - Ngoại lệ (Việt). Hán (H), Việt (V).
Ngoại hớng (H) - Hớng ngoại (V); cải hoán (H) - hoán cải (V);
khai triển (H)- triển khai (V).
Sự thay đổi này cũng có giới hạn. Cần lu ý những trờng hợp đảo vị
trí dẫn đến ý nghĩa khác hoặc một từ khác.VD: "lai vãng" và "vãng lai"
trong Hán ngữ ý nghĩa không thay đổi, nhng tiếng Việt "vãng lai" có ý
nghĩa chung là lu động, không cố định, (" tới rồi lại đi nh khách vãng
lai", còn "lai vãng" cũng có ý nghĩa chung là qua lại, tới, đến nhng ngữ
khí nặng nề mang ý răn đe, ngăn cấm. VD: "Từ nay tam cấm cửa không
cho mày lai vãng đến đây nữa!"
2. Lầm lẫn trong việc phân biệt ý nghĩa của các từ, từ tố Hán Việt
đồng âm
a. Đồng âm giữa từ Hán Việt với từ Hán Việt: nh có em đã viết:
"Cới vợ thờng đón dâu vào buổi chiều (hoàng hôn), nên mới gọi là hôn
lễ". Em học sinh đó đâu hiểu rằng "hôn" trong"hoàng hôn" có nghĩa là
tối (cả nghĩa đen và nghĩa bóng nh: "hôn quân" chẳng hạn) và "hôn"
trong "lễ thành hôn" là "kết duyên vợ chồng".
b. Đồng âm giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt: nh "ngoan" trong
Hán ngữ có nghĩa là cứng đầu, cứng cổ, bớng bỉnh cố chấp, cứng cỏi" chỉ
xuất hiện với t cách là yếu tố trong từ ghép Hán Việt nh "ngoan cố,
ngoan cờng", nhng trong từ thuần Việt nh "phiếu bé ngoan"chẳng hạn.
Từ những nguyên nhân trên, tôi đã mở một cuộc điều tra nho nhỏ ở
khối lớp 7 giữa năm học 2002 - 2003 bằng cách đa ra 10 từ Hán Việt để
các em giải nghĩa và sau đó đặt câu với những từ đó. Kết quả là:

Một số từ xét về cội ngồn cũng là từ gốc Hán, nhng vì chúng vào
Việt Nam khá sớm, qua thời gian lâu dài đã hoà nhập vào hẳn từ vựng
tiếngViệt cho nên nêú không tìm hiểu tận cội nguồnthì khó nhận ra đợc
lai lịch nh: Cờ, xe, cô,cậu,buồng, buồm, vạn, triệu Một số từ khác dung
lợng ngữ nghĩa khá sâu rộng nhng vì đã gắn bó chặt chẽ với lịch sử, văn
hoá, xã hội của ta và cũng đã từng đợc sử dụng phổ biến nên trở thành
quen thuộc dễ hiểu nh: quân vơng, khanh tớng, công hầu, quân tử, tiểu
Sáng kiến kinh nghiệm
Trang: 5
Ngời thực hiện: Nguyễn Xuân Trờng
nhân, hiếu đễ, trung tín Đối với học sinh học tiếng Việt đặc biệt là từ
Hán Việt thì làm cho các em hiểu đợc ý nghĩa sâu sắc (chứ không phải là
nghĩa đối chiếu trực dịch) của những từ nh: thiên hạ, quân tử, tiểu nhân,
chẳng hạn từ "tiểu nhân"; học sinh các em sẽ hiểu là từ để chỉ kẻ xấu chứ
không phải là để nói về chuyện vóc dáng con ngời lớn bé, cao thấp nh
một em chỉ hiểu từng từ tố rồi ghép nghĩa kiểu nh: tiểu (nhỏ), nhân (ng-
ời) ngời bé. Và các em học sinh hiẻu rằng đây là từ chỉ kẻ xấu. Các
em có thể nêu ra hàng loạt tính nết, hành vi, cách ứng xử của kẻ "tiểu
nhân" để minh hoạ.
Còn từ Hán Việt "lạ" chủ yếu là do kết cấu ngữ nghĩa của từ Hán
Việt. Những từ nh "cứu cánh, bình sinh, nhân thân, trầm kha" tuy cũng
thờng xuyên xuất hiện trong lời nói trên văn bản nhng chẳng phải là dễ
hiểu đối với mọi ngời, nhất là đối với học sinh ở bậc THCS.
Tóm lại, cái "lạ" trong từ ngữ Hán Việt là phổ biến đối với đại đa
số các em học sinh THCS. Để các em không còn xa lạ đối với lớp từ quan
trọng này tôi đã dùng nhiều biện pháp giúp các em "hiểu đúng" và "dùng
đúng" từ Hán Việt.
1. Nhận diện từ Hán Việt bằng cách nắm đợc đặc điểm của từ vựng
Hán ngữ cổ - từ vựng văn ngôn, nòng cốt của lớp từ Hán Việt.
- Từ ghép trùng lập: là hai từ đơn có kết cấu âm tiết và ý nghĩa nội

Ví dụ:
tả hữu: vốn nghĩa là bên trái, bên phải chuyển nghĩa thành bề tôi
thân tín.
+ Nghĩa của một thành tố trở thành nghĩa của từ ghép.
Ví dụ:
đắc thất: đắc (đợc), thất (mất) thì đắc thất có nghĩa chung là
mất, thất bại.
-Từ ghép kết hợp hai từ đơn theo quan hệ chính phụ.
Trong loại từ ghép này, nghĩa của thành tố này quy định, hạn chế,
bổ sung ý nghĩa của thành tố kai để tạo lên một nghĩa hoàn chỉnh. Các
nét nghĩa của thành tố gắn bó hữu cơ với nhau.
Ví dụ:
Tổ quốc: tổ quốc
Bất nghĩa: bất nghĩa
Phi thờng: phi thờng
- Từ ghép kết hợp kại hai từ đơn thành một chỉnh thể, mang một
nghĩa nội hàm hoàn chỉnh, riêng biệt.
Ví dụ:
quân tử: quân tử
tiểu nhân: tiểu nhân
túc hạ: từ tôn xng ngời đối thoại với mình
Mặt khác, còn phải cho học sinh nắm đợc một từ (một chữ) Hán có
thể có nhiều nghĩa nhng cũng lại có hiện tợng một ý nghĩa có thể đợc
biểu đạt bằng rất nhiều từ (chữ) khác nhau. Tuy nhiên mỗi từ (chữ) này,
ngoài nghĩa chung nhất còn mang nhiều sắc thái khác nhau.
Ví dụ: Để định danh sự vật là "con ngựa" bên cạnh từ "mã" còn có nhiều
từ khác để chỉ các loại ngựa khác nhau:
VD: "Câu": ngựa còn non tuổi, khoẻ mạnh, sung sức, đẹp mã
"Tuyết in sắc ngựa câu giòn
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời"

Yếu điểm là một từ Hán Việt (yếu: quan trọng, VD: chủ yếu, trọng
yếu) "yếu điểm" là điểm quan trọng.
Nh vậy cần sửa câu trên là: "Bạn Nam không chăm học, đó là điểm
yếu của bạn ấy".
Cũng tơng tự nh vậy, trong câu (b): Cố bộ trởng và Cựu bộ trởng:
từ cố trong chữ Hán có nhiều nghĩa khác nhau. Cố là cũ (cố nhân: ngời
quen cũ). Cố có gốc là từ trớc (cố hơng, cố quốc). Cố còn có nghĩa là
chết (quá cố). Vậy Cố bộ trởng là ông bộ trởng đã qua đời, nên không
thể đang nghỉ hu ở một vùng quê yên tĩnh nh câu văn đã viết. Phải chữa
lại là: "Ông cựu bộ trởng " Cựu có nghĩa là cũ, từ dùng để chỉ ngời thôi
giữ chức vụ.
Trờng hợp ở câu (c): khẩn cấp và khẩn trơng
Câu văn dùng sai từ khẩn cấp, phải sửa lại thành " khẩn trơng
làm xong bài tập ". Khẩn nghĩa là gấp rút phải làm ngay mới đợc; cấp
Sáng kiến kinh nghiệm
Trang: 8
Ngời thực hiện: Nguyễn Xuân Trờng
nghĩa là vội, gấp rút, nên khẩn cấp chỉ công việc cần kíp phải làm
ngay để đối phó với một nguy cơ nguy hiểm nào đó. VD: Tin bão khẩn
cấp.
Còn khẩn trơng (trơng nghĩa là căng, căng thẳng) ý nói việc gấp
phải làm, việc căng thẳng hết sức nhanh chóng kịp thời có kết quả.
3. Từ việc nhận diện từ Hán Việt, chỉ ra chỗ dùng sai từ Hán Việt,
tôi đã tổng hợp mấy phơng án học từ Hán Việt sau:
* Phơng án "học ít biết nhiều"
Theo tác giả Phan Thiều trong "Dạy học sinh nắm yếu tố và các
quan hệ ngữ nghĩa trong các đơn vị định danh" cho rằng các từ ghép
mang nội dung ngữ nghĩa nhất định mà đại đa số trong các trờng hợp ta
có thể suy ra đợc
1. Biết nghĩa của các yếu tố thành phần

ý nghĩa từ một cách chính xác, không nên tách rời văn cảnh, tạo cho các
em thói quen dùng từ chính xác. Tất nhiên cách tiếp nhận này thờng bị
thu hẹp trong văn cảnh cụ thể, còn nếu đổi văn cảnh, học sinh có thể hiểu
sai, dùng sai, vì vậy các em hiểu rộng hơn bằng cách phân tích các yếu tố
thành phần, hiểu nghĩa từng yếu tố rồi suy ra nghĩa của từ, nghĩa đen và
nghĩa bóng, nghĩa cụ thể và trừu tợng, nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo phơng án này hứa hẹn nhiều kết quả tốt đẹp.
4. Muốn học sinh dùng đúng từ Hán Việt cần cho học sinh nắm đ-
ợc mấy điểm sau:
a. Phải hiểu đúng nghĩa khái quát tổng hợp của từ ngữ Hán Việt
chứ không nên hiểu theo cách đơn giản cộng nghĩa những yếu tố Hán
trong từ ngữ Hán Việt.
Ví dụ: Độc lập
+ Không thể hiểu theo cách rộng nghĩa các yếu tố Hán: Độc: một
mình; lập: đứng đứng một mình.
+ Phải hiểu theo nghĩa khái quát tổng hợp trong 2 trờng hợp:
- Sống độc lập: Sống dựa vào sức mình không ỷ lại phụ thuộc vào
ngời khác.
- Đất nớc độc lập: Nớc giữ đợc chủ quyền mọi mặt không bị nớc
khác thống trị.
b. Phải hiểu theo nghĩa ngời Việt hiểu. Có những từ Hán Việt dùng
theo nghĩa khác hẳn gốc Hán.
Ví dụ: hùng hổ, thiết tha, liên chi hồ điệp Chẳng hạn: hùng hổ nghĩa
gốc Hán là con gấu và con hổ; nghĩa Việt là vẻ hung hãn dữ tợn.
c. Phải chú ý đến hoàn cảnh nói năng, hoàn cảnh nào thì dùng từ
Hán Việt thì phù hợp, hoàn cảnh nào thì không phù hợp.
- Dùng từ Hán Việt cho trang trọng:
Ví dụ: Bà Hoàng Thị Loan là thân mẫu Hồ Chủ Tịch
- Trờng hợp thân mật không dùng từ Hán Việt:
Ví dụ: Mẹ ơi! Con mời mẹ vào xơi cơm.

Êm đềm trớng rủ màn che
Tờng đông ong bớm đi về mặc ai.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
2. Thuyết minh Hán Việt
a. Giải thích từ ngữ
Tố nga: đợc dùng để nói về ngời phụ nữ đẹp, thiếu nữ xinh đẹp
Cốt cách: dáng vẻ, dáng điệu, hình thể
Đoan trang: đứng đắn nghiêm trang
Thu thuỷ xuân sơn: nớc mùa thu, núi mùa xuân. Thơ văn cổ còn có
câu: "Nhãn nh thu thuỷ, mị tự xuân sơn (mắt trong nh
nớc mùa thu, lông mày xanh nh sắc núi mùa xuân) để
tả vẻ đẹp trên khuôn mặt phụ nữ.
Cung thơng, ngữ âm: năm cung bậc âm điệu trong nhạc cổ (cung,
thơng, giốc, chuỷ, vũ).
Sáng kiến kinh nghiệm
Trang: 11
Ngời thực hiện: Nguyễn Xuân Trờng
Hồng quần: Quần màu đỏ, phụ nữ quý phái ở Trung Hoa thời cổ xa
thờng mặc; phụ nữ, phái đẹp.
Cập kê: Đến tuổi cài trâm, đến tuổi trởng thành.
b. Mở rộng vốn từ
Tố nga có nghĩa là "tơ trắng" sau có nghĩa mở rộng là "trắng toát,
trắng tinh, trắng trong " nga có nghĩa gốc là "tốt đẹp" sau mở rộng
nghĩa là "con gái, thiếu nữ đẹp ngời tốt nết".
Tố: với những nét nghĩa đã nêu thờng xuất hiện trong từ ghép: tố
chất, tố nữ, nguyên tố.
* Từ đồng âm với từ tố:
Tố: nói cho biết, mách bảo, tố cáo, khiếu tố, tố giác, tố tụng, truy tố
Đoan trang: do "đoan" (ngay thẳng, ngay ngắn, đầu mối, nguyên
nhân" và "trang" (nghiêm chỉnh, nghiêm túc) hợp thành có nghĩa "đứng

Tài 1: gỗ, nguyên vật liệu. Thờng xuất hiện trong các từ: tài liệu,
đề tài, khí tài, quan tài.
Tài 2: vun trồng: tài bồi
Tài 3: cắt, giảm, phán xét, quyết định: tài phán, trọng tài
Tài 4: tiền của: Tài chính, tài khoản, tài nguyên, tài sản, tài vụ,
tài phiệt, gia tài, phát tài, trọng nghía khinh tài.
phần iii. kết quả
Trong suốt quá trình thực hiện, áp dụng một số biện pháp giúp học
sinh "hiểu đúng" và "dùng đúng" từ Hán Việt. Với một phạm vi điều tra
khá rộng toàn bộ học sinh khối 7 (4 lớp), hơn 100 học sinh. Kết quả cho
thấy rằng: sau khi học sinh đã đợc cung cấp, hớng dẫn cách học từ Hán
Việt, các em không còn bỡ ngỡ với những từ Hán Việt đợc sử dụng trong
các tác phẩm văn học và việc hiểu đợc lớp từ quan trọng này các em sẽ
hiểu tốt hơn về tác phẩm, đồng thời các em còn "dùng đúng" các từ Hán
Việt đã học vào văn cảnh cụ thể.
Kết quả sau khi thực hiện:
Lớp Sĩ số
Số điểm - tỷ lệ
9-10 7-8 5-6 3-4 1-2 0
7A 34 25% 35% 40%
7B 37 25% 30% 35% 10%
7C 37 23% 32% 37% 8%
7D 37 17% 30% 39% 14%
Sáng kiến kinh nghiệm
Trang: 13
Ngời thực hiện: Nguyễn Xuân Trờng
c. kết luận
Trên đây là một số vấn đề mà tôi suy nghĩ và đã áp dụng trong việc
uốn nắn, sửa chữa thói quen không chính xác ở học sinh khi hiểu và dùng
từ Hán Việt mà tôi cảm thấy có kết quả khả quan trong quá trình giảng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status