MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ MỸ HẠNH MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Chuyên ngành: Kế toán – Kiểm toán
Mã số: 62 34 03 01 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2015
giao dịch của các công ty niêm yết (CTNY) khiến nhà đầu tư và công chúng dần mất niềm tin
vào chất lượng thông tin và TTTC nói riêng do các CTNY công bố. Trong các nỗ lực nhằm
khôi phục niềm tin của nhà đầu tư thì yêu cầu về minh bạch thông tin là ưu tiên hàng đầu để
nâng cao chất lượng BCTC, nâng cao chất lượng công bố thông tin từ các CTNY. Nghiên cứu
nhằm lượng hóa mức độ minh bạch TTTC của các CTNY và xác định các nhân tố tác động
đến tính minh bạch TTTC được trình bày và công bố là chủ đề rất quan trọng và hữu ích. Việc
nghiên cứu những vấn đề trên góp phần giúp TTCK Việt Nam hoạt động bền vững và hiệu quả
là yêu cầu cần thiết. Chính vì vậy, NCS chọn đề tài: “Minh bạch thông tin tài chính của các
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án thực hiện việc đánh giá mức độ minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK
VN để thông qua đó xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự minh
bạch TTTC của các CTNY trên TTCK VN.
Để đạt được các mục tiêu trên, có 2 câu hỏi nghiên cứu được đề ra như sau:
(1) Thực trạng mức độ minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam trong thời
gian qua?
(2) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK
Việt Nam, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và mối tương quan giữa chúng với nhau?
3. Đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống BCTC và các thông tin khác có liên
quan, phản ánh tình hình tài chính của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Qua đối tượng nghiên
cứu này, luận án nhận diện những nhân tố ảnh hưởng và mối tương quan giữa chúng đến mức
độ minh bạch thông tin trình bày trên BCTC của các CTNY trên TTCK VN.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Có nhiều nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch và công bố thông tin của doanh
nghiệp, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu này, luận án chỉ đề cập đến nhóm nhân tố tài
chính và nhân tố quản trị công ty; Đồng thời luận án chỉ tập trung vào TTTC được trình bày và
công bố trên báo cáo tài chính năm của các CTNY trên TTCK TP.HCM.
Ngoài ra, để xem xét mức độ minh bạch thông tin qua đánh giá của nhà đầu tư, luận án
giới hạn phạm vi khảo sát các nhà đầu tư chủ yếu là nhà đầu tư trên Sở giao dịch chứng khoán

- Những nghiên cứu trên thế giớ trước đây có liên quan đến TTTC và ảnh hưởng của nó
đến quyết định đầu tư trên TTCK: Tiến hành lược khảo công trình nghiên cứu liên quan đến
TTTC như: Năm 1994, Carolyn Streuly với nghiên cứu thể hiện TTTC và ảnh hưởng của nó
đến quyết định đầu tư trên TTCK. Hay năm 2008, để có cơ sở cải thiện và tăng cường tính hữu
dụng của BCTC, Ủy ban Tư vấn SEC đã đưa ra báo cáo về Cải thiện BCTC dưới tác động của
Ủy ban giám sát kế toán công ty đại chúng. Nghiên cứu liên quan đến quan hệ giữa thông tin
BCTC và các chỉ số tài chính hay giá cổ phiếu CTNY có nghiên cứu của Dimitropoulos và
cộng sự về mối quan hệ giữa thông tin BCTC và giá cổ phiếu thực hiện trên TTCK Hy Lạp.
Hoặc trong năm 2011, nhằm xem xét vai trò của thông tin kế toán trong đầu tư chứng khoán
có nghiên cứu trong luận án Tiến sĩ của Dương Minh Châu, thực nghiệm ở TTCK Anh Quốc.
- Những nghiên cứu về mức độ minh bạch trong CBTT và các nhân tố ảnh hưởng đến
tính minh bạch thông tin được luận án lượt khảo như sau: Nghiên cứu xuyên quốc gia của
Meek & Saudagaran (1995) về các nhân tố ảnh hưởng đến việc CBTT tự nguyện hay Zarzeski
(1996) cho rằng mức độ CBTT phụ thuộc vào văn hóa và sức mạnh của thị trường. Năm 2002,
tác giả Almazan và cộng sự đã nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin với cơ cấu
vốn của doanh nghiệp. Hoặc năm 2003, tác giả Robert và Abbie nghiên cứu mối quan hệ giữa
minh bạch thông tin, đặc biệt là thông tin từ BCTC kiểm toán và vấn đề QTCT. Năm 2004,
nghiên cứu của các tác giả Assaf và Efraim đã phân tích mối quan hệ giữa minh bạch thông tin
và sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nhóm tác giả Bartley và cộng sự (2007) đưa
ra giả thuyết là phí kiểm toán càng cao thì rủi ro gian lận BCTC càng lớn và kết quả nghiên
cứu thực nghiệm cũng chứng tỏ giả thuyết này của tác giả là đúng. Ngoài ra, nhóm tác giả
Heibatollah Sami and Haiyan Zhou (2008) đã phân tích tác động của việc ban hành một loạt
các chuẩn mực kiểm toán mới (năm 1996) đến môi trường thông tin của TTCK Trung Quốc.
- Ngoài các nghiên cứu riêng lẻ về TTTC hoặc về minh bạch thông tin, nhiều tác giả đã
nghiên cứu về tính minh bạch TTTC từ phạm vi doanh nghiệp đến phạm vi quốc gia.
3 Tiến hành xem qua 7 công trình nghiên cứu của các tác giả về minh bạch TTTC, cụ thể
như sau: Robert Bushman và cộng sự (2001) đã phân tích về sự minh bạch thông tin của các

nghiệp như: Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Hà đã phân tích nguyên tắc “công khai và minh
bạch” theo yêu cầu của OECD. Năm 2007, liên quan đến các bài viết về tầm quan trọng của
minh bạch thông tin có kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Đình Cung. Tác giả Nguyễn Thị
Liên Hoa (2007), đã sử dụng lý thuyết thị trường hiệu quả để phân tích và khảo sát để đánh giá
tính hiệu quả thông tin của TTCK Việt Nam. Nhắc đến tính minh bạch thông tin, không thể
không nhắc đến vai trò của các công ty kiểm toán. Cũng trong năm 2007, tác giả Hà Thị Ngọc
Hà đã phân tích các điều kiện trong việc lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán, cũng như phân tích
các tiêu chí để được kiểm toán các CTNY. Nhóm tác giả Lê Trường Vinh và Hoàng Trọng
(2008) cũng đã xây dựng mô hình 5 biến nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ minh bạch
thông tin. Năm 2009, tác giả Lâm Thị Hồng Hoa đã đưa ra 7 nguyên nhân chính dẫn đến sự
4 thiếu minh bạch về thông tin. Ngoài ra, trong năm 2012, luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn
Thúy Anh cũng đề cập đến sự minh bạch thông tin trên TTCK.
- Ngoài các nghiên cứu về minh bạch thông tin nói chung, các nghiên cứu về minh bạch
TTTC được một số tác giả khác thực hiện như sau: Năm 2009, nghiên cứu của Nguyễn Thị
Minh Tâm đã phân tích các nguyên nhân làm cho TTTC chưa thực sự minh bạch. Năm 2010,
nghiên cứu về hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin ở cấp độ tiến sĩ của Nguyễn Đình
Hùng đề cập đến “Hệ thống kiểm soát sự minh bạch TTTC công bố của các CTNY tại Việt
Nam’’. Hoặc công trình khoa học cấp bộ cũng đề cập đến tính minh bạch thông tin như “Tính
minh bạch trong BCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa” (2011) của tác giả Nguyễn Thị Hà.
Gần nhất, trong năm 2012 có nghiên cứu về “Minh bạch TTTC và hành vi nhà đầu tư trong
TTCK Việt Nam” tác giả Nguyễn Văn Dần. Ngoài ra, cũng trong năm 2012, tổ chức tài chính
quốc tế (IFC) cũng đã nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến minh bạch thông tin và quản trị
công ty của các CTNY tại TTCK Việt Nam.
1.2.2 Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện trong nước về TTTC, minh
bạch thông tin và minh bạch TTTC
Các nghiên cứu đã thực hiện có những đặc điểm như sau:
(1) Đưa ra bức tranh tổng quát về tình hình CBTT và TTTC của các CTNY.

mức độ minh bạch TTTC cũng như ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ minh bạch TTTC
trên TTCK là rất hiếm. Ngoài ra, việc đánh giá mức độ minh bạch TTTC của các CTNY trên
TTCK VN dưới góc độ cảm nhận của nhà đầu tư cũng là nội dung chưa được thực hiện trong
các nghiên cứu trước đây. Đây chính là khe hổng trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tính
minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK VN. Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu
của các tác giả trên thế giới, đặc biệt là kết quả và mô hình nghiên cứu về mức độ công bố và
tính minh bạch TTTC ở góc độ công ty của nhóm tác giả Robert Bushman và cộng sự (2001),
Archambault (2003), Cheung và cộng sự (2005), luận án sẽ điều chỉnh và vận dụng cho phù
hợp với những đặc điểm của TTCK Việt Nam.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÔNG TIN TÀI CHÍNH, MINH BẠCH
THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CTNY
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TTTC VÀ MINH BẠCH THÔNG TTTC
2.1.1 Khái niệm thông tin tài chính (TTTC)
Thông tin tài chính là những thông tin liên quan đến dòng tiền, kết quả kinh doanh và
tình hình tài chính của doanh nghiệp ở những thời điểm nhất định và cụ thể. TTTC có thể là
thông tin trong quá khứ hoặc thông tin mang tính dự báo. Nó có thể được đo lường một cách
chính xác và biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ. TTTC thường được thể hiện trên các BCTC của
doanh nghiệp (Nivra, 2008).
2.1.2 Khái niệm minh bạch TTTC và tầm quan trọng của minh bạch TTTC
2.1.2.1 Khái niệm minh bạch TTTC
Dưới đây là bảng tóm lược một số khái niệm về minh bạch thông tin và minh bạch
TTTC trong những nghiên cứu trước đây (Bảng 2.1).
Bảng 2.1: Tổng hợp các khái niệm về minh bạch thông tin và TTTC
STT
Nghiên cứu
Khái niệm minh bạch TTTC
Góc độ nghiên cứu
1
Basle (1998)
MBTTTC là việc công bố ra công chúng thông tin

thông tin
5
Nguyên tắc quản
trị của OECD
(2004)
Liên quan đến vấn đề công bố thông tin và tính
minh bạch cho rằng: “Công bố thông tin phải kịp
thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên
quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình
hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty”.
Quản trị công ty
6
Zarb, Bert J
MBTTTC là việc cung cấp TTTC hữu ích và kịp
Dưới góc độ nghề
6 STT
Nghiên cứu
Khái niệm minh bạch TTTC
Góc độ nghiên cứu
(2006)
thời, đồng thời thông tin phải được công bố phải
đáng tin cậy, so sánh được và nhất quát.
nghiệp kế toán viên
công chứng
Nguồn: NCS tổng hợp từ các kết quả nghiên cứu trước đây
Từ những phân tích cũng như những ghi nhận thông qua các khái niệm trên, theo quan điểm
của NCS:

chuẩn đánh giá mức độ minh bạch TTTC, đề tài sẽ xem xét ở góc độ các đặc tính của thông tin
hữu ích làm thước đo đánh giá chất lượng TTTC công bố và khả năng tiếp cận thông tin của
người sử dụng.
a. Về chất lượng TTTC công bố
(1) Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực Kế toán quốc tế (IASB)
Trước tháng 9/2010, để đánh giá chất lượng của TTTC, quan điểm của IASB dựa vào
các tiêu chí: có thể hiểu được, thích hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh được.
7 Tuy nhiên, từ tháng 9/2010, cùng với xu hướng hội tụ kế toán của các tổ chức kế toán
quốc tế, quan điểm của IASB về chất lượng của TTTC có thay đổi hơn trước, cụ thể: đặc điểm
cơ bản của TTTC hữu ích là các thông tin thích hợp và được trình bày trung thực. Ngoài ra,
các đặc điểm nâng cao của thông tài chính hữu ích là có thể so sánh được, kiểm chứng được,
kịp thời và dễ hiểu.
(2) Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực Kế toán tài chính Mỹ (FASB)
Đối với FASB, trước tháng 9/2010, chất lượng của TTTC được đánh giá qua các đặc
điểm: tính phù hợp, tính đáng tin cậy và khả năng so sánh được.
Cùng với xu hướng hội tụ kế toán thì từ tháng 9/2010, quan điểm đánh giá chất lượng
TTTC của FASB cũng tương tự như IASB.
b. Về khả năng tiếp cận thông tin của người sử dụng
Khả năng tiếp cận là một tiêu chí quan trọng vì kể cả khi các thông tin được nộp cho cơ
quan quản lý đúng hạn thì tính hữu ích của thông tin cũng bị hạn chế nếu chỉ có một số lượng
hạn chế nhà đầu tư tiếp cận được thông tin này. Thông thường 3 cách để công bố thông tin ra
công chúng: (1) công bố thông tin bằng văn bản, báo chí; (2) công bố thông tin bằng hệ thống
điện tử; (3) bằng hệ thống Inernet.
2.1.4.2 Đo lường mức độ minh bạch TTTC
Bảng tóm lược các tiêu chí đo lường mức độ minh bạch thông tin và minh bạch TTTC
trong những nghiên cứu trước đây (Bảng 2.2).
Bảng 2.2: Tổng hợp chỉ tiêu đo lường mức độ minh bạch thông tin và TTTC

Cheung và công sự
(2005)
Xây dựng bảng hỏi dựa trên nguyên tắc quản trị của OECD để
đo lường mức độ minh bạch thông tin.
5
Yu-Chih Lin và cộng
sự (2007)
Sử dụng chỉ số “hệ thống xếp hạng về sự minh bạch và công bố
thông tin ITDRS”. Đây là chỉ số đánh giá xếp hạng về sự minh
bạch và công bố thông tin của các CTNY được xây dựng ở Đài
Loan. Chỉ số này bao gồm 88 khoản mục công bố.
Nguồn: NCS tổng hợp từ các kết quả nghiên cứu trước đây
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC của CTNY
(1) Mô hình nghiên cứu của Robert Bushman và cộng sự (2001)
Nghiên cứu của nóm tác giả Robert Bushman và cộng sự (2001) đã phân tích về sự
minh bạch thông tin của các CTNY dựa trên 2 nhóm yếu tố: minh bạch TTTC (tính kịp thời,
độ tin cậy, khả năng tiếp cận thông tin) và minh bạch thông tin quản trị
8 (2) Mô hình nghiên cứu của Jeffrey và Marie E. Archambault (2003)
Theo nhóm tác giả, ở góc độ công ty, giả thuyết về các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến
mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp là: quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, chính
sách cổ tức, công ty kiểm toán và đòn bẩy tài chính. Ngoài ra, đối với quá trình hoạt động
của doanh nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các CTNY gồm:
quy mô công ty, ngành nghề kinh doanh và doanh thu xuất khẩu.
(3) Mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005)
Nghiên cứu đưa ra 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin và tính
minh bạch thông tin là nhóm nhân tố tài chính và nhóm nhân tố về quản trị công ty. Trong
nhóm nhân tố tài chính, tác giả đưa ra mô hình 5 biến tài chính có ảnh hưởng đến mức độ công

Marie E.
Archambault
(2003)
Khoảng cách quyết lực, chủ nghĩa cá nhân, phòng tránh
sự bất ổn, chủ nghĩa nam quyền, giáo dục, tôn giáo
Hệ thống
văn hóa
Chính trị: luật pháp, truyền thông
Kinh tế: Sự phát triển, lạm phát, thị trường vốn
Hệ thống
quốc gia
Tài chính: quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, cổ tức,
kiểm toán, đòn bẩy tài chính;
Đặc điểm hoạt động công ty: Quy mô công ty, ngành
nghề kinh doanh, doanh thu xuất khẩu.
Công ty
4
Cheung và
cộng sự (2005)
Tài chính: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, tình hình
tài chính, tài sản đảm bảo và hiệu quả sử dụng tài sản.
Quản trị công ty: mức độ tập trung quyền sở hữu, cơ cấu
của hội đồng quản trị và quy mô của HĐQT.
Công ty
2.2 MINH BẠCH TTTC CỦA CÁC CTNY TRÊN TTCK Ở MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC
KINH NGHIỆM Ở VIỆT NAM
2.2.1 Minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK Thái Lan
Khi so sánh quản trị doanh nghiệp ở các quốc gia Châu Á, Thái Lan thường không
được đánh giá cao trong các cuộc khảo sát. Kết quả khảo sát của Tập đoàn môi giới chứng
khoán Châu Á (CLSA, 2004) cho thấy Thái Lan xếp gần dưới cùng của bảng xếp hạng, trước

định kỳ những bên tham gia vào TTCK và giải quyết các khiếu nại của công chúng về hành vi
sai trái của những tổ chức trung gian và các sự cố xảy ra trên thị trường.
2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua nghiên cứu về tính minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK của một số quốc
gia trên thế giới thuộc khối ASEAN là Thái Lan và một nước Châu Á là Hồng Kông, có
TTCK khá phát triển so với các nước khác trong khu vực, có thể rút ra những bài học sau:
Để đảm bảo tính minh bạch TTTC trên TTCK cần có rất nhiều điều kiện, bao gồm các
điều kiện bên ngoài tác động đến mức độ minh bạch TTTC là các điều kiện về pháp lý và quản
lý nhà nước; cụ thể là hệ thống chuẩn mực kế toán và các quy định liên quan đến quá trình
công bố TTTC. Ngoài ra, còn có các điều kiện bên trong như: hệ thống kiểm soát nội bộ, ban
lãnh đạo của doanh nghiệp, ban kiểm soát và kiểm toán độc lập; đây là những điều kiện tác
động và chi phối đến chất lượng xử lý dữ liệu kế toán phục vụ cho việc soạn lập BCTC của
doanh nghiệp.
2.3. MỘT SỐ LÝ THUYẾT NỀN LIÊN QUAN ĐẾN TÍNH MINH BẠCH TTTC
2.3.1 Lý thuyết thông tin hữu ích
Do đặc điểm mất cân đối về mặt thông tin giữa các đối tượng bên trong và bên ngoài
doanh nghiệp, những đối tượng bên ngoài luôn có xu hướng dựa vào thông tin kế toán như
10 một tài liệu quan trọng cho việc ra quyết định kinh tế. Minh bạch TTTC được xây dựng trên
nền tảng tính hữu ích của TTTC đối với các đối tượng sử dụng thông tin của doanh nghiệp. Lý
thuyết thông tin hữu ích là cơ sở để đánh giá hiệu quả tác dụng của việc sử dụng thông tin cho
các quyết định quản lý chứ không đơn thuần là để phục vụ theo yêu cầu của pháp luật.
Lý thuyết này được sử dụng để giải thích về việc sử dụng công ty kiểm toán quy mô lớn,
có uy tín nhằm khẳng định tính minh bạch của TTTC cung cấp cho cổ đông của các công ty cổ
phần đại chúng được lý giải trong giả thuyết nghiên cứu ở những phần sau.
2.3.2 Lý thuyết về thông tin bất cân xứng
Lý thuyết về thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện
vào những năm 1970. Thông tin bất cân xứng trên TTCK xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu

ty. Chi phí đại diện càng lớn khi Giám đốc sở hữu ít hoặc không sở hữu cổ phiếu công ty. Các
chi phí đại diện bao gồm: chi phí giám sát, chi phí ràng buộc và chi phí cơ hội.
11 Lý thuyết đại diện được sử dụng để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố quy mô công
ty, kết quả tài chính, hiệu quả sử dụng tài sản, tỷ suất đòn bẩy tài chính hay cơ cấu HĐQT đến
tính minh bạch TTTC của các CTNY trong các giả thuyết nghiên cứu ở những phần tiếp theo.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
3.1.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này bao gồm hai bước chính: (1) nghiên cứu tổng thể và (2) nghiên cứu
kiểm định.
Nghiên cứu tổng thể sử dụng phương pháp định tính để khám phá, điều chỉnh và bổ
sung các biến quan sát dùng để đo lường các nhân tố và tiêu chí sử dụng trong nghiên cứu,
đảm bảo thang đo xây dựng phù hợp với lý thuyết và được cụ thể hoá bằng thực tế. Nghiên
cứu định tính được thực hiện thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm: nhóm gồm 20 người, thực
hiện bằng cách khảo sát các chuyên gia nhằm khám phá các nhân tố.
Nghiên cứu kiểm định được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng.
Nghiên cứu kiểm định sử dụng phương pháp định lượng thông qua phương pháp khảo sát và
phỏng vấn trực tiếp các nhà đầu tư tham gia đầu tư trên TTCK Việt Nam. Mục đích của
nghiên cứu này dùng để kiểm định lại mô hình đo lường, mô hình lý thuyết và các giả thuyết
trong mô hình cũng như đề xuất mô hình hồi quy phản ánh mối tương quan giữa mức độ minh
bạch TTTC và các nhân tố ảnh hưởng.
3.1.2 Khung nghiên cứu của luận án
Mô hình nghiên cứu
Các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch TTTC
Đo lường mức độ minh bạch TTTC
Nghiên cứu kiểm định (Nghiên cứu định lượng)
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC của các
CTNY.
- Khảo sát nhà đầu tư cá nhân thông qua bảng hỏi để đo lường mức
độ minh bạch TTTC của các CTNY
- Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu.
- Mô hình hồi quy phản ảnh mối tương quan giữa minh bạch và các
yếu tố trong mô hình
1.
12 3.1.3 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu được thực hiện như sau:
Bước 1: Nghiên cứu tài liệu, thiết lập mô hình và xây dựng thang đo.
Bước 2: Nghiên cứu tổng thể
Bước 3: Nghiên cứu kiểm định
3.1.4 Giới thiệu thang đo mức độ minh bạch TTTC của các CTNY
Như đã trình bày trong chương 2 của luận án, có nhiều cách thức khác nhau để đo
lường mức độ minh bạch TTTC trong các nghiên cứu trước đây, phụ thuộc vào mục tiêu và
cách tiếp cận của từng nghiên cứu. Các chỉ số dùng làm thước đo mức độ minh bạch TTTC
được sử dụng trong một số nghiên cứu trước như T&D của S&P, CIFAR của IAAT hoặc
ITDRS được xây dựng ở Đài Loan đều dựa trên các tiêu chí nhất định để chấm điểm. Tuy
nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này, cách tiếp cận của luận án là nhằm đo lường mức độ
minh bạch TTTC dựa theo cảm nhận/đánh giá của nhà đầu tư. Vì vậy, luận án sử dụng phương
pháp luận và nguyên tắc QTCT của OECD để xây dựng câu hỏi đánh giá. Như vậy, thang đo
lường mức độ minh bạch TTTC của các CTNY, dựa trên các nguyên tắc quản trị công ty của

TÀI
CHÍNH
TÌNH
HÌNH
TÀI
CHÍNH
TÀI
SẢN
THẾ
CHẤP
HIỆU
QUẢ SỬ
DỤNG
TÀI
SẢN
KIỂ
M
TOÁ
N
NHÂN TỐ
QUẢN TRỊ

CẤU
HĐQT
QUYỀN
SỞ
HỮU
QUY

HĐQT

(4) Biến tài sản đảm bảo:
Một số kết quả nghiên cứu cho rằng công ty có giá trị tài sản cao thì sẽ công bố thông
tin cho nhà đầu tư bên ngoài nhiều hơn nhằm giúp cho nhà đầu tư ra các quyết định đầu tư
(nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005) khi thực nghiệm tại TTCK Hồng Kông). Tuy nhiên,
ngược với kết quả nghiên cứu trên là kết quả nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976) lại
cho rằng công ty có tài sản nhiều lại ít có nhu cầu công bố TTTC vì họ lo ngại người cho vay
có thể nắm giữ quyền sở hữu tài sản của công ty nếu công ty bị phá sản.
Giả thuyết H4: Các công ty có giá trị tài sản càng cao thì càng CBTT nhiều hơn.
(5) Biến hiệu quả sử dụng tài sản:
Công ty có hiệu quả sử dụng tài sản cao thì mức độ công bố thông tin cao hơn công ty
có hiệu quả sử dụng tài sản thấp vì các công ty có hiệu quả sử dụng tài sản cao có thể thu hút
được nhiều nhà đầu tư và nhà phân tích hơn; do vậy các công ty này công bố thông tin nhiều
hơn và thông tin minh bạch hơn.
Giả thuyết H5: Công ty có hiệu quả sử dụng tài sản càng cao thì mức độ minh bạch thông
tin càng cao.
14 (6) Biến công ty kiểm toán:
Nhiều nghiên cứu cho rằng nội dung của báo cáo hàng năm có thể bị ảnh hưởng bởi
việc các CTNY được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn hay nhỏ (Kết quả nghiên cứu
của Fargher, Taylor, and Simon (2001), Archambault (2003)). Các nghiên cứu trước phân chia
quy mô công ty kiểm toán theo 2 nhóm là nhóm công ty kiểm toán Big four và nhóm không
phải Big four: với nhận định là các công ty được kiểm toán bởi một trong các công ty kiểm
toán lớn (Big four) có thể công bố nhiều thông tin hơn các công ty khác.
Giả thuyết H6: công ty được kiểm toán bởi một trong các công ty kiểm toán lớn (Big four-
Big 4) có thể công bố nhiều thông tin hơn các công ty khác (Non Big four-Non Big 4).
 Các đặc điểm quản trị công ty ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC:
Quản trị công ty (QTCT) được đặt trên cơ sở của sự tách biệt giữa quản lý và sở hữu
doanh nghiệp. Công ty là của chủ sở hữu (nhà đầu tư, cổ đông ), nhưng để công ty tồn tại và

15 3.3 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
Phương pháp này dùng để tìm hiểu và khám phá vấn đề nghiên cứu.
3.3.1 Thiết kế nghiên cứu định tính
Để thực hiện nghiên cứu định tính, đề tài tiến hành thảo luận và trao đổi trực tiếp với
các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính – kế toán. Thành phần tham gia khảo
sát và thảo luận trực tiếp trong nghiên cứu gồm 20 chuyên gia, là những người đại diện quỹ
đầu tư, công ty chứng khoán, các chuyên gia, kiểm toán viên, công ty/ngân hàng có hoạt động
đầu tư; đây là những người đáp ứng các yêu cầu về kinh nghiệm và trình độ mà đề tài đưa ra.
Kết quả nghiên cứu định tính sẽ là cơ sở dùng để thiết kế bảng câu hỏi và xây dựng mô
hình cho nghiên cứu kiểm định. Từ việc xác định được các chỉ tiêu nhằm đánh giá mức độ
minh bạch TTTC của các CTNY, chúng tôi xây dựng các thang đo trong bảng câu hỏi. Tất cả
các biến quan sát đều sử dụng thang đo Likert 5 bậc với lựa chọn số 1 là hoàn toàn không
đồng ý với phát biểu và lựa chọn số 5 là hoàn toàn đồng ý với phát biểu.
3.3.2 Nội dung nghiên cứu định tính
Phần 1: Thảo luận về “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC của CTNY
trên TTCK Việt Nam - Nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm tài chính và đặc điểm quản trị
của doanh nghiệp”.
Phần 2: Thảo luận về “Tiêu chí đo lường mức độ minh bạch TTTC – CTNY”
3.3.3 Kết quả nghiên cứu định tính
Từ kết quả thảo luận với các chuyên gia về mô hình đề xuất các yếu tố ảnh hưởng đến
tính minh bạch TTTC CTNY và các tiêu chí đo lường mức độ minh bạch TTTC CTNY, đề tài
tiến hành hiệu chỉnh các thành phần của mô hình nghiên cứu đề xuất dựa trên cơ sở kết quả
thảo luận sâu với các chuyên gia và tổng hợp ý kiến của các chuyên gia.
3.3.3.1 Kết quả nghiên cứu định tính phần 1: Thảo luận “Các yếu tố ảnh hưởng đến tính
minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam - Nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm
tài chính và đặc điểm quản trị doanh nghiệp”.
 Kết quả đánh giá mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch

- Thang đo phản ánh chất lượng của kiểm toán độc lập: Kiểm toán hàng năm phải
được tiến hành bởi một đơn vị kiểm toán độc lập, đủ năng lực và có chất lượng cao.
- Thang đo phản ánh trách nhiệm của kiểm toán độc lập: Kiểm toán độc lập phải chịu
trách nhiệm đối với cổ đông và có trách nhiệm thực hiện công tác kiểm toán một cách chuyên
nghiệp đối với công ty.
- Thang đo sự thuận tiện (phổ biến) của thông tin: Các kênh phổ biến thông tin phải
tạo điều kiện tiếp cận thông tin bình đẳng, kịp thời và hiệu quả chi phí cho người sử dụng.
3.4.2 Xác định phương pháp đo lường và tính toán các yếu tố ảnh hưởng tính minh
bạch TTTC của các CTNY
Ngoài biến phụ thuộc là mức độ minh bạch TTTC CTNY được đo lường bằng cách thu
thập số liệu từ kết quả khảo sát nhà đầu tư, các biến độc lập, như kết quả nghiên cứu định tính
ở phần trên, gồm 8 biến là 8 nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC gồm: quy mô công
ty, đòn bẩy tài chính, lợi nhuận, hiệu quả sử dụng tài sản, công ty kiểm toán, cơ cấu HĐQT,
quy mô HĐQT, sự kiêm nhiệm giữa Chủ tịch HĐQT và Tổng GĐ. Các yếu tố đó được gọi là
các biến quan sát kèm theo các giả thuyết liên quan được đo lường như sau:
(1) Biến 1: Quy mô công ty
Biến quy mô công ty – ký hiệu là SIZE. Có 3 cách xác định quy mô công ty là dựa vào
tổng tài sản, doanh thu và giá trị vốn hóa thị trường của công ty (đặc tính thị trường).
(2) Biến 2: Đòn bẩy tài chính
Biến đòn bẩy tài chính – ký hiệu là DEBT. Có nhiều cách đo lường biến đòn bẩy tài
chính nhưng trong nghiên cứu này, đề tài xác định biến đòn bẩy tài chính theo cách dựa trên
tổng nợ phải trả chia tổng tài sản (dựa theo cách tính mà Cheung và cộng sự chọn)
(3) Biến 3: Lợi nhuận
Biến lợi nhuận – ký hiệu là PROFIT. Biến này, dùng để đo lường khả năng sinh lợi hay
thành quả của một doanh nghiệp. Trong nghiên cứu này đề tài chọn cách xác định lợi nhuận
công ty theo tiêu thức tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE).
(4) Biến 4: Hiệu quả sử dụng tài sản
Biến hiệu quả sử dụng tài sản được thể hiện chính là vòng quay của tổng tài sản – ký
hiệu là ASSET. Biến này dùng để đo lường khả năng tạo ra doanh thu từ việc đầu tư vào tổng
tài sản.

Luận án sẽ lấy ý kiến trung bình của 10 nhà đầu tư cho mỗi CTNY trong mẫu. Với 178
CTNY cần trung bình 1.780 phiếu khảo sát.
b. Đo lường và tính toán các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC CTNY
Nhằm xác định và đo lường thông tin về các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch
TTTC của các CTNY, chúng tôi tiến hành tính toán các nhân tố ảnh hưởng của 178 CTNY
được xác định trên mẫu nghiên cứu định lượng thông qua các website liên quan. Đối với các
công ty mẹ thì BCTC được chọn là BCTC hợp nhất.
3.4.3.3 Đối tượng khảo sát
Đối tượng trả lời các bảng câu hỏi khảo sát là những nhà đầu tư cá nhân, có tham gia
đầu tư vào các CTNY trong mẫu nghiên cứu.
3.4.4 Mô hình hồi quy
Nhằm thiết lập mối tương quan giữa mức độ minh bạch và một số đặc điểm tài chính và
quản trị công ty, đề tài sẽ phân tích hồi quy với biến phụ thuộc là mức độ minh bạch và biến
độc lập là các đặc điểm đã nêu trên. Ngoài ra, để kiểm tra các giả thuyết đã nêu trên có phù
hợp và có ý nghĩa hay không, đề tài tiến hành đánh giá mối quan hệ giữa các biến và kiểm
18 định các giả thuyết trên cơ sở mẫu được chọn lọc từ tổng thể. Phương pháp phân tích được sử
dụng trong nghiên cứu là phân tích thống kê hai biến và phân tích thống kê đa biến.
3.4.4.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo mức độ minh bạch TTTC CTNY
Để đánh giá độ tin cậy của thang đo này, đề tài sử dụng 2 công cụ chính là: (1) Hệ số
tin cậy Cronbach alpha và (2) Phương pháp phân tích yếu tố khám phá EFA.
3.4.4.2 Đánh giá mối quan hệ giữa các biến
Để kiểm tra mối quan hệ và tương quan của hai biến trong mỗi giả thuyết, đề tài sẽ dựa
vào tính chất quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập là hai biến định lượng – định tính
hay định lượng – định lượng để lựa chọn kỹ thuật phân tích phù hợp.
- Đối với các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H6A, H7, đề tài sẽ sử dụng kiểm định mối liên
hệ giữa hai biến định lượng (khoảng cách hoặc tỷ lệ).
- Đối với giả thuyết H5 và H8, sẽ kiểm định sự khác biệt của trung bình hai mẫu độc lập

i
+
β
7
BSIZE
i
+ β
8
CHAIRMAN
i
+ ε
i

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1.1 Đánh giá thực trạng mức độ minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK Việt
Nam
Để có được những đánh giá khách quan và toàn diện về mức độ minh bạch TTTC của
các CTNY cũng như giải thích được kết quả nghiên cứu một cách đầy đủ và hợp lý, luận án
tiến hành tìm hiểu sơ lược tình hình hoạt động của CTNY trên TTCK và đặc biệt là đi sâu vào
tìm hiểu thực trạng mức độ minh bạch TTTC của các CTNY qua nhiều góc nhìn khác nhau.
4.1.2 Đánh giá tình hình lập, trình bày và công bố TTTC của các CTNY
4.1.2.1 Đánh giá chung của các chuyên gia, nhà nghiên cứu và cơ quan chức năng về
chất lượng TTTC và tính minh bạch thông tin của các CTNY
- “Báo động về tính minh bạch BCTC tại DN niêm yết”
- Tình trạng chậm công bố thông tin của các CTNY ngày càng nghiêm trọng hơn.
- Bức xúc của cổ đông vì sự thiếu minh bạch thông tin của doanh nghiệp
4.1.2.2 Khảo sát sơ bộ về tình hình lập, trình bày và công bố TTTC của các CTNY trong
thời gian qua.
Kết quả cho thấy:

Điểmtrung
bình
1
Tin cậy
Tin cậy
3,3
3,4
3,35
Tin cậy
3,76
2
Đầy đủ
Đầy đủ ,
nhất quán
4,7
4,7
4,7
Đầy đủ
3,92
3
Nhất quán
Chính xác, nhất quán
3,67
4
Chính xác

3,3
3,6
3,45
5

Đánh giá chung của nhà đầu tư về mức độ minh
bạch TTTC CTNY
3,76
Từ thông tin tổng hợp ở góc độ tính điểm trung bình của 2 cách khảo sát kết hợp với
những phân tích thực trạng trên, có thể thấy mức độ minh bạch TTTC của các CTNY được
đánh giá chung ở mức độ trung bình khá và kết quả đánh giá bằng 2 cách tiếp cận trên có
chênh lệch nhưng không đáng kể.
Tuy nhiên, mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là nhằm đánh giá mức độ minh bạch
TTTC của các CTNY theo đánh giá của nhà đầu tư và cũng phù hợp với cách tiếp cận của một
số mô hình nghiên cứu trước trên thế giới như chúng tôi đã nêu ở chương 2 và chương 3. Do
vậy, trong cách đánh giá chi tiết và sử dụng mô hình nghiên cứu, chúng tôi tiếp cận ở góc độ
thứ 2.
4.1.3 Kết quả nghiên cứu định lượng
Bước tiếp theo này, chúng tôi sẽ sử dụng phần mềm SPSS như là một kỹ thuật và công
cụ để hỗ trợ xử lý thông tin nhằm giúp cho các đánh giá, phân tích và nhận xét rút ra có cơ sở
logic hơn và đi vào chiều sâu của nội dung nghiên cứu.
4.1.3.1 Đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo mức độ minh bạch TTTC CTNY
Thang đo xây dựng để đánh giá mức độ minh bạch TTTC theo đánh giá của nhà đầu tư
với 17 câu hỏi, sau quá trình đánh giá độ tin cậy bằng hệ số Cronbach α, kết quả còn lại 13 câu
hỏi (tương ứng 13 tiêu chí), thỏa mãn độ tin cậy cần thiết làm cơ sở đo lường mức độ minh
bạch TTTC của các CTNY.
Tiếp theo, luận án đã thực hiện đánh giá giá trị thang đo bằng EFA. Kết quả cho thấy,
các biến quan sát đánh giá mức độ minh bạch TTTC của các CTNY đã tập trung vào 4 nhóm
đặc điểm phản ánh sự minh bạch TTTC.
20
(1) Giả thuyết H2: Các công ty có đòn bẩy tài chính cao thì mức độ minh bạch TTTC càng
cao.
(2) Giả thuyết H3: Công ty có lợi nhuận tốt sẵn sàng CBTT hơn công ty có lợi nhuận thấp.
(3) Giả thuyết H5: Công ty được kiểm toán bởi một trong các công ty kiểm toán lớn (Big 4)
có thể công bố nhiều thông tin hơn các công ty khác (Non Big 4).
(4) Giả thuyết H6B: Công ty có tỷ lệ giám đốc điều hành Không có trong HĐQT càng thấp
thì mức độ minh bạch TTTC càng cao; Hay nói cách khác công ty có tỷ lệ thành viên độc lập
trong HĐQT càng lớn thì mức độ minh bạch TTTC càng cao.
4.2 MỘT SỐ BÀN LUẬN VÀ HÀM Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở các phân tích và kết quả nghiên cứu trên, luận án sẽ đưa ra một số bàn luận
và hàm ý từ kết quả nghiên cứu nhằm tăng cường tính minh bạch TTTC góp phần khai thác
tiềm năng đầu tư vào TTCK trong các nội dung dưới đây.
4.2.1 Bàn luận kết quả nghiên cứu
Kết quả phân tích hồi quy đa biến gần như phù hợp với kết quả kiểm định hệ số tương
quan với các biến có ý nghĩa giải thích.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm nhân tố phản ánh đặc điểm tài chính gồm: đòn bẩy
tài chính, lợi nhuận và công ty kiểm toán có ảnh hưởng đến mức độ minh bạch TTTC của
các CTNY trong mô hình hồi quy, điều này khá phù hợp với các kết quả nghiên cứu lý thuyết
trước đây cũng như phù hợp với thực tế khi giải thích về sự ảnh hưởng của các nhóm nhân tố
này với mức độ minh bạch TTTC CTNY. Đối với nhóm nhân tố phản ánh đặc điểm quản trị
gồm cơ cấu HĐQT, quy mô HĐQT và sự kiêm nhiệm giữa Chủ tịch HĐQT và Tổng GĐ,
chỉ có biến cơ cấu HĐQT_2 (đo bằng tỷ lệ giám đốc điều hành không có trong HĐQT) có ý
21 nghĩa với độ tin cậy khoảng 90%. Các nhân tố còn lại đều chưa có ý nghĩa ở mức tin cậy từ
90% trở lên.
Tóm lại, kết quả nghiên cứu thực nghiệm củng cố thêm lý thuyết đại diện, lý thuyết
thông tin hữu ích hay giải thích rõ hơn ý nghĩa của thông tin bất cân xứng trong điều kiện
TTCK Việt Nam. Kết quả cũng cung cấp bằng chứng về chủ nghĩa cơ hội của nhà quản lý.

các quy định này trong thực tế cũng như công bố rộng rãi về các hoạt động cưỡng chế thực thi
nếu thực hiện không nghiêm túc. Ngoài ra, bổ sung yêu cầu CTNY phải cung cấp thông tin về
lai lịch của các thành viên HĐQT được đề cử trong BCTC được kiểm toán để các nhà đầu tư
hay công chúng có điều kiện giám sát tính độc lập thực sự của thành viên HĐQT.
(5) Cuối cùng, mặc dù các nhân tố phản ánh đặc điểm quản trị còn lại tuy không có ý nghĩa
thống kê nhưng thông qua việc đo lường các nhân tố này cũng cho thấy rằng: HĐQT cần tăng
cường hơn nữa vai trò giám sát của mình để yêu cầu nhà quản lý phải gia tăng mức độ minh
22 bạch. Chủ sở hữu cần lưu tâm nhiều hơn về mức độ công bố TTTC của các CTNY để có
những biện pháp phù hợp khi có vấn đề xảy ra. Nhà nước với tư cách là cổ đông lớn của
TTCK Việt Nam phải là ‘người tiên phong’ trong thúc đẩy việc gia tăng ý thức trách nhiệm và
minh bạch TTTC. Ít nhất Nhà nước cần thông qua đại diện của mình tại các công ty mà nhà
nước nắm phần vốn chủ yếu yêu cầu các công ty này thực hiện quản trị công ty tốt để từ đó
tăng cường mức độ minh bạch TTTC của các CTNY bằng việc áp dụng Hướng dẫn về Quản
trị Công ty dành cho Doanh nghiệp có vốn nhà nước của OECD.
Ngoài ra, Bộ tài chính và UBCKNN cần tăng cường hơn nữa công tác giám sát các nội
dung CBTT liên quan đến vấn đề quản trị. Cần có hoạt động hậu kiểm đối với các nội dung
công bố liên quan đến thông tin quản trị của các CTNY. Về lâu dài, Bộ tài chính và UBCKNN
nên có quy định trong việc kiểm tra hay giao cho đơn vị kiểm toán thực hiện công tác soát xét
các nội dung liên quan đến thông tin về tình hình quản trị của các CTNY.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1 KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy, với hai cách tiếp cận bằng các đặc điểm phản ánh sự
minh bạch và đánh giá của nhà đầu tư thì tính minh bạch TTTC thời gian qua chưa cao, mức
độ minh bạch chỉ ở mức trung bình khá. Khoảng cách chênh lệch giữa các công ty có mức độ
minh bạch cao nhất và thấp nhất là khá xa. Trong các đặc điểm tạo nên sự minh bạch TTTC
của các CTNY thì đặc điểm sự chính xác của thông tin được đánh giá thấp nhất so với các đặc
điểm còn lại.

Nam nhằm bảo đảm cung cấp thông tin phù hợp, chính xác, kịp thời về mọi vấn đề tài chính
trọng yếu của công ty tới nhà đầu tư.
- Bổ sung một số quy định về nội dung trình bày trên BCTC như:
 BCTC của các CTNY cần trình bày số liệu của 3 hoặc 4 năm gần nhất (năm hiện
tại và 2 hoặc 3 năm trước).
 Cần xem lại mẫu báo cáo KQKD, điều chỉnh lại theo hướng tách chỉ tiêu doanh
thu tài chính và chi phí tài chính ra thành mục riêng khỏi chỉ tiêu lợi nhuận thuần từ hoạt động
kinh doanh.
 Quy định việc trình bày và công bố Báo cáo về vốn chủ sở hữu vào trong bộ
BCTC, xem đây như là một báo cáo riêng biệt trong hệ thống BCTC dành cho các CTNY.
 Tăng cường giám sát hoạt động công bố TTTC trên TTCK
- Thiết lập bằng hệ thống các văn bản pháp luật kiểm soát hoạt động của các thành
phần tham gia TTCK, bằng bộ phận giám sát của cơ quan quản lý nhà nước, của sở giao dịch
chứng khoán và các bộ ngành liên quan, các hiệp hội ngành nghề.
- UBCKNN hay Sở GDCK, cần tăng cường công tác hậu kiểm.
- Sở GDCK nên phối hợp với các tổ chức khác, khai thác thế mạnh của họ trong việc
giám sát quá trình công bố thông tin của các CTNY.
 Tăng cường các biện pháp chế tài đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ CBTT và sự
thiếu minh bạch của thông tin được công bố trên TTCK
- Bộ tài chính hoặc UBCKNN cần đưa ra các quy định cụ thể về việc xử phạt bằng
tiền hay bằng các hình thức khác các vi phạm liên quan đến vấn đề công bố TTTC.
- Định kỳ đưa ra các tín hiệu cảnh báo cho nhà đầu tư đối với các công ty có hành vi
vi phạm việc công bố TTTC định kỳ bị lặp lại cùng một hành vi từ 2 lần trở lên.
 Hoàn thiện quy trình công bố TTTC từ CTNY đến nhà đầu tư thông qua website của
Sở GDCK.
 Triển khai mô hình tổ chức định mức tín nhiệm.
5.2.3 Đối với các bên liên quan khác (Ngân hàng – Tổ chức tín dụng, Công ty kiểm toán,
Hội nghề nghiệp, Cơ sở đào tạo, …)
Các chủ nợ cần tăng cường sự giám sát chặt chẽ hơn nữa với các công ty đang vay vốn
của mình. Kết quả giám sát chặt chẽ của các chủ nợ, ngân hàng hay tổ chức tín dụng là một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status