CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2010 ĐỖ MẠNH THƯỜNG
ĐIỀU KIỆN CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ TỰ CHỦ
TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM THEO NGHỊ ĐỊNH 115/CP CỦA
CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN
các tỉnh Đồng bằng sông Cửu long)
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mã số: 60.34.72
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ CAO ĐÀM
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI
CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA R&D. 12
1.1. Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm. 12
1.2. Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và triển khai
(R&D) ở Việt nam. 12
CHƢƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI
CỦA CÁC TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP KHỐI ĐỊA PHƢƠNG THEO
NGHỊ ĐỊNH 115. 12
2.1. Khái quát về tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/CP. 12
2.2. Thực trạng hoạt động các Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN khối địa
phƣơng trong cả nƣớc. 12
2.3. Thực trạng hoạt động của các Trung tâm vùng ĐBSCL. 12
2.4. Thực trạng thƣơng mại hóa kết quả hoạt động KH&CN. 13
2.5. Tình hình chuyển đổi cơ chế hoạt động theo NĐ 115/2005/NĐ-CP. 13
CHƢƠNG 3: ĐIỀU KIỆN ĐỂ CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ
CHỊU TRÁCH NHIỆM CỨA TỔ CHỨC KH&CN. 13
3.1. Các sản phẩm khoa học và công nghệ phải đƣợc thƣơng mại hóa. 13
3.2. Nhà nƣớc phải đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô về KH&CN. 13
KẾT LUẬN 13
KHUYẾN NGHỊ 13
2
PHÂN NỘI DUNG 14
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI
CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC KH&CN
CÔNG LẬP. 14
1.1. Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm. 14
1.1.1. Các khái niệm liên quan. 14
1.1.2. Tự chủ, tự chịu trách nhiệm. 17
1.1.3. Tổng quan về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức nghiên cứu &
vực ĐBSCL. 77
2.4.4. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển đổi. 78
Kết luận Chƣơng 2: 83
3
CHƢƠNG 3: ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN QUYỀN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU
TRÁCH NHIỆM THEO NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP CỦA TỔ CHỨC
KH&CN 85
3.1. Các sản phẩm KH&CN phải đƣợc thƣơng mại hóa. 85
3.1.1. Nhiệm vụ KH&CN phải xuất phát từ nhu cầu thị trường. 85
3.1.2. Thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai (R&D). 88
3.1.3. Thương mại hóa hoạt động dịch vụ tư vấn KH&CN. 90
3.1.4. Phát triển các quan hệ thị trường công nghệ. 91
3.2. Nhà nƣớc phải đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô về KH&CN. 93
Kết luận Chƣơng 3. 96
KẾT LUẬN 98
KHUYẾN NGHỊ 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
toàn cầu đang diễn ra cạnh tranh gay gắt nhƣ hiện nay.
Xuất phát từ tình hình thực tế, bản thân tác giả đã từng trực tiếp công tác
trong lĩnh vực tổ chức KH&CN là đối tƣợng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định
115/2005/NĐ-CP, với mong muốn có cơ hội đƣợc tham gia đóng góp ý kiến của mình
để bàn luận về điều kiện và lộ trình chuyển đổi đối với các tổ chức KH&CN công lập.
Vì vậy, tác giả đã quyết định chọn đề tài dƣới đây để làm đề cƣơng nghiên cứu của
mình đồng thời cũng là dịp để trải nghiệm thực tế giúp cho cơ quan, đơn vị mình thực
hiện các chính sách và cơ chế chuyển đổi để tồn tại và phát triển mạnh hơn.
Tác giả xin bày tỏ lòng chân thành biết ơn Quí thầy, cô đã dành thời gian đọc và
góp ý nhận xét bản đề cƣờng này. Ngƣời thực hiện
Đỗ Mạnh Thƣờng 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- CGCN Chuyển giao công nghệ
- CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
- DV Dịch vụ
- KH&CN Khoa học và công nghệ
- QLNN Quản lý nhà nƣớc
- R&D Nghiên cứu và triển khai
- TT ƢDTB Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ
- SHCN Sở hữu công nghiệp
6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp nguồn thu qua 05 năm hoạt động. ….…………… Trang 49
Bảng 2.2: Tổng hợp thực trạng nguồn nhân lực……………………… Trang 54
Bảng 2.3: Tổng hợp cơ sở vật chất…………………………………………… Trang 57
Bảng 2.4: Tổng hợp kinh phí đầu tƣ phát triển tiềm lực KH&CN…………… Trang 59
Biểu đồ 2.4.1: so sánh đầu tƣ tiềm lực KH&CN……………………… Trang 60
Bảng 2.5: Kết quả thực hiện các nhiệm vụ KH&CN Nhà nƣớc giao………… Trang 63
Bảng 2.6: Tổng hợp nguồn thu sự nghiệp (2005 – 2009)…………………… Trang 66
Bảng 2.7: Kinh phí hoạt động thƣờng xuyên (2005 – 2009)………… Trang 68
Bảng 2.8: Tổng hợp nguồn thu của các trung tâm (2005 – 2009)………… Trang 69
Biểu đồ 2.8.1: So sánh giá trị tài sản (không tính nhà, xƣởng)……………… Trang 70
Bảng 2.9: Tiến độ chuyển đổi các trung tâm khu vực ĐBSCL… ……… Trang 76
Bảng 2.10: Tiến độ chuyển đổi các trung tâm khu vực ĐBSCL……… Trang 77
tỉnh, thành phố (chủ yếu là các Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN) đã có đề án
đƣợc phê duyệt chuyển đổi, trong đó chỉ có 02/13 Trung tâm hoạt động đƣợc theo cơ
chế tự hạch toán và đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thƣờng xuyên. Số trung tâm
còn lại vẫn còn nhiều lúng túng, chƣa xác định rõ mô hình hoạt động.
8
Vì sao Nghị định 115/2005/NĐ-CP ban đầu đƣợc xem nhƣ là
«
khoán 10
»
, là cơ
hội
«
vàng
»
trong ngành khoa học và công nghệ nhƣng khi triển khai thực hiện các tổ
chức KH&CN phải chuyển đổi lại thiếu
«
mặn mà
»
?. Nguyên nhân nào làm chậm triển
khai Nghị định 115/CP dẫn đến hiệu quả của chuyển đổi theo Nghị định chƣa đƣợc
nhƣ mong muốn? Phải chăng đang còn tồn tại khá nhiều bất cập, đó là :
- Cơ sở vật chất của đa phần các tổ chức KH&CN đặc biệt khối địa phƣơng còn
nhiều khó khăn.
- Nguồn nhân lực vừa thiếu lại vừa yếu, các tổ chức KH&CN chƣa đủ khả năng
để thực hiện nghiên cứu triển khai tạo sản phẩm có tính thƣơng mại cao. Bên cạnh đó,
nguồn thu từ dịch vụ khoa học công nghệ cũng còn thấp và chƣa ổn định.
- Lộ trình thực hiện Nghị định 115 với thời gian quá ngắn cũng là một nguyên
nhân, các địa phƣơng khó có thể chuẩn bị kịp các điều kiện cần thiết để đáp ứng.
- Giai đoàn 2: Tiếp tục cải cách sâu hơn ( 1991 – 1993)
- Giai đoạn 3 : Chuuyển đổi mạnh tổ chức đối với các viện và tăng khả năng
thâm nhập thị trƣờng ( 1994 – 1999).
- Giai đoạn 4 : Thay đổi cấu trúc hệ thống KH&CN (2000- đến nay).
Việc tìm hiểu các kinh nghiệm chuyển đổi của Trung Quốc để vận dụng vào
tình hình cụ thể của Việt Nam giúp ta tiết kiệm thời gian và nguồn lực trong nỗ lực
chuyển đổi thể chế KH&CN nói chung và chuyển đổi các tổ chức KHCN nói riêng là
một vấn đề đang rất bức xúc ở VN. Song, xét về lộ trình chuyển đổi của Trung Quốc là
quá dài khó có thể áp dụng trong tình hình chuyển đổi của các tổ chức KHCN Việt
Nam hiện nay.
+ Tại Việt Nam, việc triển khai và thực hiện cơ chế chuyển đổi theo Nghị định
115/2005/NĐ-CP của Chính phủ đối với các tổ chức KHCN công lập mới chỉ đƣợc áp
dụng trong mấy năm gần đây. Vì vậy, chƣa có nhiều kinh nghiệm về mô hình hoạt
động cũng nhƣ các tài liệu nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Tuy nhiên, gần đây
đã có những bài viết về vấn đề này trong các diễn đàn khoa học, Hội nghị, Hội thảo
khoa học, trên các báo và tạp chí nhƣ:
- Bàn về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN ( Tạp chí
KHCN, tháng 10/2007 )
10
- Thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức khoa học nghiên cứu
cơ bản, nghiên cứu chiến lƣợc, chính sách phục vụ quản lý nhà nƣớc của các bộ, cơ
quan ngang bộ ( Nguyễn Tuấn Khanh).
- Vài ý kiến về việc thực hiện nghị định 115 ở các tỉnh vùng sâu, vùng xa ( Tạp
chí KH&CN).
- Đại học từ Viện : Bài toán tự chủ và nhân sự (ViệtnamNet, 14/9/2007).
Trong đề tài này, ngƣời viết kế thừa những kết quả nghiên cứu nói trên đồng
thời đƣa ra một hƣớng tiếp cận nhằm khắc phục những bất cập làm hạn chế quá trình
thực hiện cũng nhƣ hiệu quả chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ
chức KHCN hiện nay.
7. Giả thuyết nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề trên, ngƣời viết sơ bộ đƣa ra các giả thuyết nhƣ sau :
- Điều kiện để chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức
KH&CN là :
7.1. Các sản phẩm và dịch vụ KH&CN phải đƣợc thƣơng mại hóa.
7.2. Đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô về KH&CN.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu:
- Phân tích tài liệu: Phân tích các nguồn dữ liệu từ thực trạng hoạt động của các
tổ chức KH&CN .
- Phƣơng pháp quan sát, tổng kết thực tiễn.
- Phƣơng pháp nghiên cứu và so sánh hệ thống các văn bản pháp luận vể
KH&CN đã ban hành.
- Phƣơng pháp kiểm chứng giả thuyết.
9. Dự kiến luận cứ.
Luận cứ lý thuyết:
- Luận cứ về phép biện chứng của tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong xu hƣớng
mới của khoa học và công nghệ.
- Xử lý các cơ sở lý luận về các mối quan hệ của hoạt động nghiên cứu và triển
khai (R&D) với kinh tế thị trƣờng
Luận cứ thực tế:
- Các tài liệu về thực trạng hoạt động của các tổ chức KH&CN trong cả nƣớc từ
năm 2003 – 2010.
12
- Khảo sát và đánh giá quá trình chuyển đổi của các tổ chức KH&CN, thực tế
cho thấy:
+ Một số tổ chức KH&CN ( Viện, Trƣờng Trung ƣơng ) có đủ cơ sở vật chất
và trang thiết bị khi thực hiện chuyển đổi sang cơ chế hoạt động theo Nghị định
115/CP cũng gặp nhiều khó khăn vì thiếu sản phẩm KH&CN có khả năng thƣơng mại
hóa.
3.1. Các sản phẩm khoa học và công nghệ phải đƣợc thƣơng mại hóa.
3.2. Nhà nƣớc phải đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô về KH&CN.
KẾT LUẬN
KHUYẾN NGHỊ 14
PHÂN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI
KH&CN và nhƣ vậy năng lực làm chủ các hoạt động của tổ chức sẽ bị thu hẹp tƣơng
ứng với mức độ trách nhiệm. Rõ ràng sẽ không có một mức độ nhƣ nhau về tính trách
nhiệm và tính tự chủ của các tổ chức KH&CN khác nhau mà sẽ có những mức độ khác
nhau cho các tổ chức này, tuỳ theo năng lực của các tổ chức KH&CN và sự tin cậy của
xã hội thể hiện qua các quyết định về quản lý của các cơ quan quản lý nhà nƣớc về
KH&CN.
- Các tổ chức nghiên cứu và triển khai (R&D) hay còn gọi là các tổ chức khoa
học và công nghệ công lập
1
có tƣ cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, do cơ
quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập, gồm :
+ Tổ chức nghiên cứu khoa học : là những tổ chức hoạt động trong lĩnh vực
nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lƣợc, chính sách phục vụ quản lý nhà nƣớc
Không thuộc diện bắt buộc chuyển đổi).
+ Tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ: là những tổ chức
nghiên cứu và thực nghiệm các công nghệ mới và sản phẩm mới (R&D).
Tổ chức R&D có 03 nhóm
2
:
Nhóm 1: Tổ chức R&D về công nghệ thuộc các bộ “sản xuất-kinh doanh”.
Nhóm 2: Tổ chức R&D thuộc khối hàn lâm ( các viện, trƣờng trung ƣơng).
Nhóm 3: Tổ chức R&D trong lĩnh vực công ích (chủ yếu là các tổ chức
KH&CN khối địa phƣơng).
- Tổ chức dịch vụ KH&CN: là tổ chức KH&CN thực hiện các kỹ năng và kinh
nghiệm KH&CN, chủ động khai thác và ký hợp đồng với các tổ chức, cá nhân và tự
chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ: hợp đồng nghiên cứu khoa học,
chuyển giao công nghệ, dịch vụ KH&CN, cung cấp hàng hóa và các loại hợp đồng
kinh tế khác do tổ chức KH&CN tự thỏa thuận với các đối tác trên cơ sở phù hợp với
năng lực, lĩnh vực chuyên môn của tổ chức KH&CN.
đƣờng không ngắn. Nhiều kỹ thuật tiến bộ đã đi qua các công đoạn R và RD nhƣng
không trở thành đƣợc yếu tố của sản xuất để mở rộng ra đại trà D.
Ở các nƣớc công nghiệp phát triển, các thành quả của khoa học và công nghệ ở
các công đoạn đầu (R và RD) trƣớc khi đƣa vào sản xuất thƣờng có những điểm giống
nhau, gần gữi với thực tế sản xuất. Vì vậy, các thành tựu này có thể chuyển giao một
cách dễ dàng.
3
Bộ KHCN, Sổ tay chyển giao công nghệ, Hà Nội – 2008.
17
Ở Việt Nam, hai công đoạn đầu R và R&D đƣợc thực hiện tƣơng đối tốt nhƣng
công đoạn D việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất đại trà còn gặp
nhiều khó khăn. Nhiều điển hình sản xuất và mô hình ứng dụng kỹ thuật tiến bộ và
công nghệ đƣợc xây dựng thành công ở các tỉnh, nhƣng việc mở ra sản xuất lại rất hạn
chế và chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.
Nhƣ vậy, việc nghiên cứu khoa học và công nghệ (R) phải xuất phát từ vấn đề
bức xúc của sản xuất đặt ra. Hay nói cách khác việc nghiên cứu phải có địa chỉ và đơn
đặt hàng ( thị trƣờng khoa học và công nghệ) , có nhƣ vậy kết quả của nghiên cứu mới
đi vào sản xuất và đời sống. Việc nghiên cứu triển khai (R&D) cũng phải từ mục đích
đó, phải gắn kết với thực tế sản xuất, hoàn thiện qui trình kỹ thuật để chuyển giao vào
sản xuất. Chỉ khi nào kỹ thuật tiến bộ mới chứng tỏ đƣợc tính ƣu việt trong mở rộng áp
dụng, lúc đó qui trình mới đƣợc chuyển giao cho sản xuất đại trà và có điều kiện phát
huy để trở thành yếu tố kỹ thuật của sản xuất.
+ Thương mại hóa sản phẩm KH&CN: là các sản phẩm khoa học và công nghệ
có giá trị trong trao đổi thƣơng mại và khả năng ứng dụng rộng rãi để phục vụ đời sống
và sản xuất.
Chủ thể của thƣơng mại hóa hoạt động khoa học và công nghệ là: tổ chức Khoa
học và Công nghệ (KH&CN) và doanh nghiệp (DN).
1.1.2. Tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
dụng tài sản đó. Đƣơng nhiên, tăng cƣờng quyền cho đơn vị không có nghĩa là loại bỏ quyền
của Nhà nƣớc. “Tách quyền sỡ hữu và quyền sử dụng”, “tách Nhà nƣớc khỏi tổ chức
KH&CN” không phải hiểu theo nghĩa cơ học là đối lập tuyệt đối, tách biệt hoàn toàn giữa
chủ thể sở hữu với tổ chức KH&CN công lập. Tăng quyền sử dụng cho đơn vị và “tách
quyền sở hữu và quyền sử dụng” thực chất là thiết lập một quan hệ kiểu mới giữa chủ thể sở
hữu - Nhà nƣớc và chủ thể sử dụng - tổ chức KH&CN công lập cụ thể.
Nếu nhƣ trong cơ chế kế hoạch hoá, chủ thể sở hữu dễ thể hiện vai trò hơn chủ thể sử
dụng, thì ngƣợc lại, cơ chế thị trƣờng tạo điều kiện để chủ thể sử dụng bộc lộ mình hơn là
chủ thể sở hữu. Chuyển sang cơ chế mới chúng ta có thể nhận biết những quyền cần có của
đơn vị qua tác động của thị trƣờng, đồng thời cũng cần xác định rõ phƣơng thức quản lý của
Nhà nƣớc đối với tổ chức KH&CN công lập.
Về nguyên tắc, quyền sở hữu của Nhà nƣớc phải đƣợc thể hiện cụ thể trong từng tổ
chức KH&CN công lập thông qua:
- Nhà nƣớc có đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại các tổ chức KH&CN công lập.
4
Xem Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia.
19
- Nhà nƣớc có quyền gián tiếp nhƣng quyết định đối với hoạt động nghiên cứu khoa
học và triển khai công nghệ của tổ chức KH&CN công lập nhƣ quyền chỉ định ngƣời lãnh
đạo, quyền quyết định chiến lƣợc hoạt động và quyền kiểm tra, kiểm soát hoạt động của tổ
chức KH&CN công lập.
Trên cơ sở định hình chủ thể sử dụng, phải tiếp tục xác định Đại diện chủ sở hữu trực
tiếp của tổ chức KH&CN công lập nhằm đảm bảo nguyên tắc ở đâu có vốn của Nhà nƣớc
thì phải có tổ chức hoặc cá nhân đƣợc giao quyền đại diện Nhà nƣớc làm chủ sở hữu trực
tiếp với nhiệm vụ, quyền hạn, quyền lợi và trách nhiệm rõ ràng.
Nhƣ vậy, để phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc xác lập quyền sở
hữu Nhà nƣớc và quyền sử dụng của các tổ chức KH&CN. Trƣớc hết, nên đổi mới chế độ
chủ quản của cơ quan hành chính Nhà nƣớc cấp trên trực tiếp của tổ chức KH&CN công
nhiều viện trùng lặp và thứ ba là, cơ cấu tổ chức phức tạp, kinh phí đầu tƣ hạn chế lại
dàn trải nên kém hiệu quả.
Nhìn chung, là một hệ thống các tổ chức R&D đƣợc hình thành tách rời hệ
thống sản xuất.
Từ những năm 1980, yêu cầu bức thiết đặt ra là phải cải cách thể chế kinh tế, thể
chế KH&CN và đổi mới công tác kế hoạch hoá. Hàng loạt nỗ lực của Nhà nƣớc Trung
Quốc đƣợc thực hiện nhằm khắc phục sự ngăn cách giữa KH&CN và sản xuất, thông
qua một số chính sách nhƣ thành lập các liên hiệp khoa học và sản xuất (KH&SX),
chuyển một số viện nghiện cứu vào xí nghiệp và tổng công ty, cải tiến cơ chế lập kế
hoạch KH&CN, tạo những biện pháp khuyến khích để ứng dụng nhanh các kết quả
nghiên cứu vào sản xuất và tiến hành cải cách thể chế KH&CN theo hƣớng thị trƣờng
trong đó thực hiện chuyển đổi các tổ chức NC&PT theo hƣớng nhất thể hoá chức năng
nghiên cứu với chức năng khác của doanh nghiệp nhằm khắc phục khiếm khuyết mang
tính chất cấu trúc của hệ thống tổ chức NC&PT hiện hành.
Quá trình chuyển đổi chia 04 giai đoạn.
Giai đoạn1: Cải cách thể chế bƣớc đầu (1985-1990): Là tiến hành cải cách chế
độ cấp phát tài chính, xây dựng và phát triển thị trƣờng công nghệ (TTCN). Nghĩa là
quản lý chặt kinh phí của nhà nƣớc cấp, đồng thời khuyến khích các cơ quan nghiên
cứu khai thác các nguồn tài chính khác, nhƣ thông qua các hợp đồng sản xuất. Mặc dù
vậy, TTCN đƣợc hình thành trong giai đoạn này nhƣng chƣa đảm nhận đƣợc vai trò là
nơi trao đổi giữa ngƣời bán và ngƣời mua và là công cụ để tăng cƣờng mối liên kết
giữa hai khu vực nghiên cứu và sản xuất.
21
Giai đoạn 2: Tiếp tục cải cách sâu hơn (1991-1993): Với chủ trƣơng biến xí
nghiệp trở thành chủ thể tiếp nhận kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ; đồng thời tổ chức lại hệ thống R&D gắn với sản xuất.
Giai đoạn 3: Chuyển đổi mạnh về tổ chức đối với các viện và tăng khả năng
thâm nhập thị trƣờng (1994- 2000).
Trung Quốc tiến hành thí điểm chuyển đổi một số viện. Chuyển đổi một số viện
- Chính phủ Ấn Độ buộc các cơ quan nghiên cứu và triển khai Nhà nƣớc phải tìm
kiếm các nguồn hỗ trợ tƣ nhân từ bên ngoài tới mức 50%.
- Chính phủ Mêhicô và Braxin thậm chí còn chủ trƣơng cắt 100% kinh phí bao cấp
đối với một số cơ sở nghiên cứu khoa học quốc gia
- Ở Pháp, ngoài cách thức Nhà nƣớc quản lý hoạt động KH&CN của các cơ sở
nghiên cứu và triển khai thông qua ký kết hợp đồng (thời hạn mỗi hợp đồng 4 năm), Chính
phủ Pháp còn cho phép các nhà nghiên cứu trong cơ quan Nhà nƣớc trực tiếp tham gia kinh
doanh, nhƣ một biện pháp mạnh, là nhằm thực hiện ý đồ tăng cƣờng phối hợp hoạt động
nghiên cứu KH&CN giữa cơ sở Nhà nƣớc và doanh nghiệp. Mở rộng quyền tự chủ của tổ
chức NC-PT và cá nhân nhà khoa học đã đƣợc thực hiện đồng bộ với nhiều biện pháp khác,
trong đó đặc biệt có việc triển khai dự án “vƣờn ƣơm và vốn ban đầu cho các doanh nghiệp
công nghiệp” nhằm hỗ trợ, giúp đỡ trên các mặt đào tạo, tƣ vấn và tìm kiếm nguồn tài chính
cho những ngƣời có dự án doanh nghiệp khoa học.
- Ở Hàn Quốc: Viện KH&CN Hàn Quốc (KIST), một tổ chức R&D điển hình của
Hàn Quốc, với đặc trƣng độc đáo là Viện nghiên cứu làm theo hợp đồng, không chỉ toàn
Viện tự chủ trƣớc Nhà nƣớc mà mỗi phòng của Viện đều có thể độc lập lãnh đạo một hệ
thống nghiên cứu và phải chịu trách nhiệm về tất cả các chi phí cần thiết để thực hiện các
hoạt động nghiên cứu.
b). Thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai (R&D).
Thƣơng mại hóa hoạt động KH&CN, thực chất là thƣơng mại hóa những kết quả
R&D đƣợc áp dụng vào sản xuất, đƣa lại hiệu quả kinh tế (Commercialisation of R&D
Outputs) .
b
1
. Kinh nghiệm của Trung Quốc về vấn đề thương mại hóa kết quả R&D.
Trong giai đoạn 1978 - 1985, chính sách KH&CN Trung Quốc, về căn bản, vẫn
tiếp tục đi theo đƣờng lỗi cũ, tập trung vào việc khôi phục, cải thiện các cơ sở nghiên
cứu - triển khai (R&D), cụ thể là:
- Phục hồi và mở rộng các viện độc lập R&D.