Xây dựng mô hình tổ liên kết sản xuất để chuyển giao kết quả nghiên cứu nuôi thủy sản cho nông dân Vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An - Pdf 26



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_________________________

LÊ THỊ THANH HƯƠNG

XÂY DỰNG MÔ HÌNH TỔ LIÊN KẾT SẢN XUẤT ĐỂ
CHUYỂN GIAO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NUÔI THUỶ
SẢN CHO NÔNG DÂN VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
TỈNH LONG AN

Chuyên ngành: Quản lý khoa học và công nghệ
Mã số: 60.34.72
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Huy Tiến

Hà Nội 2010 1
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Lịch sử nghiên cứu 4
3. Mục tiêu nghiên cứu 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4

2000 đến nay. 39
2.2. Thực trạng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực nuôi
thủy sản ở vùng Đồng Tháp Mƣời tỉnh Long An từ năm 2000 đến nay 40
2.2.1. Nguồn Ngân sách sự nghiệp KH&CN Long An : 40
2.2.2. Nguồn kinh phí từ các phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn
của các huyện vùng ĐTM. 43
2.2.3. Bàn luận kết quả về thực trạng tình hình ứng dụng các tiến bộ
KH&CN trong thời gian qua: 43

2
2.3. Định hƣớng phát triển thuỷ sản vùng Đồng Tháp Mƣời của tỉnh Long An
đến năm 2015 44
2.3.1. Định hướng phát triển thuỷ sản của địa phương 44
2.3.2. Giải pháp thực hiện mục tiêu phát triển thuỷ sản của địa phương đến
năm 2015. 48
2.4. Mô hình xây dựng tổ hợp tác nuôi cá rô đồng ở xã Bình Hiệp, huyện Mộc
Hóa. 54
* Kết luận chƣơng 2. 59
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH TỔ LIÊN KẾT SẢN
XUẤT TRONG NUÔI THỦY SẢN 60
3.1. Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ liên kết sản xuất trong nuôi thủy sản 60
3.1.1. Giải pháp về xây dựng mạng lưới cộng tác viên cơ sở 60
3.1.2. Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý
KH&CN địa phương. 60
3.1.3. Giải pháp về vận động “4 nhà” liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm:
63
3.1.4: Kiện toàn tổ hợp tác, Hợp tác xã theo mô hình tổ liên kết. 70


CNXH
: Ch ngha x hi
BQ
: Bình quân
ĐTM
: Đồng Tháp Mười
ĐBSCL
: Đồng bằng sông Cửu Long
UBND
: U ban nhân dân
HTX
: Hợp tác x
THT
: Tổ hợp tác
TH
: Thực hiện
KH&CN
: Khoa học và Công nghệ
KT-XH
: Kinh tế-x hi
KTTT
: Kinh tế tập thể
KTTĐPN
: Kinh tế trọng điểm phía nam
XHCN
: X hi ch ngha

thôn qui hoạch chƣơng trình phát triền thủy sản, Sở Khoa học và Công nghệ

4
xây dựng kế hoạch chuyển giao ứng dụng tiến bộ KH&CN trong nuôi thủy sản
trên địa bàn Tỉnh.
2. Lịch sử nghiên cứu
Tổ hợp tác, hợp tác xã đã có và tồn tại rất lâu. Có nhiều nghiên cứu về xây
dựng phát triển mô hình tổ hợp tác, Hợp tác xã . Riêng trên địa bàn tỉnh Long
An có một dự án xây dựng mô hình tổ hợp tác nhƣ : "Xây dựng tổ hợp tác nuôi
công nghiệp cá rô đồng thƣơng phẩm (Anabas testudineus) tại xã Bình Hiệp,
huyện Mộc Hóa tỉnh Long An ". KS. Lê Thị Thanh Hƣơng, Trung Tâm Ứng
dụng Tiến bộ KH&CN Long An [2009]. Dự án tập trung vào việc thành lập tổ
hợp tác kinh tế nhằm mở rộng sản xuất, tăng năng suất và thu nhập, chƣa nêu
đƣợc những bất cập về công tác quản lý, tổ chức mô hình liên kết trong sản xuất.
Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng mô hình tổ liên kết sản xuất để tiếp nhận
chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong nuôi thủy sản nhằm nhân rộng mô hình là
một yêu cầu cấp thiết.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Hoàn thiện mô hình tổ liên kết sản xuất để chuyển giao kết quả nghiên cứu
trong nuôi thủy sản cho nông dân vùng Đồng Tháp Mƣời tỉnh Long An .
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung : hệ thống các văn bản pháp luật qui định việc thành lập
tổ liên kết, tổ hợp tác, Hợp tác xã; nghiên cứu những yếu tố tác động đến những
hoạt động của các thành phần trên ….; thực trạng và giải pháp phát triển thủy
sản ở địa phƣơng.
Đối tƣợng khảo sát: Các huyện vùng Đồng Tháp Mƣời tỉnh Long An
(huyện Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Vĩnh Hƣng, Mộc hóa, Tân Hƣng)

+ Phân tích tài liệu.
+ Tổng hợp tài liệu.
- Thực nghiệm:
Trên cơ sở thực hiện dự án: “Xây dựng tổ hợp tác nuôi công nghiệp cá rô
đồng thương phẩm (Anabas testudineus) tại xã Bình Hiệp, huyện Mộc Hóa tỉnh
Long An” do chính tác giả làm chủ nhiệm dự án.
+ Thành lập tổ kinh tế hợp tác.

6
Trên cơ sở phối hợp với phòng Kinh tế huyện Mộc Hoá, Liên minh Hợp
tác xã, UBND, Hội nông dân xã Bình Hiệp, tiến hành chọn những hộ dân tự
nguyện và đủ điều kiện tham gia vào tổ kinh tế hợp tác. Sau đó tiến hành các thủ
tục để thành lập tổ kinh tế hợp tác:
- Xác định địa điểm giao dịch tổ hợp tác.
- Viết đơn xin thành lập tổ hợp tác.
- Danh sách tổ viên góp vốn.
- Hợp đồng hợp tác của tổ viên.
- Lập phƣơng án sản xuất.
- Bầu tổ trƣởng tổ hợp tác (ban điều hành) .
- Họp hội nghị thành lập.
Dự án đã chọn đƣợc 10 hộ tham gia và thành lập tổ hợp tác sản xuất đúng
theo quy định của nhà nƣớc.
+ Xây dựng phƣơng án sản xuất:
Dựa vào tình hình thực tế của từng hộ về diện tích nuôi, vốn, lao động,
trang thiết bị, để có kế hoạch thực hiện tốt.
+ Tập huấn kỹ thuật và tổ chức hội thảo đầu bờ cho nông dân trong và
ngoài mô hình để họ tiếp cận nhanh các thành tựu khoa học và công nghệ mới.

nuôi thủy sản ở vùng Đồng Tháp Mƣời tỉnh Long An từ năm 2000 - đến nay.
Chƣơng III. Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ liên kết sản xuất trong nuôi thủy
sản.
Kết luận và khuyến nghị 8
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TỒ LIÊN KẾT
SẢN XUẤT
1.1. Những khái niệm cơ bản :
1.1.1. Các khái niệm , thuật ngữ chung :
Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc
thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt đƣợc từ các thí
nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật,
về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phƣơng pháp và phƣơng tiện kỹ

say mê các hoạt động về kinh tế xã hội ở cơ sở; tình nguyện tham gia thực hiện
vì mục tiêu lợi nhuận và phi lợi nhuận, sẵn sàng làm nòng cốt thúc đẩy các hoạt
động đó vì sự tiến bộ an sinh xã hội, hoặc vì nâng cao hiệu quả sản xuất, hoặc vì
hợp tác với nhau để tìm phƣơng pháp mƣu sinh bền vững bằng cách lồng ghép
các hoạt động sản xuất nông nghiệp với các dịch vụ trong nông thôn để, trƣớc
mắt đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, sau đó nhằm tạo ra sự phát triển
bền vững trên quê hƣơng mình.
Tổ hợp tác là hình thức tổ chức của xã hội dân sự, ngƣời dân thành lập tổ
giải quyết các nhu cầu sản xuất, đời sống theo hƣớng thoả thuận dân sự, là đầu
mối liên kết với chính quyền cơ sở, đối tác của các chƣơng trình dự án cộng
đồng, là khách hàng của các doanh nghiệp, nhà cung cấp hàng hoá, nơi thực hiện
công tác vận động xã hội, xây dựng cụm, dân cƣ, làng bản văn hoá,…
Tổ hợp tác hoạt động theo Điều 111 đến 120 của Bộ Luật Dân sự năm
2005: “Tổ hợp tác đƣợc hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực
của Ủy ban nhân dân xã, phƣờng, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng
góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hƣởng lợi và
cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự”
Nghị định 151/2007/NĐ-CP và Thông tƣ 04/2008/TT-BKH hƣớng dẫn tổ
chức, hoạt động của tổ hợp tác với những đặc điểm cơ bản: Tổ hợp tác do các cá
nhân tự nguyên thành lập, là một loại hình của kinh tế tập thể, của tổ chức xã hội
dân sự số lƣợng thành viên tối thiểu là 3 ngƣời, UBND cấp xã chứng thực hợp
đồng hợp tác; tổ hợp tác không phải là pháp nhân, hoạt động vì mục đích kinh
tế, xã hội, sở thích nhóm không trái với pháp luật.
Tổ hợp tác không phải là pháp nhân kinh doanh, “không là cấp dưới” của
UBND xã, hay tổ trƣởng dân phố, trƣởng thôn, của Ban quản lý chƣơng trình dự

10
11
tăng hiệu quả kinh tế, phải thích hợp với các mối quan hệ kinh tế mới trong điều
kiện mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất sớm, có thể là ngƣời Việt Nam đầu tiên,
nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hợp tác xã và truyền bá vào nƣớc
ta, trong tác phẩm "Đƣờng kách mệnh" viết vào năm 1927.
"Hợp tác xã" trong "Đƣờng kách mệnh" là tác phẩm lý luận điển hình, mẫu
mực về HTX, là biểu hiện sinh động của sự gặp gỡ giữa văn minh phƣơng Đông
nói chung và văn hoá Việt Nam nói riêng và phƣơng Tây, từ đó tạo ra Tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh về HTX.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc rút lý luận và kinh nghiệm hợp tác xã của thế
giới, điển hình là Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật. Quan niệm của Hồ Chí Minh về
HTX lúc đó rất đúng với nhận thức của quốc tế, trƣớc hết là Liên minh HTX
quốc tế, Tổ chức Lao động thế giới và các nƣớc hiện nay về HTX, về bản chất,
giá trị và nguyên tắc, cách thức tổ chức HTX.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày các quan niệm về HTX một cách hệ thống,
với ngôn ngữ dung dị, dễ hiểu, và đặc biệt rất ngắn gọn, ai đọc cũng có thể hiểu
đƣợc. Giải thích về bản chất hợp tác xã, Ngƣời viết:
Hạt nhân, trung tâm của HTX là xã viên; xã viên hợp tác với nhau để có lợi
ích thiết thực và vẫn duy trì tính độc lập của mình; xã viên là chủ đích thực của
hợp tác xã, là mục tiêu mà HTX phải phục vụ; HTX là phƣơng tiện để phục vụ
xã viên, phải đảm bảo đem lại lợi ích cho xã viên- thực là "hợp tác xã là nhà, xã
viên là chủ".
Để trả lời câu hỏi "tại sao ngƣời ta cần phải tham gia hợp tác xã", Bác Hồ
đã đƣa ra một ví dụ cụ thể chứng minh, theo đó: ngƣời sản xuất, nhất là nông
dân đƣợc chia sẻ lợi ích phát sinh cả trong quá trình trao đổi, tiêu thụ sản phẩm,
tạo tiết kiệm cho xã hội thông qua giảm chi phí trung gian, tạo lợi ích cho ngƣời
tiêu dùng cuối cùng thông qua giá rẻ.

tƣơng trợ”, “câu lạc bộ”, v.v nhƣng có tính chất tổ chức và hoạt động phù hợp
với quy định về tồ hợp tác tại Điều 1 Nghị định 151/2007/NĐ-CP thì có chung

13
nội dung và quy định thống nhất mẫu hợp đồng hợp tác, trình tự thủ tục thành
lập và hổ trợ tổ hợp tác.
1.1.4.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng mô hình tổ hợp
tác, hợp tác xã.
Đây là mô hình phát triển tự phát. Cơ chế quản lý lỏng lẻo. Rất khó khăn về
giao dịch kinh tế, vay vốn ngân hàng hoặc đầu tƣ phát triển kinh tế ở quy mô
lớn.
Nhà nƣớc chƣa có chế tài cho việc thành lập các tổ hợp tác. Cơ sở pháp lý
chƣa có nên ít nhận đƣợc sự hỗ trợ từ các nguồn tài trợ.
Thành viên các tổ hợp tác chỉ hoạt động theo kinh nghiệm dân gian, hầu hết
chƣa đƣợc học qua các lớp đào tạo về quản lý, hoặc kỹ thuật.
Tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác còn nhiều bất cập trong quản lý, điều
hành và bản thân một số tổ còn theo nguyên tắc “tự thỏa thuận bằng lời nói”
giữa các thành viên, nên không có cơ sở pháp lý để ràng buộc trách nhiệm, từ đó
hiệu quả hoạt động của các tổ chƣa đạt kết quả nhƣ mong muốn.
Một số cấp ủy Đảng, chính quyền, ban ngành đoàn thể các cấp chƣa nhận
thức đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò của KTTT trong nền kinh tế; việc tuyên
truyền các chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về phát triển KTTT và
chỉ đạo xây dựng, nhân rộng các mô hình HTX kiểu mới chƣa đƣợc quan tâm
đúng mức.
Bản thân nhiều HTX, tổ hợp tác chƣa năng động, sáng tạo trong sản xuất
kinh doanh; trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ quản lý
HTX còn nhiều bất cập.

chính quyền địa phƣơng, các tổ chức chính trị - xã hội với ngƣời nông dân trong
công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trƣơng chính sách của Đảng và Nhà
nƣớc.
Có thể nói kinh tế hợp tác đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn, góp phần
tích cực trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động, ổn

15
định đời sống cho bà con xã viên, xóa đói, giảm nghèo, nhất là trong lĩnh vực
nông nghiệp, nông thôn. Mặt khác, mô hình kinh tế hợp tác khơi dậy tinh thần
đoàn kết, giúp đỡ, tƣơng trợ lẫn nhau, phát huy đƣợc sức mạnh tập thể cùng nỗ
lực vƣợt qua những khó khăn tiến đến xu thế phát triển bền vững. Một yếu tố
quan trọng nữa, phát triển kinh tế hợp tác không chỉ là phát triển kinh tế mà còn
góp phần quan trọng củng cố an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa
phƣơng.
1.3. Quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về mô hình tổ hợp
tác, Hợp tác xã.
Văn kiện Đại hội Đảng viết : „„Phát triển kinh tế hợp tác với nhiều hình thức
đa dạng, từ thấp đến cao, từ tổ nhóm hợp tác đến hợp tác xã, tuân thủ nguyên tắc
tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi, quản lý dân chủ. HTX đƣợc tổ chức trên cơ sở
đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của xã viên có quyền nhƣ
nhau đối với công việc chung. Tăng cƣờng lãnh đạo, chỉ đạo và có chính sách
khuyến khích ƣu đãi, giúp đỡ kinh tế hợp tác phát triển có hiệu quả. Thực hiện
tốt Luật Hợp tác xã‟‟. (VKĐH – trang 95).
Năm mƣơi năm qua (1958 - 2008) chủ trƣơng, đƣờng lối và chính sách
phát triển hợp tác xã (HTX) của Đảng và Nhà nƣớc ta luôn thống nhất. Sợi chỉ
đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử là từng bƣớc đổi mới HTX theo hƣớng phù hợp
với điều kiện khách quan. HTX đƣợc phát triển theo các nấc thang, trình độ khác

những ngƣời lao động dễ bị tổn thƣơng trong cơ chế kinh tế thị trƣờng.
Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Luật HTX sửa đổi đã đƣợc Quốc hội khoá XI
thông qua tại kỳ họp thứ 4 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2004.
Luật đã có nhiều thay đổi tích cực so với Luật của năm 1996, tạo ra nhiều thuận
lợi và thông thoáng hơn cho các HTX phát triển. Theo Luật, HTX có đƣợc
khung khổ pháp lý hoàn chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trƣờng và các chuẩn
mực quốc tế.
Phạm vi hoạt động của các HTX đã đƣợc mở rộng, không chỉ giới hạn
trong ngành nông nghiệp mà đã lan rộng sang các ngành và các lĩnh vực kinh tế
khác trong nền kinh tế.
Trên thế giới, mọi ngƣời đang nỗ lực tạo ra những cơ hội kinh tế và cố gắng
kiểm soát số phận thông qua việc trở thành thành viên của các loại hình HTX

17
khác nhau. HTX cho phép cá nhân đạt đƣợc mục tiêu kinh tế từ cấp địa phƣơng
đến toàn cầu mà không thể có đƣợc trong hoạt động đơn lẻ. Đối với các nƣớc
đang phát triển, cơ hội này không chỉ là chìa khóa để xóa đói nghèo mà còn góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế và an ninh toàn cầu.
Ở những nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi, HTX là công cụ hữu
hiệu điều chỉnh khiếm khuyết của thị trƣờng tự do, hạn chế sự cản trở đến hầu
hết những ngƣời hoạt động trong khu vực tƣ nhân, đặc biệt đối với những ngƣời
hoạt động trong các lĩnh vực truyền thống và ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng
xa, miền núi, hải đảo.
Ở các quốc gia trải qua những chuyển đổi kinh tế và chính trị, những nỗ lực
cải tổ vẫn chƣa đủ thời gian hoặc chƣa đủ các nguồn lực để điều chỉnh thị
trƣờng. Bởi vậy, cùng với các loại hình doanh nghiệp khác, HTX có thể khuyến
khích sự cạnh tranh bằng cách tạo môi trƣờng kinh doanh cởi mở để tiếp cận

sản Đất nước Đức có 82 triệu dân, bình quần 4 người dân Đức có 1 người là
xã viên HTX hoặc hưởng lợi từ HTX‟‟.
1
Các HTX Đức đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội
„„Chỉ thống kê năm 2008: Các ngân hàng HTX của CHLB Đức có tới 30
triệu xã viên trên toàn nước Đức, dự nợ đạt 998 tỷ Euro (chiếm 20% thị phần
cho vay và 25,5% thị phần tiền gửi trên toàn nước Đức. Trong lĩnh vực nông
nghiệp: các HTX chiếm 33% thị phần thịt và rượu các loại, 50% thị phần về
ngũ cốc và rau quả, 65% thị phần sữa, doanh thu đạt 45,4 tỷ Euro. Trong lĩnh
vực tiểu - thủ- công nghiệp và thương mại- dịch vụ: doanh thu đạt 100,2 tỷ
Euro Tổng doanh thu của các HTX (không tính hệ thống ngân hàng HTX), năm
2008, đạt 147. 528 tỷ Euro Các HTX Đức đã tạo việc làm thường xuyên và thu
nhập ổn định cho 789.000 lao động, chủ yếu là lao động tại khu vực nông thôn.
Riêng tại Bang Baravia có 1.061 HTX, với 2.671.469 xã viên, chiếm 25% dân số
toàn Bang, tạo việc làm thường xuyên cho hơn 66.000 lao ðộng, hơn 1 triệu
người được hưởng lợi từ HTX. Các HTX ở Bang này, hàng năm tổ chức dạy
nghề cho khoảng 4.000 thanh niên ðịa phương và ðóng góp kinh phí tu bổ nhà
thờ, trường học ðóng thuế ðạt 360 triệu Euro/năm. Hệ thống ngân hàng HTX
bang hàng năm cho vay khoảng 95 tỷ Euro (ngân sách Bang Baravia là 41 tỷ

1
http:/www.vca.org.vn: Liên Minh Hợp Tác Xã Việt Nam, Một số thông tin về phong trào HTX ở CHLB Đức ,
20.04.2010 19
Euro/năm); thị phần về sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của HTX chiếm 60% ‟‟

2
http:/www.vca.org.vn: Liên Minh Hợp Tác Xã Việt Nam, Một số thông tin về phong trào HTX ở CHLB Đức ,
20.04.2010 20
xây dựng, sản xuất nông nghiệp trên toàn nƣớc Đức và cả ở nƣớc ngoài; trong
đó phần lớn (80%) là các HTX cổ đông góp vốn vào tổng công ty này.
1.4.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Ở Nhật Bản, các hợp tác xã nông nghiệp đƣợc tổ chức theo ba cấp: Liên
đoàn toàn quốc hợp tác xã nông nghiệp; Liên đoàn hợp tác xã nông nghiệp tỉnh;
Hợp tác xã nông nghiệp cơ sở. Các Hợp tác xã nông nghiệp cơ sở gồm hai loại:
đơn chức năng và đa chức năng. Từ năm 1961 trở về trƣớc các hợp tác xã đơn
chức năng khá phổ biến. Nhƣng từ năm 1961 trở về đây, do chính phủ Nhật Bản
khuyến khích hợp nhất các hợp tác xă nông nghiệp nhỏ thành hợp tác xă nông
nghiệp lớn, nên mô hình hoạt động chủ yếu của hợp tác xã nông nghiệp Nhật
Bản hiện nay là đa chức năng. Các hợp tác xã nông nghiệp đa chức năng chịu
trách nhiệm đối với nông dân trên tất cả các lĩnh vực dịch vụ nhƣ cung cấp nông
cụ, tín dụng, mặt hàng, giúp nông dân chế biến, tiêu thụ sản phẩm và bảo hiểm
cho hoạt động của nông dân. Có thể thấy ƣu nhƣợc điểm của hợp tác xã nông
nghiệp Nhật Bản qua phân tích cơ chế quản lý và chức năng hoạt động của
chúng.
Các hợp tác xã nông nghiệp đa chức năng của Nhật bản thƣờng đảm đƣơng
các nhiệm vụ sau:
- Cung cấp dịch vụ hƣớng dẫn nhằm giáo dục, hƣớng dẫn nông dân trồng
trọt, chăn nuôi có năng suất, hiệu quả cao cũng nhƣ giúp họ hoàn thiện kỹ năng
quản lý hoạt động sản xuất. Thông qua các cố vấn của mình, các hợp tác xã

đắt. Hàng tiêu dùng không cần đặt hàng theo kế hoạch trƣớc. Thông thƣờng các
hợp tác xã nhận đơn đặt hàng của xã viên, tổng hợp và đặt cho liên hiệp hợp tác
xã tỉnh, sau đó tỉnh đặt cho liên hiệp hợp tác xã toàn quốc. Đôi khi liên hiệp hợp
tác xã nông nghiệp tỉnh hoặc hợp tác xã nông nghiệp cơ sở đặt hàng trực tiếp
cho doanh nghiệp sản xuất. Nhìn chung các liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp
tỉnh và Trung ƣơng không phải là cấp quản lý thuần tuý mà là các tổ chức kinh
tế, các trung tâm phân phối và tiêu thụ hàng hoá.
- Hợp tác xã nông nghiệp cung cấp tín dụng cho các xã viên của mình và
nhận tiền gửi của họ với lãi suất thấp. Các khoản vay có phân biệt: cho xã viên
khó khăn vay với lãi suất thấp (có khi chính phủ trợ cấp cho hợp tác xã để bù
vào phần lỗ do lãi suất cho vay thấp). Hợp tác xã nông nghiệp cũng đƣợc phép
sử dụng tiền gửi của xã viên để kinh doanh. Ở Nhật Bản có tổ chức một trung
tâm ngân hàng hợp tác xã nông nghiệp để giúp các hợp tác xã quản lý số tín

22
dụng cho tốt. Trung tâm này có thể đƣợc quyền cho các tổ chức kinh tế công
nghiệp vay nhằm phục vụ phát triển nông nghiệp.
- Hợp tác xã nông nghiệp còn sở hữu các phƣơng tiện sản xuất nông nghiệp
và chế biến nông sản để tạo điều kiện giúp nông dân sử dụng các phƣơng tiện
này hiệu quả nhất, hạn chế sự chi phối của tƣ nhân. Các loại phƣơng tiện thuộc
sở hữu hợp tác xã thƣờng là: Máy cày cỡ lớn, phân xƣởng chế biến, máy bơn
nƣớc, máy phân loại, đóng gói nông sản. Hợp tác xã trực tiếp quản lý việc sử
dụng các tài sản này.
- Các hợp tác xã còn là diễn đàn để nông dân kiến nghị Chính phủ các
chính sách hợp lý cũng nhƣ tƣơng trợ lẫn nhau giữa các hợp tác xã và địa
phƣơng.
- Ngoài ra, các hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản còn tiến hành các nhiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status