ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐẶNG THỊ HUYỀN OANH
NHU CẦU XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỰC HÀNH THỰC TẬP NGHỀ
CÔNG TÁC XÃ HỘI
(Qua nghiên cứu tại trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI Hà Nội - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Nhu cầu xây dựng mô hình thực
hành, thực tập nghề Công tác xã hội (Qua nghiên cứu tại Trƣờng Đại
học Sƣ phạm Hà Nội)” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thanh Bình và những kết quả nghiên
cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực.
Ngày tháng năm 2015
Học viên
Đặng Thị Huyền Oanh LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã
hội với đề tài “Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề công tác
xã hội” bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình, những lời động viên sâu sắc từ thầy cô, gia đình, bạn bè.
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo: TS.
Nguyễn Thanh Bình, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ
tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả các thầy giáo, cô giáo đã
giảng dạy tôi trong suốt những năm học vừa qua, cung cấp cho tôi những kiến
thức bổ ích và quý báu để tôi ứng dụng vào đề tài luận văn của mình.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô, các bạn sinh viên của
Khoa Công tác xã hội trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Luận văn này cũng như một món quà mà tôi muốn gửi tới gia đình và bạn
8.5. Phương pháp trưng cầu ý kiến 15
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 16
1.1. Các khái niệm công cụ 16
1.1.1. Nhu cầu 16
1.1.2. Công tác xã hội 17
1.1.3. Mô hình thực hành thực tập công tác xã hội 18
1.1.4. Sinh viên ngành Công tác xã hội trường Đại học Sư phạm Hà Nội 19 1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 19
1.2.1. Lý thuyết nhu cầu 19
1.2.2. Lý thuyết hệ thống 21
1.2.3. Lý thuyết vai trò 23
1.3. Thực hành, thực tập trong đào tạo nghề CTXH hiện nay 24
1.4. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27
1.5. Đặc điểm hoạt động thực hành, thực tập của sinh viên khoa Công tác xã hội
trường ĐHSP HN 28
CHƢƠNG 2. CÁC VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN THƢỜNG GẶP CỦA SINH
VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH, THỰC TẬP CÔNG TÁC
XÃ HỘI 31
2.1. Cách thức tổ chức các hoạt động thực hành, thực tập cho sinh viên trường
ĐHSP HN 31
2.1.1. Kế hoạch triển khai thực hành, thực tập tại trường ĐHSP HN 31
2.1.2. Kế hoạch triển khai các phương pháp thực hành, thực tập 33
2.2. Thực trạng các vấn đề khó khăn 41
2.2.1. Khó khăn trong thực hành, thực tập 43
2.2.2. Khó khăn trong các mối quan hệ xã hội 46
2.2.3. Khó khăn từ phía bản thân sinh viên 50
2.2.4. Cách ứng phó của bản thân sinh viên khi gặp khó khăn 53
2.3. Đánh giá các hoạt động thực hành, thực tập 55
ĐHSP HN Đại học Sƣ phạm Hà Nội
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC BẢNG:
Bảng 1.1: Bảng khung học phần thực hành, thực tập 29
Bảng 2.1: Nhóm khó khăn mà sinh viên thường gặp phải 42
Bảng 2.2: Nhóm khó khăn trong thực hành, thực tập 44
Bảng 2.3: Khó khăn trong các mối quan hệ xã hội 47
Bảng 2.4: Nhóm khó khăn từ phía bản thân sinh viên trong thực hành, thực tập
việc thực tế thông qua việc sử dụng các kỹ năng, kinh nghiệm vận dụng các
phương pháp Công tác xã hội để trợ giúp thân chủ có vấn đề, nhóm đối
tượng, tiếp cận với cộng đồng còn kém phát triển. Đồng thời trong quá trình
triển khai thực hành, thực tập, cơ sở đào tạo và cơ sở thực hành sẽ đánh giá
chính xác về những mặt tích cực và những điểm còn hạn chế cần điều chỉnh
và bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn xã hội. Thực hành, thực tập
Công tác xã hội sẽ góp phần gắn lý thuyết vào thực tiễn, biến những kiến
thức sách vở thành kỹ năng nghề giúp sinh viên tự tin và trở thành nhân viên
Công tác xã hội chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Trường ĐHSP HN là trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn
lực chất lượng cao, giữ vai trò trọng điểm, đầu ngành trong hệ trong hệ thống
các trường sư phạm trong cả nước. Đồng thời trường cũng là một cơ sở đào
tạo đa ngành có uy tín trong hệ thống giáo dục quốc dân và là một trong
những trường đã đào tạo hệ Cử nhân ngành Công tác xã hội sớm nhất Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành mã ngành đào tạo Công tác xã hội vào tháng
10/2004, giao nhiệm vụ đào tạo trình độ cử nhân khoa học ngành Công tác xã
hội theo Quyết định số 08-QĐ/BGDĐT-ĐH&SĐH, ngày 6/1/2004. 2
Chương trình đào tạo của Khoa Công tác xã hội trường ĐHSP HN chú
trọng đến hoạt động thực hành, rèn luyện kỹ năng nghề cho sinh viên với thời
lượng từ 20% đến 40% thời gian mỗi môn học để thực hiện hoạt động thực
hành ở trên lớp. Với mong muốn nâng cao chất lượng thực hành, thực tập
hiện nay cho sinh viên ngành Công tác xã hội, tác giả đã lựa chọn đề tài
nghiên cứu: Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành, thực tập nghề Công tác
xã hội (Qua nghiên cứu tại Trường ĐHSP HN) làm luận văn Thạc sỹ của
mình.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu về thực hành, thực tập nghề Công tác xã hội
Khoa học và nghề Công tác xã hội đã được hình thành tại Mỹ và Châu
Âu từ thế kỷ XIX. Từ thập niên 70 đến nay, ngành Công tác xã hội đã tiến xa
đã hướng đến việc giải quyết những nhu cầu phức tạp và đa dạng không phải
chỉ của người nghèo mà của tất cả mọi thành phần trong xã hội. Và những
bước tiến quan trọng của Công tác xã hội hiện đại so với Công tác xã hội của
thập niên 60 và 70 là việc thay thế phương pháp “chuẩn đoán” bằng phương
pháp “lượng định” thực hành coi người nhận Công tác xã hội như một bệnh
nhân mang một chứng bệnh cần được chữa trị. Để làm việc hiệu quả nhân
viên Công tác xã hội không phải chỉ cần trái tim mà khối óc còn quan trọng
hơn gấp bội. Ngoài ra, Công tác xã hội còn đòi hỏi những kỹ năng riêng biệt
và sinh viên học chuyên ngành này phải có một số kiến thức cơ bản về lý
thuyết và kỹ năng thực hành vô cùng quan trọng nhằm giúp ứng dụng những
lý thuyết đó đi vào thực tiễn hàng ngày thông qua cách tiếp cận với khách
hàng - thân chủ.
Ở các nước phát triển (Mỹ, Úc, Canada, Anh…) Hội những người làm
nghề Công tác xã hội có vai trò quan trọng. Hội đưa ra các quy định về tiêu
chuẩn và đạo đức của người hành nghề Công tác xã hội. Hội đứng ra tổ chức 4
kiểm tra, thi tuyển và cấp chứng chỉ hành nghề cho những người muốn vào
nghề Công tác xã hội. Ở Mỹ, để trở thành nhân viên Công tác xã hội chuyên
nghiệp tất cả sinh viên Công tác xã hội cần tốt nghiệp cử nhân ngành Công
tác xã hội và phải trải qua thời gian thực tập tại các cơ sở cung cấp dịch vụ
Công tác xã hội và phải có chứng chỉnh hành nghề do Hiệp hội Công tác xã
hội cấp. Những nhân viên Công tác xã hội muốn hành nghề trong lĩnh vực y
tế cần có bằng thạc sỹ về Công tác xã hội và có ít nhất 2 năm tập sự tại các cơ
sở y tế. Quy trình kiểm huấn và đánh giá sinh viên Công tác xã hội thực tập
cũng rất chặt chẽ và khoa học.
2.2. Các nghiên cứu về thực hành, thực tập nghề Công tác xã hội ở
thuật và tài chính của Unicef năm 2005 đã đưa ra những số liệu định lượng
về thực trạng phát triển Công tác xã hội. Đồng thời, phân tích bối cảnh phát
triển Công tác xã hội ở nước ta gắn liền với mục tiêu xoá đói giảm nghèo,
công bằng trong tiếp nhận những lợi ích từ sự phát triển kinh tế. Việc phát
triển Công tác xã hội như một nghề được xem như việc giải quyết sự gia tăng
của các vấn đề xã hội đi kèm theo sự phát triển kinh tế và đáp ứng đòi hỏi
phải có cách tiếp cận mang tính khoa học và có hệ thống. Nghiên cứu đặt ra
những câu hỏi để phát triển nghề Công tác xã hội ở Việt Nam như: Nhiệm vụ
của Công tác xã hội, việc đào tạo nên được mở rộng ở cấp nào và phát triển
như thế nào, làm thế nào để có thể phát triển Công tác xã hội một cách tập
thể…
Để có thể nắm bắt được bức tranh toàn cảnh về em, thực trạng Công
tác xã hội tại Việt Nam, phòng bảo vệ trẻ em của UNICEF Việt Nam kết hợp
với Bộ Lao động Thương binh và xã hội, Ủy ban dân số Gia đình và trẻ em,
Bộ Giáo dục và đào tạo và 3 trường Đại học để tiến hành một cuộc khảo sát
và phân tích hiện trạng về lĩnh vực an sinh xã hội, phạm vi kiến thức về Công
tác xã hội và các quan điểm của nhiều tổ chức, ban ngành liên quan về phát 6
triển Công tác xã hội như một nghề ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cũng
cho thấy những người trả lời (60%) cho rằng họ đã được đào tạo Công tác xã
hội. Việc đào tạo này phần lớp nói đến các khoá đào tạo ngắn hạn được cấp
chứng chỉ, và có khoảng từ 15% đến 20% được đào tạo Công tác xã hội cấp
Đại học. Một số người trả lời rằng họ được đào tạo Công tác xã hội thực tế là
những người có bằng đại học của một chuyên ngành hoặc lĩnh vực khác và
họ có học qua những lớp đào tạo tại chức về Công tác xã hội. Loại hình công
việc các cán bộ đang đảm nhận phần lớn là làm việc với cá nhân, gia đình và
phát triển cộng đồng, còn công tác tham vấn, quản lý ca và công tác hành
chính là loại hình công việc chiếm phần ít. Từ những kết quả nghiên cứu, tác
của nhân viên Công tác xã hội cho sinh viên tại các cơ sở. Hoạt động kiểm
huấn viên của nhân viên Công tác xã hội tốt sẽ giúp cho sinh viên biết cách
và thành thạo hơn trong việc kết nối giữa lý thuyết học tại lớp và thực tế tại
cơ sở, hơn thế nữa còn có điều kiện hiểu rõ hơn về công việc và ngành nghề
của mình đang theo đuổi, cũng như đạo đức của ngành…Vậy trên thực tế,
hoạt động kiểm huấn viên của nhân viên Công tác xã hội cho sinh viên tại các
cơ sở hiện nay ra sao? Với nhiều vấn đề tác giả đề cập như: Thực trạng đội
ngũ kiểm huấn viên phục vụ ngành Công tác xã hội hiện nay, nhân tố cơ bản
ảnh hưởng tới hoạt động của nhân viên Công tác xã hội tại cơ sở. Qua đó tác
giả đề xuất như phải hoàn thiện hoạt động của đội ngũ kiểm huấn viên nhằm
đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các cơ sở đào tạo trong thời gian tới là một
nhiệm vụ cấp bách. Vì thế việc tìm hiểu kỹ các nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới
hoạt động của các nhân viên Công tác xã hội - những kiểm huấn viên tại các
cơ sở xã hội là điều vô cùng quan trọng nhằm giúp ngày càng nâng cao hơn
nữa hiệu quả công tác đào tạo Công tác xã hội của đất nước.
“Thực hành, thực tập của sinh viên ngành Công tác xã hội - Những
vấn đề đặt ra”, tác giả Phạm Thị Tâm bàn luận về vấn đề thực hành, thực tập 8
của sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội với nhiều vấn đề chưa được giải
đáp như khung chương trình đào tạo thực hành, mục đích của thực hành và
nhận định của cơ sở thực hành khi có sinh viên Công tác xã hội đến thực
hành, thực tập, đội ngũ giáo viên hướng dẫn, kiểm huấn viên tại cơ sở thực
hành. Chất lượng đào tạo của sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội khi ra
trường đi xin việc làm có nơi hài lòng, có nơi chưa hài lòng với chất lượng
đào tạo nhân lực ngành Công tác xã hội. Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên
nhân, ngoài yếu tố nỗ lực của chính bản thân sinh viên thì việc tạo cơ hội cho
các em có một môi trường thực hành, thực tập tốt thực sự là rất cần thiết.
Nghiên cứu của tác giả Mai Thị Kim Thanh và Vũ Văn Hiệu về “Đào
Công tác xã hội trình độ thạc sĩ và tiến sĩ. Chính vì vậy Công tác xã hội Việt
Nam đang có những chuyển động mạnh mẽ, phát triển cả về chiều rộng và
chiều sâu. Để đáp ứng được những yêu cầu của thời kỳ mới, hoạt động đào
tạo Công tác xã hội cũng cần có những thay đổi để đào tạo ra nguồn nhân lực
Công tác xã hội chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu xã hội, phục vụ sự
phát triển của Công tác xã hội Việt nam trong giai đoạn hiện nay. Để hoàn
thành được nhiệm vụ và vai trò đào tạo của mình, các cơ sở đào tạo cần có
những giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng, đồng thời cần nhanh chóng
phát triển chương trình đào tạo chất lượng cao, đào tạo Công tác xã hội với tư
cách của một khoa học, một nghề chuyên môn ở Việt Nam. Sự phát triển và
hoàn thiện của công tác đào tạo sẽ góp phần thực hiện sự thành công của Đề
án Phát triển nghề Công tác xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Theo nghiên cứu của tác giả Tô Phương Oanh “Nâng cao hiệu quả
chương trình thực hành nghề đối với sinh viên Công tác xã hội hiện nay –
thực trạng và hướng giải quyết”, trong chương trình đào tạo nói chung và đào
tạo Công tác xã hội nói riêng còn nặng về lý thuyết và việc tổ chức cho sinh
viên thực hành còn gặp nhiều hạn chế, bất cập. Thực tế cho thấy, để trở thành 10
một nhân viên Công tác xã hội chuyên nghiệp, sinh viên không chỉ học lý
thuyết ở trong trường đại học, cao đẳng mà cần phải tăng cường các hoạt
động tổ chức thực hành tại cơ sở thông qua việc vận dụng các kỹ năng nghề
tại trung tâm Công tác xã hội và các cơ sở dịch vụ Công tác xã hội chuyên
nghiệp. Chính vì vậy, xây dựng chương trình thực hành Công tác xã hội hiệu
quả là một yêu cầu quan trọng cần thiết phải giải quyết trong bối cảnh hiện
nay. Thực hành Công tác xã hội sẽ góp phần gắn lý thuyết vào thực tiễn, biến
những kiến thức sách vở thành kiến thức, kỹ năng tay nghề giúp người học
sau khi ra trường có thể vững vàng, tự tin,…và để xây dựng được chương
trình thực hành Công tác xã hội hiệu quả là một yêu cầu quan trọng cần phải
hiện nay.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu
3.1. Ý nghĩa khoa học
Thứ nhất, nghiên cứu ứng dụng một số lý thuyết, chức năng trong
Công tác xã hội, dựa vào các hoạt động về thực hành, thực tập trong đào tạo
đối với sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội.
Thứ hai, nghiên cứu tích hợp một số luận điểm từ các ngành khoa học
cơ bản như tâm lý học lứa tuổi, xã hội học quản lí để làm cơ sở lý luận cho đề
tài.
Thứ ba, kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện học phần thực hành
trong đào tạo Công tác xã hội thông qua các mô hình thực hành, thực tập
nghề chuyên biệt.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đối với Trường, Khoa Công tác xã hội
Nhận thức được vai trò và vị trí của hoạt động thực hành, thực tập
trong đào tạo Công tác xã hội hiện nay. 12
Hỗ trợ và hoàn thiện khung chương trình đào tạo, tăng cường tính
chuyên nghiệp trong hoạt động triển khai thực hành, thực tập Công tác xã hội
hiện nay cho sinh viên.
Thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo về ngành Công tác xã hội.
Đối với cơ cở thực hành và kiểm huấn viên
Nhận thức được vai trò của cơ sở đối với các hoạt động thực hành,
thực tập của sinh viên.
Đào tạo chuyên môn, nâng cao tay nghề cho kiểm huấn viên
Đối với Giáo viên hướng dẫn thực hành
Có những thay đổi tích cực trong cách đánh giá, nhìn nhận về kết quả
thực hành, thực tập của sinh viên, đồng thời có thêm những kinh nghiệm
- Phạm vi không gian: Khoa Công tác xã hội, trường ĐHSP HN.
- Phạm vi về thời gian: từ tháng 6/2014 đến tháng 12/2014
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Những khó khăn gặp phải của sinh viên khi đi thực hành, thực tập là gì?
- Những nhu cầu cơ bản nào cần được đáp ứng cho hoạt động thực hành, thực
tập Công tác xã hội?
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Những khó khăn mà sinh viên gặp phải trong quá trình thực hành
thực tập là: khó khăn trong thực hành, thực tập tại cơ sở, khó khăn từ phía
bản thân sinh viên, khó khăn trong thiết lập các mối quan hệ.
- Sinh viên mong muốn được hỗ trợ trong hoạt động thực hành, thực
tập.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Đề tài sử dụng các nguồn tài liệu liên quan đến lĩnh vực thực hành,
thực tập trong đào tạo ngành Công tác xã hội trên địa bàn cả nước cũng như 14
sử dụng các nguồn tài liệu hiện có ở trường ĐHSP HN để có cái nhìn tổng
quan về vấn đề nghiên cứu, đồng thời đưa ra được những so sánh đối chứng
với vấn đề trong luận văn.
8.2. Phương pháp thảo luận nhóm
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thảo luận nhóm nhằm tìm hiểu các
vấn đề về thực hành, thực tập hiện nay của sinh viên chuyên ngành Công tác
xã hội. Từ đó làm cơ sở cho việc thiết kế bảng hỏi để đi sâu tìm hiểu các vấn
đề khó khăn gặp phải của sinh viên trong hoạt động thực hành, thực tập và sự
cần thiết trong việc xây dựng các mô hình thực hành, thực tập tại trường
ĐHSP HN hiện nay.
Số lượng nhóm: 3 nhóm (từ 4 đến 6 người/nhóm)
hướng dẫn thực hành, người nghiên cứu tiến hành thiết kế bảng hỏi nhằm thu
thập thông tin về thực trạng, nhu cầu và hướng giải quyết đối với thực hành,
thực tập Công tác xã hội.
Nghiên cứu sử dụng 150 bảng hỏi ở các lớp K60, K61, K62 trong đó
số phiếu phát ra ở mỗi lớp là 50 phiếu.
Phiếu trưng cầu ý kiến được xây dựng dựa trên các tiêu chí:
- Đánh giá thực trạng các khó khăn mà sinh viên gặp phải
- Tìm hiểu nhận thức của sinh viên về các hoạt động thực hành thực
tập
- Tìm hiểu nhu cầu về hoạt động thực hành, thực tập 16
NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
1.1. Các khái niệm công cụ
Để có cơ sở đánh giá, nhìn nhận vấn đề nghiên cứu, chúng ta cần dựa
trên những khái niệm cơ bản sau:
1.1.1. Nhu cầu
Để tồn tại và phát triển, cá nhân phải đòi hỏi ở môi trường xung quanh
những yếu tố cần thiết không thể thiếu, sự đòi hỏi đó là nhu cầu. Nhu cầu là
một biểu hiện của xu hướng nhân cách, nó chi phối một cách mãnh liệt đến
đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng.
Có rất nhiều khái niệm, quan niệm khác nhau về nhu cầu:
Theo B.Ph Lomov: “Nhu cầu là đòi hỏi nào đó của con người về những
điều kiện và phương tiện nhất định cho việc tồn tại và phát triển”.
A.G Kovaliov: “Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của các nhóm
xã hội khác nhau muốn có những điều kiện để sống và phát triển”.
P.A Rudich: “Nhu cầu là trạng thái tâm lý làm rung động người ta thấy
một sự cần thiết nhất định nào đó về một điều gì đó”.