1
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 7
PHẦN MỞ ĐẦU 8
1. Lý do chọn đề tài 8
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
3. Mục tiêu nghiên cứu 10
4. Phạm vi nghiên cứu 10
5. Mẫu khảo sát 10
6. Câu hỏi nghiên cứu 11
7. Giả thuyết nghiên cứu 11
8. Phương pháp nghiên cứu 12
9. Kết cấu của Luận văn 13
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG, QUẢN LÝ 14
CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA VÀ VIỆC THIẾT LẬP MỐI LIÊN KẾT
THƯỜNG XUYÊN GIỮA CƠ QUAN QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG 14
1.1. Chất lượng hàng hóa 14
1.1.1. Khái niệm chất lượng, hàng hóa 14
1.1.2. Đặc điểm chất lượng hàng hóa 17
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa 18
1.1.4. Vai trò của chất lượng hàng hóa trong nền kinh tế thị trường 24
1.2. Quản lý chất lượng hàng hóa 28
1.2.1. Khái niệm quản lý chất lượng hàng hóa 28
1.2.2. Các nguyên tắc trong quản lý chất lượng hàng hóa 28
1.2.3. Vai trò và tầm quan trọng của hoạt động quản lý chất lượng
hàng hóa 29
3
2.4. Cần thiết thiết lập mối liên kết giữa cơ quan quản lý khoa học và
công nghệ với người tiêu dùng 67
2.4.1. Cần có sự liên kết với người tiêu dùng trong quản lý chất
lượng hàng hóa 67
2.4.2. Sự liên kết này thúc đẩy thực thi Luật chất lượng sản phẩm,
hàng hóa và Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 69
2.4.3. Sự thiết lập mối liên kết nhằm góp phần tăng cường vị thế
hàng Việt…. 70
Kết luận chương 2 72
CHƯƠNG 3. THIẾT LẬP MỐI LIÊN KẾT THƯỜNG XUYÊN GIỮA
CƠ QUAN QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 73
VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG 73
3.1. Quan điểm và mục tiêu thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ
quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng 73
3.1.1. Quan điểm 73
3.1.2. Mục tiêu 73
3.2. Các giải pháp để thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan
quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng 74
3.2.1. Thiết lập bộ phận chuyên trách về tiêu chuẩn, chất lượng tại
các đơn vị quản lý khoa học và công nghệ ở thành phố, kể cả ở huyện, thị
thông qua quyền chủ động biên chế cho Sở Khoa học và Công nghệ 74
3.2.2. Tăng cường đào tạo năng lực chuyên môn cho cán bộ địa
phương, đảm bảo công tác tập huấn, tuyên truyền về kiến thức quản lý
chất lượng hàng hoá cho cơ sở, doanh nghiệp phát triển theo chiều sâu và
rộng và tư vấn người tiêu dùng 77
3.2.3. Tăng tính liên kết; nâng cao vai trò của hiệp hội doanh nghiệp,
hội người tiêu dùng với các cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng hàng
hóa qua các buổi hội thảo, họp định kỳ; các chương trình đưa hàng Việt
về nông thôn, truyền thanh hay truyền hình địa phương và tư vấn người
6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ISO (International Organization for
Standardization)
Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế
KH&CN
Khoa học và Công nghệ
NTD
Người tiêu dùng
QCKT
Quy chuẩn kỹ thuật
TBT (Technical Barriers to Trade)
Hàng rào kỹ thuật trong thương mại
TCĐLCL
Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
WTO (World Trade Organization)
Tổ chức thương mại thế giới
Hình 1.6: Lượng xe máy tiêu thụ của hãng Honda tại thị truờng Việt
Nam 27
Hình 1.7: Mô hình hệ thống quản lý tích hợp trong một tổ chức 31
Hình 1.8: Mô hình phát triển bền vững dựa vào chất lượng 31
Hình 1.9: Rào cản kỹ thuật trong thương mại 40
Hình 1.10: Xu hướng thay đổi các rào cản thương mại trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế 41
Bảng 2.1: Kết quả kiểm tra chất lượng hàng hóa 46
Hình 2.1: Tỉ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh vi phạm về chất lượng 47
hàng hóa 47
Hình 2.2 : Qui trình mua hàng xanh 48
Hình 2.3 : Tác động tích cực từ việc mua hàng xanh 48
Hình 2.4: Mười quốc gia có số chứng chỉ ISO 9001: 2000 nhiều nhất 51
Bảng 2.2: Tương quan giữa ISO 9000, xuất khẩu và GDP của Việt Nam
52
Bảng 2.3: Mật độ ISO khu vực ASEAN 53
Bảng 2.4: Đóng góp của ISO 9000 tới xuất khẩu, so sánh Việt Nam và các
nước ASEAN 5 54
8
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong một thế giới mà toàn cầu hoá đang là xu thế chủ đạo, chưa bao
giờ người ta thấy cạnh tranh để tồn tại và phát triển giữa các quốc gia nói
chung và giữa các doanh nghiệp với nhau nói riêng lại gay gắt như ngày nay.
Đặc biệt, thời đại thông tin đang chi phối gần như toàn bộ nền thương mại thế
giới buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại phải khẳng định được chỗ đứng của
thể hiện là do quảng cáo hay được người khác giới thiệu, những điều đó là
chưa đủ cơ sở. Để giải đáp băn khoăn trên thì cần phải có gắn kết thực sự giữa
NTD với cơ quan đầu mối về tiêu chuẩn chất lượng, không ai khác đó là các
đơn vị quản lý KH&CN. Một khi NTD có được đầy đủ thông tin và cơ sở
khoa học để đối chiếu thì họ sẽ trở thành NTD thông minh và chắc chắn rằng
hàng hóa kém chất lượng sẽ không có thị trường để lưu thông.
Chính vì vậy học viên chọn đề tài là “Thiết lập mối liên kết thường xuyên
giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa”.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chất lượng sản phẩm cũng có thể được xem là yếu tố quyết định sự
thành bại của doanh nghiệp. Do đó hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm ở
doanh nghiệp đã được nghiên cứu từ rất lâu. Nhưng đối với hoạt động quản lý
chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường thì còn rất hạn chế. Trước đây
có một số tác giả đã nghiên cứu, điển hình là: Giải pháp quản lý sản phẩm,
hàng hóa trước và sau công bố tiêu chuẩn chất lượng trên địa bàn tỉnh Tây
Ninh của Phan Thanh Thôi (2010), nhưng chỉ ở khía cạnh tăng cường các
thiết chế để kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố tiêu chuẩn chất lượng.
Trong danh mục đề tài của Phòng Quản lý khoa học thuộc Sở KH&CN
An Giang từ năm 2001 đến nay, chưa có tổ chức hay cá nhân nào nghiên cứu
về lĩnh vực quản lý chất lượng hàng hóa nói chung và việc thiết lập mối liên
10
kết giữa cơ quan quản lý KH&CN với NTD nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
chất lượng hàng hóa.
- Ý nghĩa lý thuyết:
Làm rõ vai trò và trách nhiệm của NTD trong việc quản lý chất lượng
hàng hóa. Qua đó bổ sung cơ sở lí luận cho hoạt động quản lý chất lượng
hàng hóa lưu thông trên thị trường.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Đề xuất các giải pháp thiết thực cho các cơ quan, các cấp quản lý có
- Việc thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý
KH&CN với NTD có thực sự góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng
hàng hóa?
- Làm thế nào để thiết lập mối liên kết này?
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Cơ quan quản lý KH&CN có trách nhiệm hỗ trợ thông tin về tiêu
chuẩn, chất lượng hàng hóa cho NTD khi cần, và có vai trò là bên thứ ba khi
có xảy ra khiếu kiện giữa NTD với cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa.
- NTD có trách nhiệm thông báo cho cơ quan quản lý KH&CN về hàng
hóa không đạt chất lượng trong quá trình sử dụng như công bố của nhà sản
xuất, kinh doanh. Đồng thời có vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên dòng
chảy hàng hóa Việt, vì họ chính là người quyết định sử dụng hay không sử
dụng hàng hóa đó.
- Mối quan hệ giữa cơ quan quản lý KH&CN với NTD là mối quan hệ
giữa nhà cung cấp thông tin về tiêu chuẩn, chất lượng với người sử dụng
thông tin đó, và cũng là mối quan hệ giữa NTD với nhau.
- Việc thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý
KH&CN với NTD sẽ làm tăng hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa vì mối
liên kết này giúp cơ quan quản lý định hướng hay đổi mới cách thức quản lý
cho phù hợp với thị trường, đồng thời người tiêu dùng có cơ sở để loại bỏ
hàng hóa kém chất lượng.
12
- Để thiết lập mối liên kết này thì cần phải thiết lập bộ phận chuyên
trách về tiêu chuẩn, chất lượng tại các đơn vị quản lý KH&CN ở thành phố,
tỉnh, kể cả ở huyện, thị thông qua quyền chủ động biên chế cho Sở KH&CN.
8. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng các phương pháp
nghiên cứu chủ yếu sau:
Phương pháp thu thập thông tin :
- Nghiên cứu tài liệu:
Chương 1. Cơ sở lí luận về chất lượng, quản lý chất lượng hàng hóa và việc
thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công
nghệ với người tiêu dùng.
Chương 2. Thực trạng về chất lượng hàng hóa và công tác quản lý chất lượng
hàng hóa. Các mối liên kết giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với
người tiêu dùng.
Chương 3. Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa
học và công nghệ với người tiêu dùng.
Kết luận
Khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
14
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG, QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA VÀ VIỆC THIẾT LẬP MỐI LIÊN KẾT
THƯỜNG XUYÊN GIỮA CƠ QUAN QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG
1.1. Chất lượng hàng hóa
1.1.1. Khái niệm chất lượng, hàng hóa
Hình 1.1: Những yêu cầu mới về chất lượng cần phải đáp ứng
- Ngoài ra, chất lượng còn được một số nhà quản lý khái quát hóa như
sau:
Chất lượng là:
Sự thích hợp khi sử dụng (Theo Juran).
Sự phù hợp với các yêu cầu cụ thể (Theo Crosby).
Không bị khiếm khuyết, sai lỗi hoặc hư hỏng, nhiễm bẩn.
Mức độ hoàn hảo.
Sự thỏa mãn khách hàng.
ĐÁP ỨNG
CÁC
YÊU CẦU
Yêu cầu về môi trường,
an toàn nghề nghiệp và
sức khỏe cộng đồng
Thời điểm cung cấp
L
nc
: lượng nhu cầu mà hàng hóa, dịch vụ có thể thỏa mãn cho NTD
(hiệu năng, sự hoàn thiện của hàng hóa, dịch vụ hoặc các kết quả thu được từ
các hoạt động, các quá trình).
K
kh
: kỳ vọng của khách hàng (các yêu cầu cụ thể, các thỏa thuận trong
đơn đặt hàng, các tiêu chuẩn được áp dụng hoặc điểm cao nhất trong các
thang điểm đánh giá,…).
Khi Q =1, có nghĩa là kỳ vọng, mong muốn của khách hàng được đáp
ứng và thỏa mãn hoàn toàn. Đây là tình huống lý tưởng nhất và lúc đó hàng
hóa mới được coi là có chất lượng phù hợp.
17
Từ quan niệm trên có thể thấy rằng: “Chất lượng không chỉ là việc thỏa mãn
những quy cách kỹ thuật hay một yêu cầu cụ thể nào đó, mà có nghĩa rộng
hơn rất nhiều – đó là sự thỏa mãn khách hàng về mọi phương diện. Chất
lượng là “Sự thỏa mãn nhu cầu hoặc cao hơn nữa nhưng với phí tổn là
thấp nhất”.
Chính vì vậy, hoạt động quản lý chất lượng không phải chỉ chú trọng đến
những khía cạnh kỹ thuật thuần tý, mà còn phải quan tâm kiểm soát được các
yếu tố liên quan đến suốt quá trình hình thành, sử dụng và thanh lý hàng hóa.
1.1.2. Đặc điểm chất lượng hàng hóa
Chất lượng hàng hóa được đo bằng sự thỏa mãn các yêu cầu, do đó nó
có các đặc điểm cơ bản sau:
- Việc đáp ứng các yêu cầu hay không là do nhận thức và thói quen sử
dụng của NTD. Nếu một hàng hóa vì lý do nào đó mà không đáp ứng được
yêu cầu, không được thị trường chấp nhận thì bị coi là có chất lượng kém, cho
dù trình độ công nghệ để chế tạo ra hàng hóa đó rất hiện đại. Đây là một kết
luận then chốt và là cơ sở để các nhà quản lý định ra chính sách, chiến lược
a. Yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Các yếu tố vĩ mô:
- Quản lý chất lượng chịu tác động chặt chẽ bởi các chính sách kinh tế
của nhà nước, chính sách đầu tư, chính sách phát triển các ngành, chủng loại
hàng hóa, chính sách thuế, các chính sách đối ngoại trong từng thời kỳ, các
quy định về việc xuất nhập khẩu,…
Chính sách giá cho phép tổ chức xác định đúng giá trị hàng hóa của
mình trên thương trường. Dựa vào hệ thống giá cả, doanh nghiệp có thể xây
dựng các chiến lược cạnh tranh và tìm mọi cách để nâng cao chất lượng hàng
hóa mà không sợ bị chèn ép giá.
Chính sách đầu tư quyết định quy mô và hướng phát triển của sản
xuất. Từ đó nhà sản xuất mới có kế hoạch đầu tư cho công nghệ, huấn luyện,
đào tạo, nâng cao năng suất lao động và chất lượng hàng hóa. 1
Theo ý tác giả Phan Thanh Thôi (2010), Tăng cường các thiết chế kiểm soát chất lượng sản phẩm, hàng
hóa sau công bố tiêu chuẩn chất lượng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, Luận văn thạc sĩ ngành QLKH&CN,
ĐHKHXH&NV, Hà Nội, tr 15 16.
19
Có thể nói các chính sách kinh tế đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây
dựng những chiến lược sản xuất, kinh doanh dài hạn, việc bình ổn và phát
triển sản xuất cũng như hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế.
- Các điều kiện kinh tế - xã hội:
Ở bất kỳ trình độ sản xuất nào, chất lượng hàng hóa cũng bị ràng buộc,
chi phối bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu cụ thể của nền kinh tế.
Trình độ phát triển nền kinh tế
Chất lượng hàng hóa là nhu cầu nội tại của bản thân sản xuất, cho nên
trình độ chất lượng hàng hóa phải phù hợp với khả năng cho phép và sự phát
tránh nhiệm pháp lý của nhà sản xuất đối với việc cung ứng hàng hóa đảm
bảo chất lượng, nhà nước tiến hành kiểm tra, theo dõi mọi hoạt động của nhà
sản xuất nhằm bảo vệ NTD.
Về chức năng quản lý của nhà nước đối với chất lượng hàng hóa, việc
xây dựng các chính sách thưởng phạt cũng ảnh hưởng đến tinh thần các doanh
nghiệp trong những cố gắng cải tiến chất lượng. Việc khuyến khích và hỗ trợ
của nhà nước đối với doanh nghiệp thông qua chính sách thuế, tài chính,
chương trình đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo của nhà tài trợ nước ngoài
là những điều cần thiết để đảm bảo chất lượng.
Một hệ thống quản lý có hiệu lực sẽ đảm bảo sự bình đẳng trong sản xuất kinh
doanh giữa các thành phần kinh tế, các lĩnh vực sản xuất, góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội.
Những yếu tố vi mô:
Là những yếu tố liên quan trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp,
đến các chính sách và những quyết định quản lý của nhà quản trị.
- Đối thủ cạnh tranh:
Nguy cơ do các đối thủ cạnh tranh mới có tiềm năng gia nhập thêm vào
những ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động, mức độ cạnh tranh của các
doanh nghiệp cùng ngành và khả năng cạnh tranh của các đối thủ tiềm ẩn.
- Nhà cung cấp:
Đây là yếu tố quan trọng quyết định đầu vào của doanh nghiệp, nó có
thể tạo ra nguy cơ cho doanh nghiệp khi họ đòi nâng giá bán, giảm chất lượng
21
hàng hóa cung cấp, thay đổi phương thức sản xuất và cung cấp hàng hóa, từ
chối đơn hàng nếu không thỏa mãn các yêu cầu về thanh toán, có những
khách hàng mới.
- Khách hàng:
Có thể nói đây là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại của
doanh nghiệp. Khách hàng có thể trả giá thấp nhưng lại có những yêu cầu cao
hơn. Họ có nhiều sự chọn lựa, nên quản lý khách hàng là một hoạt động đặc
Bao gồm những phương pháp quản lý, phương pháp sản xuất, cách
thức điều hành, quản trị công nghệ, những chiến lược, chiến thuật của doanh
nghiệp, khả năng đối phó với các vấn đề phát sinh để duy trì và phát huy hiệu
quả của sản xuất. Yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các
chỉ tiêu chất lượng, độ an toàn, độ tin cậy trong suốt chu kỳ sống của hàng
hóa.
- Thiết bị (Machines):
Thiết bị - công nghệ quyết định khả năng kỹ thuật của hàng hóa. Trên
cơ sở lựa chọn thiết bị - công nghệ tiên tiến, nhà sản xuất có khả năng nâng
cao chất lượng, tăng tính cạnh tranh của nó trên thương trường, đa dạng hóa
chủng loại, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng nhiều của người sử dụng. Việc
cải tiến, đổi mới công nghệ tạo ra nhiều hàng hóa có chất lượng cao, giá thành
hạ và ổn định.
- Vật liệu (Materials):
Nguyên vật liệu là những yếu tố “đầu vào” quan trọng quyết định chất
lượng hàng hóa “đầu ra”. Không thể có một hàng hóa có chất lượng, nếu quá
trình sản xuất ra nó lại sử dụng các nguyên vật liệu kém chất lượng, không ổn
định. Điển hình trong ngành sản xuất gạch men thì “men màu” là yếu tố quan
trọng nhất. Một khi men màu không chất lượng thì gạch men làm ra có độ
màu không đồng đều và chắc chắn sẽ không được thị trường chấp nhận. Bên
cạnh đó đất dùng để làm xương cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Từ đó mới
có câu nói “nhất liệu – nhì nung – tam hình”.
23
90%
10%
Nguyên liệu
Nung và tạo hình
Hình 1.2: Ảnh hưởng của chất lượng nguyên liệu đến chất lượng gạch
men Acera thành phẩm
kiện
kinh tế
- xã
hội Luật
pháp Thị
trường
Các
chính
sách
Phát
triển
của
Khoa
học –
Công
quản
lý
Quá trình tạo hàng hóa Các nguồn lực (4M)
Thiết kế - Vật tư - Sản xuất - Lưu kho - Bán và Sau bán
QUẢN
LÝ
CHẤT
LƯỢNG
24
1.1.4. Vai trò của chất lượng hàng hóa trong nền kinh tế thị trường
Trong môi trường phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, cạnh tranh trở
thành một yếu tố mang tính quốc tế đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và
phát triển của mỗi doanh nghiệp.
Theo Michael E. Porter thì mỗi doanh nghiệp đều sở hữu hai loại lợi
thế cạnh tranh: chi phí thấp hoặc khác biệt hóa. Hai loại lợi thế cạnh tranh này
kết hợp với phạm vi hoạt động của một doanh nghiệp đang theo đuổi sẽ cho
phép tạo ra ba chiến lược cạnh tranh tổng quát để đạt được hiệu quả hoạt động
trên trung bình trong ngành: đó là chiến lược chi phí tối ưu (cost leadership),
chiến lược khác biệt hóa (differentiation) và chiến lược tập trung (focus).
Chiến lược tập trung lại có hai biến thể: tập trung vào chi phí và tập trung vào
khác biệt hóa. Các chiến lược tổng quát này được thể hiện trong hình 1.4.
3
Theo Michael E. Porter (2009), Lợi thế cạnh tranh, NXB Trẻ, tr 43 47.
25
Còn đối với công ty cổ phần thủy sản Bình An (Bianfishco) thì “Vấn đề chất
lượng hàng hóa được đặt lên hàng đầu”. Từ khẩu hiệu đó, công ty cũng mạnh
dạn đầu tư trang thiết bị hiện đại, xây dựng các hệ thống quản lý chất lượng
hàng đầu thế giới: HACCP, BRC, IFS, SA 8000, ISO 9001:2008, ISO
22000:2005, ISO/IEC 17025, HALAL; áp dụng hệ thống “truy xuất nguồn
gốc” dựa trên nền tảng công nghệ thông tin và công nghệ nhận dạng bằng
sóng vô tuyến; thành lập viện nghiên cứu thủy sản Bình An hoạt động vào
tháng 7 năm 2010,…, tất cả những việc làm đó chỉ hướng tới một mục đích là
sự khác biệt hóa về chất lượng hàng hóa do Bianfishco tạo ra. Và nhờ đó hàng
hóa của Bianfishco đã có mặt hơn 80 quốc gia, trong đó có những thị trường
khó tính như Hoa Kỳ, liên minh Châu Âu.
4
Qua đó cho thấy, chất lượng hàng hóa trở thành một trong những chiến
lược quan trọng nhất làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chấp nhận kinh tế thị trường nghĩa là chấp nhận cạnh tranh, chịu tác động của
quy luật cạnh tranh. Hàng hóa muốn có tính cạnh tranh cao thì chúng phải đạt
được những mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của NTD, của xã hội về mọi mặt một
cách kinh tế nhất. Với chính sách mở cửa, tự do thương mại, các nhà sản xuất
kinh doanh muốn tồn tại thì hàng hóa của họ phải có tính cạnh tranh cao,
nghĩa là doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh về nhiều mặt.
Quan tâm đến chất lượng chính là một trong những phương thức tiếp cận và
tìm cách đạt được những thắng lợi trong sự cạnh tranh gay gắt trên thương
trường nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Chất lượng hàng hóa làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp vì:
- Tạo ra sức hấp dẫn thu hút người mua:
Mỗi hàng hóa có rất nhiều các thuộc tính chất lượng khác nhau. Các
Khi hàng hóa chất lượng cao, ổn định đáp ứng được nhu cầu của khách
hàng sẽ tạo ra một biểu tượng tốt, tạo ra niềm tin cho khách hàng vào thương
hiệu của hàng hóa. Nhờ đó uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp được nâng
cao, có tác động to lớn đến quyết định lựa chọn mua hàng của khách hàng.
Theo bà Trần Thị Lê Hải Tổng Giám đốc tập đoàn nhựa Đông Á (DAC):