Tính thích ứng của thiết chế quản lý đối với việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin và hình thành chính phủ điện tử tại Bộ Khoa học và Công nghệ - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
______________________________
PHAN CẨM TÚ

TÍNH THÍCH ỨNG CỦA THIẾT CHẾ QUẢN LÝ
ĐỐI VỚI VIỆC THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
VÀ HÌNH THÀNH CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
TẠI BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LUẬN VĂN THAC SĨ
Chuyên ngành: Khoa học quản lý
Chuyên ngành: Khoa học quản lý
Mã số: 60.34.72

Người hướng dẫn khoa học: TS. Mai Hà Hà Nội - 2009

2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. Lý do nghiên cứu 5
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
3. Mục tiêu nghiên cứu 9


2.2. Tình hình triển khai ứng dụng CNTT, định hướng hình thành CPĐT
trong các cơ quan nhà nước của Việt Nam 35
2.2.1 Các giai đoạn ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước 35
2.2.2. Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, điều hành 39
2.2.3 Ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp 40
2.2.4 Hạ tầng kỹ thuật CNTT 41
2.2.5. Nguồn nhân lực ứng dụng CNTT 41
2.2.6. Bàn luận về kết quả 44
2.3. Tình hình ứng dụng CNTT, triển khai CPĐT ở một số Bộ, ngành tiêu
biểu 45
2.3.1. Tại Bộ Công Thương 45
2.3.2 Tại Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh 50
2.4. Hiện trạng phát triển ứng dụng CNTT và CPĐT tại Bộ KH&CN 54
2.4.1. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT 54
2.4.2. Các phần mềm hệ thống và dịch vụ mạng 57
2.4.3. Các ứng dụng CNTT phục vụ công tác quản lý, tác nghiệp, người
dân và doanh nghiệp 58
2.4.4. Nguồn nhân lực CNTT 62
2.4.5. Bàn luận về kết quả 63
Kết luận Chương 2 68
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢP PHÁP ĐỂ THIẾT CHẾ QUẢN LÝ CÓ THỂ
THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CNTT TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ
HÌNH THÀNH CPĐT TẠI BỘ KH&CN 69
3.1 Tính thích ứng của thiết chế quản lý đối với việc thúc đẩy ứng dụng
CNTT trong công tác quản lý và định hướng hình thành CPĐT tại Bộ
KH&CN 69
3.1.1 Ảnh hưởng của các văn bản quản lý chung của nhà nước đối với
việc thúc đẩy ứng dụng CNTT, CPĐT tại Bộ KH&CN 69
3.1.2 Ảnh hưởng của các văn bản quản lý do Bộ KH&CN đối với việc

Cơ sở dữ liệu
CSDL
5
Cải cách hành chính
CCHC
6
Khoa học và Công nghệ
KH&CN
7
Hệ thống thông tin
HTTT
8
Uỷ ban nhân dân
UBND
9
Văn bản quy phạm pháp luật
VBQPPL

5

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do nghiên cứu

ASEAN) từ năm 2000 về cam kết thực hiện mục tiêu xây dựng CPĐT.
Đặc biệt, Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về
đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đã khẳng định “Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước
ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của
toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại
hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh,
quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Do vậy, từ năm 2000 đến nay,
một loạt các Chương trình, Đề án, Dự án về tin học hóa hoạt động quản
lý của các cơ quan Đảng, Chính phủ, Quốc hội, các Bộ, ngành và địa
phương đã được Nhà nước đầu tư triển khai thực hiện. Đặc biệt, việc
đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước và
định hướng hình thành CPĐT đã được Thủ tướng Chính phủ thể chế hóa
tại Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng CNTT
trong hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả trong hoạt động của cơ quan nhà nước và giữa các cơ quan nhà
nước, trong giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước với các tổ chức và
cá nhân; hỗ trợ cải cách thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công
bảo đảm công khai, minh bạch.
Là một cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về
KH&CN, từ năm 1996 đến nay, để thực hiện các chủ trương, chính sách
về phát triển CNTT của Đảng và Nhà nước, Bộ KH&CN đã tổ chức
triển khai thực hiện một số dự án phát triển ứng dụng CNTT theo hướng
dẫn chung của Chương trình quốc gia về CNTT (1996-2000), Chương

7



nước Nhật có dự án “Thiên niên kỷ” từ năm 1999 Hiệp định ASEAN
điện tử năm 2000 là quyết tâm mới của các nhà lãnh đạo ASEAN nhằm
thực hiện chính phủ điện tử trong 10 nước thành viên. Ứng dụng CNTT
trong công tác quản lý hành chính nhà nước và CPĐT đã được nhiều
nước trên thế giới quan tâm triển khai từ lâu, ở nước ta việc ứng dụng
CNTT thực chất mới được đẩy mạnh từ giữa những năm 90 của thế kỷ
trước cho đến nay. Đây là quá trình vận dụng có chọn lọc những thành
tựu và kinh nghiệm của nước ngoài vào thực tiễn nước ta. Do đặc thù
của điều kiện kinh tế - xã hội và thể chế chính trị nước ta, quá trình vận
dụng này khá phức tạp. Có thể tổng kết tóm tắt quá trình này qua những
giai đoạn sau:
+ Giai đoạn 1996-2000: Thực hiện Kế hoạch tổng thể phát triển
CNTT trong Chương trình quốc gia về CNTT;
+ Giai đoạn 2001- 2005: Thực hiện Đề án tin học hoá quản lý
hành chính nhà nước;
+ Giai đoạn: 2006 - nay: Thực hiện chiến lược phát triển CNTT-
TT Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, thực hiện
ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước.
Ứng dụng CNTT phục vụ công tác nghiệp vụ, quản lý, điều hành
trong các cơ quan nhà nước, bộ, ngành, tỉnh, thành là nhiệm vụ đã được
xác định rõ ràng, quán triệt từ nhiều năm nay, thông qua các chỉ thị, nghị
định, quyết định quan trọng của Nhà nước và Chính phủ. Nghị định 64
của Chính phủ ban hành năm 2007 là định hướng mới nhất cho con
đường ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, tiến tới hình thành
CPĐT ở VN.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về kết quả thực hiện của từng
giai đoạn. Qua đó có thể thấy mỗi giai đoạn đều đạt được những thành

9

- Đánh giá ảnh hưởng của thiết chế quản lý có liên quan đến
CNTT đối với việc ứng dụng CNTT và triển khai CPĐT tại Bộ
KH&CN;
- Đề xuất các giải pháp về tổ chức, quản lý, điều hành của Bộ
KH&CN nhằm thúc đẩy việc ứng dụng CNTT, định hướng hình thành
CPĐT tại Bộ.
5. Mẫu khảo sát
- Các đơn vị trực thuộc Bộ KH&CN;
- Kết quả triển khai ứng dụng CNTT vào công tác quản lý hành
chính nhà nước tại một số Bộ, ngành, địa phương;
- Mô hình triển khai CPĐT của một số nước trên thế giới.
6. Vấn đề nghiên cứu
Hiện trạng ứng dụng CNTT trong công tác quản lý hành chính nhà
nước của Bộ KH&CN hiện nay như thế nào?
Ảnh hưởng của các thiết chế quản lý (của nhà nước nói chung và
của Bộ KH&CN nói riêng) đối với việc thúc đẩy ứng dụng CNTT và
triển khai CPĐT tại Bộ KH&CN là như thế nào?
Những giải pháp tổ chức, quản lý, điều hành nào của Bộ KH&CN
được đề xuất để góp phần nâng cao một bước hiệu quả việc đưa CNTT
vào công tác quản lý điều hành nội bộ và quản lý KH&CN nói chung,
định hướng hình thành CPĐT tại Bộ.
7. Giả thuyết nghiên cứu
Hiện trạng ứng dụng CNTT tại Bộ KH&CN:
Hạ tầng cơ sở kỹ thuật có khả năng đáp ứng cơ bản cho việc triển
khai các dự án CNTT; Nhiều ứng dụng CNTT đã được triển khai thực
hiện phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ cũng
như hỗ trợ công tác chuyên môn, nghiệp vụ của chuyên viên; Một số

11


chung của nhà nước tại Bộ KH&CN, các quy định về việc quy trình làm
việc, chia sẻ thông tin, giám sát, kiểm tra, đánh giá ;
- Nhóm các giải pháp về phát triển nguồn nhân lực và nâng cao
năng lực ứng dụng CNTT và CPĐT tại Bộ KH&CN;
- Nhóm giải pháp liên quan đến phương thức tổ chức thực hiện
các dự án CNTT.
8. Phương pháp chứng minh giả thuyết
Đề thực hiện các nội dung nghiên cứu, các phương pháp nghiên
cứu sau đã được sử dụng:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: đề tài đã thu thập và nghiên cứu
các liệu liên quan như: các tài liệu giảng dạy lý thuyết về khoa học
chính sách, kết quả nghiên cứu các đề tài, dự án liên quan đến việc triển
khai ứng dụng CNTT vào công tác quản lý nhà nước, các bài báo khoa
học, văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
Phương pháp điều tra: Để xác định thực trạng việc ứng dụng
CNTT trong công tác quản lý nhà nước tại Bộ KH&CN, đề tài đã tiến
hành điều tra khảo sát 29 đơn vị trực thuộc Bộ KH&CN thuộc các khối
quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp.
Đề tài cũng có tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh
vực CNTT và trên cơ sở các nguồn thông tin để phân tích và đề xuất các
giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT và triển khai CPĐT tại Bộ KH&CN.
9. Kết cấu luận văn
Bản Luận văn gồm những nội dung chính sau:
Phần mở đầu;
Chương 1: Cơ sở lý luận;
1.1 Các khái niệm liên quan
1.2 Tin học hóa quản lý nhà nước hướng tới “nền hành chính điện
tử

13

1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm quản lý
Theo cách quan niệm chung nhất thì “quản lý là việc đạt được
mục tiêu thông qua người khác”. Nhu cầu quản lý gắn với tổ chức. Tổ
chức có thể được xem là một tập hợp từ hai người trở lên, phải phối hợp
với nhau theo một cách thức nhất định để đạt được mục tiêu chung đã
đặt ra. Như vậy, tổ chức, cho dù đó là chính thức hay không chính thức,
cho dù có thể rất khác biệt về quy mô, phạm vi tác động hay cách thức
hành động, đều có chung một yếu tố căn bản, đó là mục tiêu. Mọi tổ
chức đều cần phân công lao động một cách khoa học và tinh thần hợp
tác cao để đạt được mục tiêu chung. Quản lý là một điều kiện không thể
thiếu được để tạo nên các yếu tố đó. Điều này càng đúng hơn trong bối
cảnh thay đổi hiện nay, khi thách thức về năng lực về năng lực khảng
định diện mạo, uy tín và tính chuyên môn hóa của từng tổ chức càng trở
nên cao hơn bao giờ hết
Quản lý còn có thể hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có
tổ chức và có định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất
định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi con người nhằm duy
trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã
định.[7, tr 7)
1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính
quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi
hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, do
các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu
hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển xã hội. [7, tr 8]

15

1.1.3 Khái niệm quản lý hành chính nhà nước

- Phối hợp hoạt động
Khâu này liên quan đến nhiệm vụ tổ chức giao tiếp trong nội bộ
cơ quan, hệ thống và bên ngoài. Ngoài điều kiện về chức năng, nhiệm
vụ của từng đơn vị, thành viên và đặc biệt là mối quan hệ giữa chúng
được quy định cụ thể, hợp lý và rõ ràng, còn đòi hỏi phải có một hệ
thống hành chính, quy trình, thủ tục nội bộ.
- Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (công sở, công sản, tài chính
công…)
- Giám sát, kiểm tra và đánh giá
Giám sát kiểm tra là yêu cầu không thể thiếu nhằm cho phép các
nhà quản lý hành chính nhà nước đánh giá kịp thời và đầy đủ chính
sách, các quyết định quản lý, năng lực của nhân viên và tổ chức cũng
như tác động của môi trường
1.1.4 Khái niệm thiết chế xã hội
Thiết chế xã hội là một khái niệm xã hội học [16, tr 45]
Theo J.H.Fichter, “Đó là một phần của văn hóa, một đoạn đã
được khuôn mẫu hóa trong nếp sống của một dân tộc”, “…Những khuôn
mẫu tác phong công khai và tiềm ẩn tự biến thành những vai trò xã hội
do những con người đảm nhiệm và nhiều loại tương quan khác nữa giữa
những con người với nhau, đứng đầu những tương quan đó là những
diến tiến xã hội.”
Fichter còn viết: “Những tương quan xã hội và những vai trò xã
hội hợp thành những yếu tố chủ yếu của thiết chế.”
Fichter khảng định thiết chế là một “hình trạng hoặc một sự phối
hợp giữa những khuôn mẫu tác phong được một đa số chấp nhận và tập
chung vào sự thỏa mãn một nhu cầu cơ bản của cộng đồng:
Gidden A, xác định rõ: “Thiết chế bao gồm những chuẩn mực và
những giá trị”.

17

18

thống nhằm đạt tới mục đích và mục tiêu đặt ra của hệ thống. Chức năng
của thiết chế quản lý là nhằm thực hiện các nhiệm vụ quản lý đề ra, nó
bao gồm các chức năng tổ chức, kiểm soát, và điều tiết toàn bộ các hoạt
động của hệ thống. Đây cũng chính là chức năng của người đứng đầu và
các cán bộ lãnh đạo trong quản lý.
Thiết chế quản lý bao gồm: chính sách, chiến lược và pháp luật
[16, tr 47
1.1.5 Khái niệm cải cách hành chính
Có nhiều cách tiếp cận về cải cách hành chính nhà nước nên có
nhiều định nghĩa khác nhau về cải cách hành chính nhà nước. Có tác giả
đưa ra định nghĩa nhấn mạnh tính kế hoạch, tính mục tiêu, tính tiến bộ
của cải cách hành chính; lại có tác giả nhấn mạnh sự phù hợp giữa các
mục tiêu cải cách với yêu cầu đất nước…
Cải cách hành chính nhà nước là cải cách nền hành chính nhà
nước. Nhưng tùy thuộc vào từng quốc gia, tùy thuộc vào từng thời kỳ
lịch sử, cải cách hành chính nhà nước có thể hướng tới việc hoàn thiện
một hoặc một số nội dung của nền hành chính nhà nước.
Theo các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, cải cách hành
chính nhà nước ở nước ta là trọng tâm của công cuộc xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm những
thay đổi có chủ định của Nhà nước, các cơ quan nhà nước nhằm hoàn
thiện thể chế của nền hành chình nhà nước… để nâng cao năng lực, hiệu
lực, kết quả hoạt động của nền hành chính nhà nước phục vụ nhân
dân.[7. trang 77]
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2001-2010 xác định nội dung cải cách bao gồm:
- Cải cách thể chế
- Cải cách tổ chức bộ máy hành chính;

20

Thứ ba, là các hoạt động có tính chất phục vụ trực tiếp, đáp ứng
nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và
công dân.
Thứ tư, mục tiêu nhằm bảo đảm tính công bằng và tính hiệu quả
trong cung ứng dịch vụ.
Có thể hiểu dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ công được đưa lên
mạng. Với dịch vụ công trực tuyến, công dân, doanh nghiệp có thể thực
hiện giao nộp các Hồ sơ hành chính cho cơ quan chính quyền, sau đó có
thể theo dõi tiến độ xử lý và nhận thông báo trả kết quả xử lý thông qua
Cổng thông tin điện tử của chính quyền.
Mô hình 4 mức độ phát triển của các dịch vụ công trực tuyến
được áp dụng đối với Việt Nam , bao gồm:
Mức độ 1: Cổng thông tin điện tử có đầy đủ thông tin về quy trình
thủ tục thực hiện dịch vụ, các giấy tờ cần thiết, các bước tiến hành, thời
gian thực hiện, chi phí thực hiện dịch vụ.
Mức độ 2: Ngoài thông tin đầy đủ như mức độ 1, cổng thông tin
điện tử cho phép người sử dụng tải về các mẫu đơn, hồ sơ để người sử
dụng có thể in ra giấy, hoặc điền vào các mẫu đơn. Việc nộp lại hồ sơ
sau khi hoàn thành được thực hiện qua đường bưu điện hoặc người sử
dụng trực tiếp mang đến cơ quan thụ lý hồ sơ.
Mức độ 3: Ngoài thông tin đầy đủ như ở mức độ 1 và các mẫu
đơn, hồ sơ cho phép tải về như ở mức độ 2, cổng thông tin điện tử cho
phép người sử dụng điền trực tuyến vào các mẫu đơn, hồ sơ và gửi lại
trực tuyến các mẫu đơn, hồ sơ sau khi điền xong tới cơ quan và người
thụ lý hồ sơ. Các giao dịch trong quá trình thụ lý hồ sơ và cung cấp dịch
vụ được thực hiện qua mạng. Tuy nhiên, việc thanh toán chi phí và trả
kết quả sẽ được thực hiện khi người sử dụng dịch vụ đến trực tiếp cơ
quan cung cấp dịch vụ.

bản, âm thanh, hình ảnh động. Thông tin là một trong những nguồn lực

22

quan trọng nhất của tổ chức. Nó đồng thời cũng là công cụ không thể
thiếu được của điều hành. Tuy nhiên, thông tin chỉ thực hiện tốt được
vai trò của mình đối với quản lý khi chúng được tổ chức một cách có hệ
thống, phù hợp với nhu cầu của các nhiệm vụ quản lý cụ thể.
Khái niệm HTTT quản lý: HTTT quản lý là một tập hợp các
CSDL và dòng thông tin được hình thành, truyền đạt, lưu trữ và sử dụng
nhằm cung cấp các thông tin chính xác và kịp thời cho quá trình ban
hành và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý. [7, tr 159]
Vai trò của HTTT quản lý trong điều hành công sở:
- Cung cấp cơ sở dữ liệu đầy đủ, thống nhất, chính xác, đáng tin
cậy cho việc ban hành các quyết định hành chính.
- Cung cấp cơ sở cho việc tổ chức thực hiện các quyết định hành
chính
- Là công cụ đề xây dựng, duy trì và phát triển quá trình giao tiếp
trong công sở được liên tục và hợp lý.
- Giúp cho các nhà quản lý, lãnh đạo thích ứng được với những
thay đổi của quá trình xử lý thông tin.
- Đảm bảo tính an toàn, toàn vẹn dữ liệu
Ngày nay, máy tính đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây
dựng các HTTT. Nói HTTT là nói đến HTTT có sử dụng máy tính.
HTTT sử dụng máy tính trong các hoạt động nhờ các chương trình phần
mềm thích hợp.
Xây dựng HTTT bao gồm việc xây dựng bộ chương trình phần
mềm và sử dụng phần mềm này để xử lý, chế biến các dữ liệu thành
thông tin (tức là xây dựng HTTT) hỗ trợ cho các hoạt động nghiệp vụ.
Việc xây dựng các HTTT phục vụ cho quản lý chính nhà nước là nội

services) đối với công dân hay doanh nghiệp; còn quan hệ bên trong để
chỉ các hoạt động của chính phủ từ các công chức của bộ máy nhà nước.

24

Cách tiếp cận thứ 3. Theo nhiều tài liệu kinh điển được các quốc
gia chấp nhận, CPĐT gồm 2 vấn đề :
- Đưa CNTT vào ứng dụng trong nội bộ các cơ quan công quyền
và giữa cá cơ quan công quyền nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
nội bộ các cơ quan công quyền.
- Ứng dụng CNTT trong việc cung cấp dịch vụ công, hình thành
hệ thống cung cấp dịch vụ công trực tuyến nhằm nâng cao mối quan hệ
giữa người dân, doanh nghiệp với chính phủ, và qua đó người dân có
điều kiện tốt hơn tham gia vào ác hoạt động của CP nhất là việc hoạch
định chính sách.
Từ đó CPĐT hướng tới mục tiêu phục vụ và giải quyết các mối
quan hệ:
- Nội bộ các cơ quan chính phủ (G2G): Government to
Government;
- Chính phủ với doanh nghiệp, tổ chức (G2B): Government to
Business;
- Chính phủ với công dân (G2C): Government to Citizen và
- Chính phủ với các nhân viên của mình (G2E): Government to
Employee.
Việc ứng dụng CNTT để dần hình thành CPĐT tại Bộ KHCN cũng
phải tuân theo các định hướng chung này.
1.2 Tin học hoá quản lý nhà nước hướng tới "nền hành chính
điện tử"
Quá trình tin học hoá quản lý hành chính nhà nước chính là quá
trình hướng đến "nền hành chính điện tử". Đầu tiên tin học hoá quản lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status