MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
- 1 -
KẾT LUẬN
- 83 -
DANH MỤC BẢNG BIỂU
i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ viết đầy đủ
MB Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
MB Hoàn Kiếm Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội – Chi nhánh
Hoàn Kiếm
NHTM Ngân hàng thương mại
SeABank Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á
CIC Trung Tâm thông tin tín dụng Ngân hàng nhà nước
CIC Trung Tâm thông tin tín dụng Ngân hàng nhà nước
ii
iii
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ,
kinh doanh tiền tệ. Với nền kinh tế đang phát triển như ở Việt Nam, cơ sở hạ tầng kỹ
thuật còn yếu kém thì để có thể tiến hành đầu tư thì cần số vốn rất lớn. Và kênh dẫn vốn
quan trọng nhất trong nền kinh tế là hệ thống ngân hàng. Tín dụng ngân hàng không chỉ là
đòn bẩy quan trọng trong nền kinh tế mà còn là nghiệp vụ hàng đầu, có ý nghĩa quan
trọng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng tạo ra doanh thu cho ngân hàng song việc quản lý tín dụng,
phân tích tín dụng cần phải cẩn trọng và xác đáng. Vấn đề vê chất lượng phân tích tín
dụng luôn là vấn đề nóng bỏng trong hoạt động kinh doanh của họ. Chất lượng phân tích
1.1.1.1 Khái niệm
Tín dụng xuất hiện từ khi xã hội có sự phân công lao động và phát triển chế độ tư
hữu về tư liệu sản xuất. Khi mà lực lượng sản xuất phát triển sẽ là điều kiện khiến cho sự
phân công lao động phát triển và từ đó, xã hội hình thành nên sự phân hoá giàu nghèo.
Một số người dư thừa về của cải, tiền tệ trong khi một số khác thì không đáp ứng được
các nhu cầu cần thiết. Khi đó, tín dụng xuất hiện như một hình thức cho vay nặng lãi. Sản
xuất ngày càng phát triển thì cho vay nặng lãi mất dần tác dụng, đòi hỏi loại hình khác
phù hợp với quá trình sản xuất và phát triển của nền kinh tế thị trường, quá trình chu
chuyển vốn qua các giai đoạn khác nhau. Những người có nhu cầu về vốn để mở rộng
hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ liên hệ với những người có vốn dỗi dài chưa sử dụng
đến nhưng mong muốn vốn đó được sinh lời. Nhưng không phải lúc nào sự gặp gỡ này
cũng được tiến hành một cách thuận lợi do nhiều lý do như khoảng cách địa lý, sự chênh
lệch về thời gian, khối lượng cần sử dụng… Vì thế, ngân hàng ra đời như là một cầu nối
trung gian để giải quyết được vấn đề này. Vậy tín dụng ngân hàng là gì?
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn bằng tiền tệ, hàng hoá và dịch vụ theo
nguyên tắc hoàn trả giữa một bên là ngân hàng và một bên là các tổ chức, cá nhân trong
xã hội. Trong đó, ngân hàng là người đi vay để cho vay. Trong phạm vi nghiên cứu của đề
tài này, tín dụng ngân hàng được hiểu là giao dịch về tài sản giữa ngân hàng và khách
hàng trong đó ngân hàng chuyển giao một số tiền nhất định cho khách hàng sử dụng trong
một thời hạn nhất định theo thoả thuận, khách hàng có trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi cho
ngân hàng khi đến hạn. Tín dụng ngân hàng có những đặc điểm sau:
3
- Tín dụng ngân hàng luôn diễn ra dưới hình thái tiền tệ. Ngân hàng huy động vốn
nhàn rỗi trong toàn xã hội để hình thành nguồn vốn cho vay và cho các chủ thể khác trong
xã hội.
- Ngân hàng đóng vai trò là người trung gian, làm cầu nối giữa những người thừa
vốn và những người thiếu vốn trong nền kinh tế. Chính vì thế hoạt động chính của ngân
hàng là huy động vốn và cho vay vốn.
- Sự vận động của tín dụng ngân hàng thể hiện tính độc lập tương đối với sự vận
động của quá trình tái sản xuất. Khi khối lượng sản xuất hàng hoá tăng lên thì nhu cầu
còn là nguồn hình thành vốn lưu động cho các doanh nghiệp mới thành lập.
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, chủ yếu được dùng để
cấp vốn xây dựng cơ bản, cái tiến mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
Căn cứ vào đối tượng tín dụng
- Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng cung cấp nhằm đáp ứng vốn lưu động
cho doanh nghiệp như để dự trữ hàng hoá, mua sắm nguyên vật liệu cho sản xuất, thanh
toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu.
- Tín dụng vốn cố định:là loại tín dụng cung cấp để hình thành vốn cố định. Loại
tín dụng này được thực hiện dưới hình thức cho vay trung và dài hạn, thường được sử
dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây
dựng xí nghiệp và công trình mới.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
- Tín dụng không có đảm bảo: cho vay không cần tài sản đảm bảo hoặc sự bảo lãnh
của người thứ ba. Việc cho vay này chỉ dựa trên uy tín đặc biệt là đối với khách hàng lâu
năm, trung thực trong tài chính và có khả năng tài chính lành mạnh. Mặc dù không có tài
sản đảm bảo song đây là loại hình tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì chủ yếu khách hàng
có uy tín rất lớn và khả năng trả nợ rất cao thì mới được cấp tín dụng không cần đảm bảo
- Tín dụng có đảm bảo: là loại cho vay mà khách hàng phải có tài sản đảm bảo
hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý đế ngân hàng có thêm
nguồn thu thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn nhằm bù lại khoản tiền vây
trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ.
Căn cứ vào phương thức hoàn trả
5
- Cho vay có thời hạn là loại cho vay có thoả thuận về thời hạn và cách thức trả nợ
trong hợp đồng.
+ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ: là loại cho vay thanh toán một lần theo thời hạn đã
thoả thuận.
- Nguyên nhân khách quan: do khách hàng vay vốn gặp phải nguyên nhân bất khả
kháng làm giảm hoặc mất khả năng thanh tón cho ngân hàng như là thiên tai, dịch bệnh,
chiến tranh… vượt quá tầm kiểm soát của người vay. Những thay đổi này thường xuyên
xảy ra và tác động liên tục đến người vay. Với những khách hàng tốt, có tình hình tài
chính mạnh, có khả năng dự báo cũng như thích ứng với khó khăn thì họ vẫn có khả năng
trả nợ đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng. Tuy nhiên tác động của các nguyên nhân bất
khả kháng tới người vay là khá nặng nề, khả năng trả nợ của họ bị suy giảm.
- Nguyên nhân từ khách hàng vay: đối với các doanh nghiệp vay vốn kinh nghiệm
và năng lực hoạt động kinh doanh còn ở mức độ thấp, hầu hết đều không nắm bắt thông
tin kịp thời, thiếu tính cạnh tranh. Vì vậy khi dự án vay vốn gặp khó khăn, khả năng trả
nợ của khách hàng gặp vấn đề thì rủi ro tín dụng là điều không thể tránh khỏi. Nhiều
khách hàng lợi dụng điểm yếu của ngân hàng thương mại để tiến hành lừa đảo, lập hồ sơ
khống, giấy tờ kinh doanh giả để vay được vốn. Hơn nữa khách hàng vay vốn sử dụng sai
mục đích so với hợp đồng tín dụng khiến nguồn trả nợ trở nên bấp bênh. Do vậy rủi ro tín
dụng sẽ rất dễ xảy ra.
- Nguyên nhân từ phía ngân hàng: việc mở rông hoạt động cho vay quá mức là
điều kiện cho rủi ro tín dụng của ngân hàng tăng lên. Mở rộng tín dụng quá mức đồng
nghĩa với việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát của cán bộ tín dụng
đối với việc sử dụng khoản vay giảm xuống đồng thời việc tuân thủ quy trình tín dụng bị
lơi lỏng.
Rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan, là bạn đường trong kinh
doanh, có thể đề phòng, hạn chế song không thể loại trừ. Có rất nhiều cách thức để hạn
chế rủi ro tín dụng mà quan trọng trong đó là phân tích tín dụng khách hàng để xem xét
xem những khách hàng nào rủi ro lớn, khách hàng nào ít rủi ro để từ đó đưa ra quyết định
cho vay hợp lý, các biện pháp phòng ngừa làm giảm rủi ro tín dụng.
7
1.2 PHÂN TÍCH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu
Quy trình cấp tín dụng của ngân hàng thương mại gồm có các bước: 1. Lập hồ sơ
vay vốn; 2. Phân tích tín dụng; 3. Quyết định tín dung; 4. Giải ngân; 5. Giám sát, thu hồi
Phân
tích tín
dụng
Quyết
định tín
dụng
Quyết
định tín
dụng
Giải
ngân
Giải
ngân
Giám sát, thu
hồi và thanh
lý hợp đồng
Giám sát, thu
hồi và thanh
lý hợp đồng
- Khách hàng vay vốn ngân hàng có mục đích, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và
có hiệu quả, không trái với quy định của pháp luật và quy định khác của ngân hàng cấp
trên. Tính mục đích của tín dụng được thể hiện ở chỗ lựa chọn đối tượng cho vay: cho ai
vay và cho vay gì? Tín dụng cung ứng cho nền kinh tế phải hướng đến mục tiêu và yêu
cầu về phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Đối với tổ chức kinh tế, tín
dụng cũng phải đứng ứng được mục đích cụ thể trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh để thúc đẩy các tổ chức này hoàn thành nhiệm vụ của mình.
- Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi theo đúng thời hạn đã cam kết
trong hợp đồng tín dụng. Nguyên tắc này đề ra nhằm đảm bảo cho ngânhàng thương mại
tồn tại và hoạt động bình thường. Bởi nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là nguồn
vốn huy động. Đó là bộ phận tài sản của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý
tích trên nhiều nội dung. Trong quy trình phân tích, ngân hàng lại áp dụng các phương
pháp khác nhau để có thể có được những thông tin, kết quả đánh giá chính xác nhất về
khách hàng, từ đó sẽ đưa ra hạn mức tín dụng Nội dung của quy trình phân tích tín dụng
gồm 3 phần:
- Tìm kiếm và thu thập thông tin về khách hàng
- Phân tích thông tin thu thập được
- Lưu trữ thông tin sử dụng trong tương lai
1.2.3.1 Tìm kiếm và thu thập thông tin về khách hàng.
Đây là bước quan trọng nhất, quyết định chất lượng phân tích tín dụng. Chủ yếu là
tìm kiếm, xử lý thông tin liên quan đến khách hàng: năng lực sử dụng vốn vay, uy tín, khả
năng tạo ra lợi nhuận, các tài sản sở hữu và các điều kiện kinh tế khác có liên quan đến
người vay. Để có nguồn thông tin tốt, cán bộ ngân hàng phải có kỹ năng nhận biết địa
điểm nguồn thông tin, cách thức thu thập, chọn lọc, xử lý và sử dụng tốt thông tin cần
thiết. Ở giai đoạn này, Ngân hàng có thể tìm kiếm thông tin qua các phương pháp sau:
Phỏng vấn trực tiếp khách hàng và các thông tin do khách hàng cung cấp
10
Đây là bước rất quan trọng. Các cuộc nói chuyện trực tiếp với khách hàng vừa duy trì
được mối quan hệ vừa là cơ hội để đánh giá tính cách, sự thông minh, nhanh nhạy, khả
năng của khách hàng. Khách hàng có thể bộc lộ rất nhiều qua các cuộc phỏng vấn và sự
nhạy cảm trong nghề nghiệp của các cán bộ Ngân hàng ở đây là rất quan trọng. Khai thác
thông tin được nhiều hay ít, có ích hay không đều là do kinh nghiệm của nhân viên trong
Ngân hàng.
Mua hoặc tìm kiếm thông tin từ các nguồn bên ngoài:
Qua các cơ quan quản lý, bạn hàng, chủ nợ khác của khách hàng, trung tâm thông tin, hồ
sơ tín dụng cá nhân, hồ sơ của toà án, các nguồn thông tin báo chí, hồ sơ tại ngân hàng,
qua các công ty điều tra độc lập. Tìm hiểu khách hàng trong thời gian ngắn không phải là
đơn giản. Phương pháp này giúp phân tích người vay qua mối liên hệ của họ, cho thấy
được uy tín, tình trạng rủi ro, đang trong thời kỳ nào của quá trình kinh doanh.
Thăm cơ sở của khách hàng:
nợ. Do vậy ngân hàng cần lựa chọn khách hàng được đánh giá là có uy tín. Đối với doanh
nghiệp có thể đánh giá qua văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp, uy tín của chủ doanh
nghiệp, hồ sơ quá khứ trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng. Việc đánh giá thường
mang tính chủ quan, do vậy cán bộ ngân hàng cần phải có kinh nghiệm và kỹ năng tốt
trong phân tích đánh giá khách hàng.
b. Phân tích tài chính của khách hàng
Phân tích tài chính là phân tích hiện trạng tài chính, chủ yếu là để đánh giá xem
khách hàng đang hoạt động tốt hay xấu, có hiệu quả hay không, đang ở giai đoạn nào
trong chu kỳ sản xuất kinh doanh, có khả năng thực hiện kế hoạch tương lai hay không.
- Đối với khách hàng cá nhân: phân tích tài chính là phân tích nguồn thu nhập, chi
phí của thường xuyên của khách hàng.
- Đối với khách hàng doanh nghiệp: phân tích tài chính là phân tích các báo cáo tài
chính của khách hàng trong khoảng thời gian 2 – 3 năm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết
quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính…
Phân tích báo cáo tài chính thường được thực hiện theo các phương pháp sau:
12
Phương pháp so sánh:
- So sánh số thực hiện kỳ này với thực hiện kỳ trước để thấy được xu hướng thay
đổi tình hình tài chính đang được cải thiện hay xấu đi để có biện pháp khắc phục kịp thời.
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của khách
hàng.
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình ngành của ngành để thấy
tình hình tài chính đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay không được so với mức
trung bình.
- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng khoản mục so với tổng số
trong báo cáo tài chính và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại khoản mục, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc so sánh.
- So sánh theo chiều ngang (so sánh các con số trên từng khoản mục trên báo cáo
tài chính của thời kỳ liên tiếp nhau) để thấy sự biến động cả về số tuyệt đối và tương đối
quan trọng trong đánh giá thành tích tài chínhc của doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu rất quan
trọng với ngân hàng vì doanh thu thuần là một trong những nguồn tiền chủ yếu để trả nợ.
Phương pháp Dupont
Bản chất của phương pháp Dupont là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh mức sinh
lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản ROA, thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở
hữu ROE thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối thươgn quan nhân quả với nhau. Điều
đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp. Thông qua việc
sử dụng phương pháp phân tích Dupont từ trên xuống không những tìm hiểu được tình
trạng chung của doanh nghiệp cùng các quan hệ cơ cấu giữa các chỉ tiêu đánh giá tài
chính mà còn làm rõ nhân tố ảnh hưởng làm biến động tăng giảm các chỉ tiêu tài chính
chủ yếu, cùng các vấn đề còn tồn tại
Trong quá trình phân tích có thể thực hiện tách các chỉ tiêu ROE, ROA như sau
Thu nhập sau thuế Thu nhập sau thuế Tổng tài sản A
ROE = = x = ROA x
Vốn chủ sở hữu Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu E
14
Thu nhập sau thuế Thu nhập sau thuế Doanh thu
ROA = = x
Tổng Tài sản Doanh thu Tổng tài sản
Phương pháp phân tích lưu chuyển tiền tệ
Dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ, ngân hàng xác định được tiền của doanh
nghiệp tạo ra từ đâu và được sử dụng để làm gì, có phục vụ cho mục đích sản xuất kinh
doanh hay không.
- Dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh thì dòng tiền phát sinh chủ yếu liên
quan đến hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ và thanh toán các khoản nợ phải trả liên
quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền tệ từ hoạt
động kinh doanh bao gồm: tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu khác, tiền
trả nợ cho người cung cấp hàng hoá, lao động, tiền nộp thuế…
cho ngân hàng là từ đâu…
Đánh giá tính khả thi của phương án
Đánh giá tính khả thi của phương án là xem xét xem phương án có thể được thực hiện
trong thực tế hay không hay chỉ là trên giấy tờ, sổ sách.
- Đánh giá khả năng cung cấp đầu vào: bao gồm đánh giá về nguyên vật liệu để sản
xuất: nguồn cung cấp, số lượng, chất lượng, giá cả có biến động nhiều hay không, phương
thức thanh toán là gì, thời gian giao hàng
- Năng lực sản xuất của khách hàng: bao gồm về trình độ lao động của nhân viên,
cơ sở vật chất, dây chuyền công nghệ, tính toán các yếu tố chi phí, so so sánh với doanh
thu dự kiến để xác định được kế hoạch lợi nhuận để đảm bảo tính thành công của phương
án.
- Khả năng tiêu thụ: căn cứ vào hợp đồng tiêu thụ, thị trường truyền thống, hệ
thống bán hàng, kết quả bán hàng kỳ trước, giá bán, phương thức thanh toán để xác định
khả năng đạt được doanh thu dự kiến. Doanh nghiệp chỉ có thể thành công khi phương án
kinh doanh có thị trường đầu ra ổn định, chắc chắn.
Đánh giá hiệu quả kinh tế của phương án kinh doanh
Trên cơ sở tính toán về doanh thu, chi phí của phương ánh do doanh nghiệp cung
cấp, ngân hàng xem xét lại tính hợp lý của doanh thu dự trên thị trường đầu ra của
16
phương án, chi phí dựa trên thị trường đầu vào. Để đánh giá được một cách chính xác, đòi
hỏi cán bộ tín dụng có am hiểu về lĩnh vực kinh doanh ucả phương án, có thông tin đầy
đủ về giá cả, nhu cầu sản phẩm, các chi phí cần thiết trong quá trình sản xuất nhằm dự
báo doanh thu doanh nghiệp có thể đạt được và không bỏ sót chi phí hoặc đẩy chi phí lên
quá cao.
Đánh giá khả năng trả nợ của phương án
Nguồn trả nợ của ngân hàng là nguồn thu từ phương án kinh doanh. Do đó ngân
hàng cần đánh giá xem thời gian thu hồi vốn của doanh nghiệp, khả năng bên mua thanh
Phân tích phương diện thị trường
Phân tích thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án là khâu hết sức quan trọng ảnh
hưởng trực tiếp đến sự thành bại của dự án. Do vậy phải thẩm định chặt chẽ, khoa học,
tránh suy luận chủ quan : cần phải xác định nhu cầu thị trường ở hiện tại và tương lai.
+ Thị trường trong nước: lưu ý sản phẩm cùng loại, mùa, thời vụ tiêu thụ.
+ Xác định mức thu nhập bình quân đầu người của từng vùng thị trường tiêu thụ và tốc độ
tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người.
+Xác định thói quen, tập quán tiêu dùng của người dân địa phương.
- Xác định nhu cầu thị trường tiêu thụ trong tương lai khi dự án đi vào hoạt động:
+ Khả năng tiêu thụ sản phẩm: Ưu thế của sản phẩm về giá thành, chất lượng, qui cách,
điều kiện lưu thông và tiêu thụ.
+ Kinh nghiệm và uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ thị trường về sản phẩm khả
năng thích nghi nắm bắt thông tin thị trường, hệ thống tiêu thụ sản phẩm.
+ Phương thức tiêu thụ sản phẩm, tình hình tiêu thụ sản phẩm trong quá khứ, hiện tại, các
hợp đồng đã ký kết và khả năng tiêu thụ trong tương lai.
+ Ðối với các sản phẩm xuất khẩu phải đánh giá được thị trường thế giới và khu vực, các
thế mạnh của sản phẩm, thuận lợi và khó khăn về điều kiện thông tin, vận tải, chất lượng,
bao bì . . .
Phân tích phương diện kỹ thuật và điều kiện phục vụ
Đánh giá mức độ phù hợp về công nghệ và thiết bị với mặt bằng chung, điều kiện, tiềm
lực tài chính và khả năng sử dụng của doanh nghiệp. Xác định doanh thu theo công suất
18
dự kiến, việc cung cấp nước và năng lượng, chất thải và vệ sinh môi trường, vấn đề bảo
vệ môi trường, bảo vệ người lao động
Phân tích phương diện tài chính
- Tổng vốn đầu tư: là số vốn cần thiết để xây dựng và đưa dự án đi vào hoạt động.
+ Phương pháp chi phí: xác định tất cả các khoản chi phí dự tính cho từng công việc: vốn
đầu tư xây lắp: tính trên khối lượng xây dựng và đơn giá xây lắp, thiết bị: giá mua, chi phí
- Ðịnh phí hay còn gọi là chi phí bất biến hay chi phí cố định là chi phí không thay
đổi theo mức sản xuất cao hay thấp của doanh nghiệp hay: Chi phí không thay đổi về tổng
số mà thay đổi theo đơn vị hàng hóa bao gồm các yếu tố sau:
+ Chi phí quản lý xí nghiệp (hành chính phí, lương của cán bộ công nhân viên bộ phận
gián tiếp).
+ Khấu hao TSCÐ, bảo hiểm, chi phí bảo trì máy móc, nhà xưởng; chi phí thuê mướn bất
động sản, máy móc, phương tiện kinh doanh; chi phí trả lãi vay trung, dài hạn; các loại
thuế cố định hàng năm (Thuế môn bài, thuế đất, thuế nhà đất).
- Biến phí (chi phí biến đổi): Là chi phí thay đổi theo mức độ hoạt động nhiều hay
ít của doanh nghiệp hay nói cách khác là tổng số chi phí thay đổi theo mức sản xuất cao
hay thấp của doanh nghiệp, nhưng tính theo từng đơn vị sản phẩm lại cố định (Constant
per unit). Biến phí bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, phụ tùng
thay thế, vật rẻ, bao bì, lãi suất vay ngắn hạn, lương công nhân viên trực tiếp, chi phí vận
chuyển bốc dỡ, hao hụt,…
Phương pháp phân tích tài chính dựa vào giá trị hiện tại thuần và tỷ suất hoàn vốn
nội bộ.
- Giá trị hiện tại thuần NPV là chênh lệch giữa tổng các khoản thu và các khoản
chi của cả đời dự án khi đưa về thời điểm hiện tại ( thời điểm bắt đầu dự án)
∑∑
==
+
−
+
=
n
i
i
i
n
i
)
NPV
1
+ NPV
2
Trong đó r
1
tỷ suất chiết khấu tại đó NPV
1
> 0
r
2
tỷ suất chiết khấu tại đó NPV
2
<0
Dự án sẽ được chấp nhận khi IRR > k và bị từ chối khi IRR < k. Với k có thể là lợi
tức yêu cầu của nhà đầu tư, có thể là lãi suất vay vốn nếu đầu tư bằng vốn đi vay hoặc có
thể là chi phí cơ hội nếu sử dụng vốn tự có
e. Phân tích tài sản đảm bảo của khách hàng
Khách hàng vay vốn do lần đầu giao dịch hoặc khoản vay có giá trị lớn, uy tín
chưa cao thì ngân hàng thường yêu cầu có tài sản đảm bảo. Trong trường hợp người đi
vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền phát mại tài sản đảm
bảo để thu hồi nợ. Tài sản đảm bảo để bảo vệ quyền lợi của ngân hàng trong trường hợp
nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện, như là biện pháp đối phó khi có rủi ro xảy ra. Vì
vậy, công việc phân tích, định giá tài sản đảm bảo là rất quan trọng trước khi cho vay.
Khi tiến hành phân tích tài sản đảm bảo, ngân hàng cần tiến hành kiểm tra các nội
dụng sau:
- Tính pháp lý của tài sản: tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên đi vay và được
phép cầm cố thế chấp.
phí không phải lúc nào cũng đồng nhất hay phù hợp với giá trị, đòi hỏi phải có hiểu biết
kỹ thuật xây dựng và có kinh nghiệm. Vì thế phương pháp này được áp dụng đối với bất
động sản, máy móc, thiết bị chuyên dùng ít giao dịch trên thị trường.
Phương pháp thị trường: dựa vào nguyên tắc thay thế trên giả định giữa giá trị
thị trường của tài sản tương tự đã được giao dịch với giá trị của tài sản cần định giá có
mối liên hệ với nhau. Đây là phương pháp ít gặp khó khăn về mặt kỹ thuật, dựa chủ yếu
vào giá trị thị trường để điều chỉnh tài sản so sánh với tài sản mục tiêu vì vậy có cơ sở
vững chắc để khách hàng, cơ quan pháp lý công nhận. Tuy nhiên nếu chất lượng thông tin
không tốt về giao dịch tương tự, lỗi thời, chứa đựng yếu tố chủ quan sẽ ảnh hưởng nhiều
đến kết quả phân tích. Phương pháp áp dụng chủ yếu để định giá bất động sản, máy móc,
thiết bị có tính chát tương đồng, giao dịch phổ biến trên thị trường.
1.2.3.3 Lưu trữ thông tin về khách hàng
Các ngân hàng sau khi thu thập, phân tích và xử lý thông tin xong sẽ tiến hành lưu
trữ thông tin về khách hàng. Công việc lưu trữ thông tin phục vụ cho chính hoạt động của
ngân hàng nhằm các mục đích:
- Đánh giá uy tín của khách hàng
22