Phân tích những rủi ro và cá biện pháp quản trị rủi ro khi áp dụng phương pháp TDCT trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Dầu khí toàn cấu (GP Bank) - Pdf 26

Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT: 7
PHẦN MỞ ĐẦU: 1
TÍNH CẤP THIẾT VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
CHƯƠNG I - RỦI RO TRONG THANH TOÁN THEO PHƯƠNG THỨC
TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1. HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 3
1.1.1. Hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại 3
1.1.1.1. Khái niệm thanh toán quốc tế (TTQT) 3
1.1.1.2. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế 3
1.1.2. Các phương thức thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại.
5
1.2. PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG
TTQT 9
1.2.1. Khái niệm, đặc trưng của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
9
1.2.1.1. Khái niệm phương thức tín dụng chứng từ (TDCT) 9
1.2.1.2. Đặc điểm của phương thức tín dụng chứng từ 10
1.2.2. Thư tín dụng chứng từ (Letter of Credit - L/C) 11
1.2.2.1. Khái niệm thư tín dụng 11
1.2.2.2. Nội dung chủ yếu của thư tín dụng 12
1.2.2.3. Các loại thư tín dụng 15
1.2.3. Mối quan hệ pháp lý giữa các bên tham gia phương thức thanh toán
tín dụng chứng từ 19
1.2.3.1. Các bên tham gia thanh toán 19
Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
1.2.3.2. Mối quan hệ pháp lý giữa các bên tham gia 21

2.2.1. Huy động vốn 38
2.2.2. Dư nợ cho vay 39
2.3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TTQT THEO PHƯƠNG THỨC
TDCT TẠI CHI NHÁNH GP BANK (2007 - 2009) 40
2.3.1. Khái quát về hoạt động TTQT của Chi nhánh (2007 -2009) 40
2.3.2. Quy trình nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ tại chi nhánh GP
Bank 43
2.3.2.1. Quy trình nghiệp vụ thanh toán thư tín dụng nhập khẩu 43
2.3.2.2. Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C xuất khẩu 46
2.3.3. Kết quả thực hiện hoạt động TTQT theo phương thức TDCT tại chi
nhánh (2007 - 2009) 49
2.4. THỰC TRẠNG VỀ RỦI RO KHI ÁP DỤNG PHƯƠNG THỨC
TDCT TẠI CHI NHÁNH GP BANK 52
2.4.1.1. Rủi ro tín dụng 53
2.4.1.2. Rủi ro tác nghiệp 57
2.4.1.3. Rủi ro đạo đức 60
2.4.1.4. Rủi ro kinh tế, chính trị, pháp lý 62
2.4.1.5. Rủi ro ngoại hối 63
2.5. ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC
TDCT TẠI CHI NHÁNH TRONG THỜI GIAN QUA 63
2.5.1. Kết quả đạt được 63
2.5.2. Hạn chế 64
CHƯƠNG 3 - MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ
RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TDCT TẠI GP
BANK 66
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TTQT THEO
PHƯƠNG THỨC TDCT TẠI CHI NHÁNH GP BANK 66
Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
3.1.1. Phân tích và dự đoán môi trường hoạt động của chi nhánh 66
3.1.2. Định hướng phát triển chung của chi nhánh 68

thể 84
3.3.2.3. Nâng cao chất lượng công tác thanh tra ngân hàng 84
3.3.3. Đề xuất đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu 85
3.3.3.1. Cần có đội ngũ cán bộ chuyên trách về XNK, có năng lực và
am hiểu về luật TMQT và TTQT 85
3.3.3.2. Không ngừng đào tạo cán bộ trẻ, cử cán bộ đi học để nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ 85
3.3.3.3. Nâng cao chất lượng công tác tìm hiểu độ tin cậy của đối tác.
86
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Kết quả huy động vốn ( 2007 – 2009)
Bảng 2: Kết quả dư nợ cho vay ( 2007 – 2009)
Bảng 3: Doanh số thanh toán quốc tế ( 2007 – 2009)
Bảng 4: Tỷ trọng các phương thức thanh toán quốc tế ( 2007 – 2009)
Bảng 5: Doanh số TTQT theo phương thức TDCT ( 2007 – 2009)
Bảng 6: Tỷ trọng thanh toán các loại L/C trong TTQT (2007 - 2009)
Bảng 7: Doanh số L/C chưa thanh toán (2007 - 2009)
Bảng 8: Tình hình nợ quá hạn thanh toán L/C nhập (2007 - 2009)
Bảng 9: Tình hình cho vay bắt buộc thanh toán L/C nhập (2007 - 2009)
********
Biểu 1: Doanh số thanh toán XNK (2007 - 2009)
Biểu 2: Tỷ trọng L/C NK và L/C XK trong TTQT (2007 - 2009)
Biểu 3: Nợ quá hạn và Cho vay bắt buộc trong TT L/C nhập (2007 - 2009)
*********
Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT:
 NHNo & PTNT – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn.

biệt là nhiều rủi ro trong thanh toán xuất nhập khẩu. Hoạt động kinh doanh đối
ngoại có ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, sự tín nhiệm của bạn bè quốc tế dành cho
các ngân hàng, các doanh nghiệp Việt Nam. Mặc dù đã nhận thức được tầm quan
trọng của hoạt động ngân hàng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế nhưng
hiện nay hầu hết các ngân hàng Việt Nam còn lúng túng trong quá trình xử lý rủi ro
trong quá trình hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động thanh toán xuất khẩu.
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề, em muốn đi sâu nghiên cứu đề tài “ phân
tích những rủi ro và cá biện pháp quản trị rủi ro khi áp dụng phương pháp TDCT
trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Dầu khí toàn cấu (GP
Bank)” để làm khóa luận tốt nghiệp.
Somvang Keobounhueng – TCQT K49
Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
Mục đích nghiên cứu:
- Đánh giá thực trạng hoạt động quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán
quốc tế tại GP Bank trong giai đoạn 2008 – 20010, qua đó đề xuất một số giải pháp
nhằm tăng cường quản trị rủi ro trong thanh toán quốc tế tại GP Bank trong những
năm tiếp theo.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro trong
thanh toán quốc tế đồng thời luận giải sự cần thiết phải tăng cường quản trị rủi ro
trong thanh toán quốc tế ở các ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Tập trung phân tích thực trạng rủi ro và công tác quản trị rủi ro trong thanh
toán xuất khẩu theo các phương thức TDCT tại GP Bank trong giai đoạn từ năm
2007 đến năm 2009
- Đề xuất định hướng và các giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro nhằm
hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán xuất khẩu GP Bank. Đồng thời đề xuất
một số kiến nghị đối với Chính phủ và các bộ ngành có liên quan, với Ngân hàng
nhà nước Việt Nam và với GP Bank
 - Phạm vi nghiên cứu: Các rủi ro phân tích là các rủi ro đối với nhà kinh
doanh xuất khẩu phát sinh

1.1.1.2. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế.
Công tác thanh toán là khâu cuối cùng của một quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hoá. Thanh toán làm được tốt thì giá trị hàng hoá mới được thực hiện. Công
tác Thanh toán quốc tế được hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển ngoại
thương của một nước và ngân hàng thương mại được nhà nước giao cho độc quyền
làm công tác này. Đến nay, thanh toán quốc tế đã trở thành một trong những chức
năng quan trọng nhất của các Ngân hàng thương mại. Nếu được làm tốt, nó sẽ góp
phần thúc đẩy ngoại thương phát triển, ngược lại sẽ làm kìm hãm sự phát triển của
thương mại quốc tế.
Vai trò của thanh toán quốc tế được thể hiện cụ thể như sau:
a) Đối với nền kinh tế quốc dân.
Somvang Keobounhueng – TCQT K49
Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
- TTQT góp phần thúc đẩy, mở rộng và phát triển các hoạt động thương mại
quốc tế, từ đó thúc đẩy nền kinh tế của một quốc gia nhanh chóng hoà nhập vào
nền kinh tế thế giới.
- TTQT được thực hiện tốt sẽ tạo được uy tín trên thị trường quốc tế, từ đó thu
hút được nhiều khách hàng nước ngoài, tăng lượng ngoại tệ nhằm cải thiện cán cân
thanh toán quốc tế; đồng thời thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế
trong nước.
- Việc TTQT được tiến hành nhanh chóng, an toàn, chính xác sẽ tạo được sự
tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch, mua bán với đối tác nước ngoài,
đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, từ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại
phát triển mạnh.
- Bảo vệ quyền lợi, thực hiện bảo lãnh… cho khách hàng trong giao dịch
thanh toán hàng nhập khẩu, thanh toán L/C, chiết khấu chứng từ xuất khẩu… với
đối tác nước ngoài.
b) Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- TTQT là nghiệp vụ đòi hỏi cao về chuyên môn, ngoại ngữ…, từ đó tạo niềm
tin cho khách hàng và nâng cao uy tín của ngân hàng, đồng thời tạo điều kiện thu

- Luật dân sự.
- Luật thương mại.
- Pháp lệnh ngoại hối.
- Luật các công cụ chuyển nhượng.
• Thông lệ và tập quán quốc tế:
- UCP: Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng.
- URR: Quy tắc thống nhất về hoàn trả liên ngân hàng theo tín dụng chứng
từ.
- URC: Quy tắc thống nhất về nghiệp vụ Nhờ thu.
- ISP: Thực hành tín dụng dự phòng quốc tế.
- Điều khoản thương mại quốc tế (Incoterms)
Thứ tự áp dụng Luật trong tranh chấp quốc tế: Luật và công ước quốc tế -> Luật
quốc gia -> Thông lệ và tập quán quốc tế
1.1.2. Các phương thức thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại.
Đây là một trong những điều kiện quan trọng nhất của hợp đồng thanh toán
quốc tế. Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả
tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người nhập khẩu và người
xuất khẩu.
Tuỳ theo từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, các bên đối tác trong quan hệ
thương mại quốc tế sẽ lựa chọn và thoả thuận với nhau cùng sử dụng một phương
thức thanh toán thích hợp trên nguyên tắc cùng có lợi.
Trong thương mại quốc tế, có 4 phương thức thanh toán chủ yếu sau:
a) Thanh toán bằng phương thức chuyển tiền.
* Khái niệm: Thanh toán bằng chuyển tiền là phương thức thanh toán trong
đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền
nhất định cho một người khác (người thụ hưởng) ở một địa điểm nhất định bằng
phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu.
Somvang Keobounhueng – TCQT K49
Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
* Các bên tham gia thanh toán:

Người yêu cầu
chuyển tiền
( Người mua)
Người thụ
hưởng
(Người bán)
Ngân hàng
nhận chuyển
tiền
Ngân hàng
trả tiền
(1)
(2)
(3)
(4)
Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
- Bước 4: Ngân hàng đại lý nhận được điện chuyển tiền thì tiến hành thanh
toán tiền cho người thụ hưởng; đồng thời báo Có cho khách hàng.
b) Thanh toán bằng phương thức mở tài khoản.
* Khái niệm: Thanh toán bằng mở tài khoản là phương thức mà người bán xin
mở tài khoản (hoặc sổ) để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành việc
giao hàng hoặc cung ứng xong dịch vụ, định kỳ sau khi kiểm tra, đối chiếu theo
thoả thuận giữa 2 bên (tháng, quý, niên) thì người mua trả tiền cho người bán.
* Đặc điểm của phương thức mở tài khoản:
- Đây là một phương thức thanh toán không có sự tham gia của các ngân hàng
với chức năng là người mở tài khoản và thực thi thanh toán.
- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên.
- Nếu người mua mở tài khoản để ghi thì tài khoản này chỉ là tài khoản theo
dõi, không có giá trị thanh quyết toán.
- Chỉ có 2 bên tham gia thanh toán là người mua và người bán.

* Các bên tham gia thanh toán:
- Người có yêu cầu uỷ nhiệm thu: là người cung ứng dịch vụ (gọi là bên bán).
- Ngân hàng nhận uỷ thác thu: là ngân hàng phục vụ bên bán.
- Ngân hàng xuất trình: là ngân hàng thu hộ, thường là ngân hàng đại lý hoặc
chi nhánh của ngân hàng nhận uỷ nhiệm thu (ở nước người mua).
- Người trả tiền: là người nhập khẩu, người sử dụng dịch vụ được cung ứng,
gọi chung là bên mua.
* Quy trình thanh toán:
Hình 1.3: Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu
Phương thức thanh toán nhờ thu được thực hiện:
- Bước 1: Bên bán tiến hành chuyển giao hàng hoá, đồng thời chuyển toàn bộ
chứng từ hàng hoá cho bên mua.
- Bước 2: Bên bán lập hối phiếu đòi tiền người mua, gửi hối phiếu (nếu nhờ
thu trơn) hoặc hối phiếu kèm bộ chứng từ (nếu nhờ thu kèm chứng từ) cho ngân
hàng phục vụ mình thu tiền từ người mua.
- Bước 3: Ngân hàng phục vụ bên bán chuyển hối phiếu qua ngân hàng phục
vụ bên mua nhờ thu tiền từ người mua.
Somvang Keobounhueng – TCQT K49
(1)
Người mua Người bán
NH xuất trình
NH thu hộ
NH nhận uỷ
thác thu
(3)
(6)
(2) (7)(4)(5)
Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
- Bước 4: Ngân hàng phục vụ bên mua chuyển hối phiếu hoặc hối phiếu kèm
chứng từ cho người mua để đòi tiền người mua hoặc yêu cầu ký chấp nhận hối

ngân hàng (Ngân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và chỉ thị của khách
hàng (người yêu cầu phát hành thư tín dụng) nhân danh chính mình:
- Phải thực hiện việc trả tiền theo lệnh của người thứ ba (người thụ hưởng)
hoặc phải chấp nhận và trả tiền hối phiếu do người thụ hưởng phát hành.
Somvang Keobounhueng – TCQT K49
Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
- Hoặc: Uỷ quyền cho ngân hàng khác thực hiện việc trả tiền như vậy, hoặc
chấp nhận trả tiền hối phiếu đó.
- Hay: Uỷ quyền cho ngân hàng khác chiết khấu, dựa vào những chứng từ đã
được quy định, đảm bảo rằng các điều kiện và điều khoản của tín dụng phải phù
hợp.
Nói một cách khác, "Thanh toán bằng thư tín dụng là một sự thoả thuận,
trong đó một Ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách
hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho người khác
(người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này
ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ
chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng".
1.2.1.2. Đặc điểm của phương thức tín dụng chứng từ.
a) Phương thức TDCT được thực hiện theo UCP 600.
Trong thanh toán quốc tế nói chung, hình thức thanh toán bằng L/C được sử
dụng phổ biến và an toàn nhất. Tuy nhiên, thực tiễn thương mại quốc tế cho thấy
việc áp dụng phương thức TDCT tại các quốc gia khác nhau cũng có sự khác biệt.
Chính vì thế, bản "Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ" ấn bản số
500 năm 1993 (gọi tắt là UCP 500) và ấn bản số 600 năm 2005 ( gọi tắt là
UCP600) do Phòng thương mại quốc tế (ICC) nghiên cứu, soạn thảo và sửa đổi, có
những chỉ dẫn cụ thể chi tiết về nội dung giao dịch của phương thức này. Tư tưởng
cơ bản của UCP 500 và UCP 600 là:
- Ngân hàng và các bên tham gia liên quan chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ,
không dựa trên hàng hoá hoặc dịch vụ.
- L/C phải chỉ rõ là huỷ ngang hay không huỷ ngang, nếu không chỉ ra như

là việc chi trả của ngân hàng có liên quan mật thiết với việc thể hiện chứng từ mà
không xét đến thực trạng của hàng hoá. Nguyên tắc này được quy định trong Điều
4 của UCP 600: "Các nguyên tắc và cách sử dụng thích hợp liên quan tới tín dụng
thư kèm chứng từ".
Nhưng dù được thực hiện dưới hình thức nào, có những chủ thể nào tham gia
hay bản chất của nó là gì thì một yếu tố không thể không nhắc đến trong phương
thức này là thư tín dụng. Đây chính là xương sống cho việc xác lập cũng như thực
hiện thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ.
1.2.2. Thư tín dụng chứng từ (Letter of Credit - L/C).
1.2.2.1. Khái niệm thư tín dụng.
Thư tín dụng (L/C) là một cam kết thanh toán của ngân hàng cho người xuất
khẩu nếu như họ xuất trình được một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều
khoản và điều kiện của L/C.
Thư tín dụng có tính chất quan trọng, nó được hình thành trên cơ sở của hợp
đồng ngoại thương, nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp
đồng này. Tính chất độc lập của thư tín dụng được thể hiện ở chỗ nghĩa vụ của
ngân hàng đối với người hưởng lợi ( nhà xuất khẩu) hoàn toàn không phụ thuộc vào
mối quan hệ giữa người mua và người bán. Khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng
từ phù hợp về mặt hình thức với những nội dung của L/C đã được mở, ngân hàng
phát hành L/C phải trả tiền vô điều kiện cho nhà xuất khẩu mà không phụ thuộc
vào thực trạng của hàng hoá. Nếu thực trạng của hàng hoá không khớp với chứng
từ thì hai bên mua bán phải trực tiếp giải quyết với nhau. Trong trường hợp người
Somvang Keobounhueng – TCQT K49
Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
mua từ chối thanh toán tiền cho ngân hàng thì ngân hàng vẫn phải hoàn thành nghĩa
vụ trả tiền cho người bán, thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản đã được quy
định trong L/C.
Đặc trưng này cũng thể hiện nghĩa vụ của ngân hàng không thay đổi. Khi hợp
đồng ngoại thương thay đổi mà không sửa đổi thư tín dụng thì ngân hàng vẫn căn
cứ vào thư tín dụng để thanh toán mà không cần biết đến sự thay đổi của hợp đồng.

Somvang Keobounhueng – TCQT K49
Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
- Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng: là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam
kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu người này xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn
đó và phù hợp với những quy định trong L/C. Thời hạn này được tính từ ngày mở
L/C đến hết ngày hiệu lực của L/C. Việc xác định thời hạn hiệu lực của L/C cần
thoả mãn các nguyên tắc:
Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực và không được trùng với
ngày hết hạn hiệu lực của L/C.
Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý, không
trùng với ngày giao hàng, nhằm đảm bảo thông báo L/C, lưu L/C tại Ngân hàng,
chuẩn bị hàng để giao…
Ngày hết hạn hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp
lý nhằm đảm bảo thời gian lập bộ chứng từ, luân chuyển chứng từ, lưu chứng từ tại
ngân hàng…
- Thời hạn trả tiền của L/C: là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền về sau, tuỳ
thuộc theo quy định trong hợp đồng. Nếu thực hiện đòi tiền bằng hối phiếu thì thời
hạn trả tiền được quy định ở yêu cầu ký phát hối phiếu.
- Thời hạn giao hàng: Được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán quy định.
Thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C.
Somvang Keobounhueng – TCQT K49
Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
* Những nội dung về hàng hoá.
Bao gồm tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì,
mã ký hiệu…
* Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá.
Bao gồm điều kiện cơ sở giao hàng (FOB, CIF, CFR), nơi gửi, nơi giao hàng,
cách vận chuyển, cách giao hàng…
* Những chứng từ người xuất khẩu phải xuất trình.
Được coi là nội dung then chốt trong thư tín dụng, bộ chứng từ quy định

Là loại L/C có thể bị sửa đổi hoặc huỷ bỏ mà không cần thông báo cho người
hưởng lợi. Nó chứa đựng những rủi ro đối với người bán vì việc sửa đổi hay huỷ
thư tín dụng có thể xảy ra khi hàng hoá đang trên đường vận chuyển hoặc trước khi
việc thanh toán được thực hiện. Thư tín dụng huỷ ngang tạo cho người mua sự chủ
động tối đa vì nó có thể được sửa đổi hoặc huỷ bỏ mà không cần thông báo cho
người bán.
Thư tín dụng huỷ ngang chỉ được sử dụng trong các trường hợp:
- Việc giao hàng được thực hiện giữa công ty mẹ và công ty con.
- Giữa người mua và người bán có quan hệ tín dụng rất tốt.
* L/C không thể huỷ ngang.
Là loại L/C sau khi đã được Ngân hàng mở thì không thể sửa đổi, bổ sung hay
huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó nếu chưa có sự thoả thuận của các bên tham
gia. Như vậy, nếu không có sự nhất trí của bên bán, của Ngân hàng xác nhận thì
Ngân hàng mở L/C không được phép thực hiện theo yêu cầu của bên mua, do đó
quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn.
L/C không thể huỷ ngang tuy ít linh hoạt nhưng an toàn và cân bằng được
quyền lợi của các bên tham gia nên nó đựoc sử dụng rộng rãi trong thương mại
quốc tế ngày nay.
* L/C có điều khoản đỏ.
Là loại L/C đặc biệt, trong đó có một điều khoản ghi rõ Ngân hàng phát hành
sẽ chuyển tiền hoặc uỷ quyền cho Ngân hàng thông báo (hay Ngân hàng xác nhận,
Ngân hàng chiết khấu) để thực hiện ứng trước cho người hưởng lợi một số tiền nhất
định, thông thường tính theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị L/C. Người hưởng lợi
phải xuất trình chứng từ tại Ngân hàng mà họ đã nhận tiền ứng trước và phải bồi
hoàn lại số tiền này nếu không xuất trình đủ chứng từ hợp lệ trong thời hạn quy
định. Số tiền ứng trước được thực hiện theo yêu cầu của người mở L/C.
Rủi ro trong thanh toán L/C có điều khoản đỏ là tiền ứng trước có thể bị sử
dụng không đúng mục đích, chứng từ do nhà xuất khẩu trình có thể không phù hợp
hoặc người xuất khẩu không hoàn thành được việc sản xuất hàng hoá mà cũng
không hoàn lại được tiền ứng trước cho Ngân hàng.

năm. Để giảm bớt rủi ro cho mình, Ngân hàng phát hành nên chỉ định L/C tuần
hoàn hạn chế hoặc không tự động hơn là tuần hoàn tự động.
* L/C chuyển nhượng.
Là một L/C mà người hưởng đầu tiên có thể chuyển nhượng toàn bộ hoặc một
phần giá trị L/C cho một hoặc nhiều người hưởng lợi thứ hai. Trong L/C chuyển
nhượng, người hưởng lợi thứ nhất không tự động cung cấp được hàng hoá, mà chỉ
là trung gian môi giới giữa người cung cấp hàng hoá và người mua cuối cùng. L/C
này cũng chỉ đuợc chuyển nhượng một lần, có nghĩa là người hưởng lợi thứ hai
không được chuyển nhượng cho người hưởng lợi thứ ba.
Các bên tham gia trong phương thức L/C chuyển nhượng bao gồm:
Somvang Keobounhueng – TCQT K49
Chuyên dề thực tập tốt nghiệp
- Nhà nhập khẩu.
- Ngân hàng phát hành.
- Nhà xuất khẩu/ Người hưởng lợi thứ nhất.
- Ngân hàng thông báo/ chuyển nhượng (NH chấp nhận hoặc chiết khấu).
- Người cung cấp/ Người hưởng lợi thứ hai.
L/C chuyển nhượng thường được sử dụng khi người hưởng lợi thứ nhất là đại
lý cho nhà nhập khẩu, khi đó họ không cần phải giữ bí mật về người cung cấp hàng
hoá, còn trong trường hợp người hưởng lợi chỉ là người trung gian cung cấp hàng
hoá cho nhà nhập khẩu thì họ rất muốn giữ bí mật về người cung cấp.
Trong nghiệp vụ L/C chuyển nhượng thì người hưởng lợi thứ hai chịu nhiều
rủi ro hơn cả. Họ chỉ nhận được tiền khi người hưởng lợi thứ nhất được người mua
thanh toán. Vì vậy họ gánh chịu mọi rủi ro không những về người mua và Ngân
hàng phát hành, mà cả về người hưởng lợi thứ nhất và Ngân hàng chuyển nhượng.
* L/C giáp lưng.
Khi người hưởng nhận được một L/C (L/C gốc) không phải L/C chuyển
nhượng song không thể tự mình cung cấp hàng hoá, khi đó họ có thể thoả thuận với
Ngân hàng của mình phát hành một L/C thứ hai (L/C giáp lưng) với nội dung tương
tự cho người cung cấp hàng hoá.

được sử dụng để phòng ngừa phía đối tác vi phạm nghĩa vụ hoặc cam kết, gây hậu
quả xấu cho người hưởng, và việc thanh toán sẽ được thực hiện khi người hưởng
xuất trình được những bằng chứng nêu lên những điều kiện cam kết không được
tôn trọng.
Như vậy, thực chất L/C dự phòng giống như một thư bảo lãnh của Ngân hàng.
Riêng trong xuất nhập khẩu hàng hoá, thư tín dụng dự phòng là L/C mà trong đó
Ngân hàng mở cam kết với người hưởng lợi (nhà nhập khẩu) là sẽ thanh toán lại
cho họ trong trường hợp người xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng
theo L/C đã đề ra. Khoản tiền này bao gồm: tiền đặt cọc, tiền ứng trước, mọi khoản
chi phí liên quan đến việc mở một thư tín dụng thương mại, và những chi phí khác
cùng những thiệt hại mà người nhập khẩu phải gánh chịu do hậu quả của việc
không cung cấp được hàng hoá của người xuất khẩu.
* L/C xác nhận.
Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, được một Ngân hàng khác xác
nhận, điều đó có nghĩa là ngoài cam kết thanh toán của Ngân hàng phát hành còn
có thêm sự cam kết thanh toán của Ngân hàng xác nhận. Ngân hàng xác nhận có
thể là Ngân hàng thông báo hoặc là một Ngân hàng thứ ba tuỳ theo thoả thuận giữa
người mua, người bán và Ngân hàng phát hành. Trong thực tế, việc yêu cầu xác
nhận L/C không xuất phát từ mong muốn của người mở L/C mà xuất phát từ yêu
cầu của người hưởng khi họ nghi ngờ khả năng thanh toán và uy tín của Ngân hàng
phát hành, hoạc họ lo lắng về tình hình chính trị và khả năng an toàn của nước
người mua. Khi Ngân hàng xác nhận đã thanh toán cho người hưởng theo đúng quy
định của L/C, nó có quyền truy đòi lại số tiền đã thanh toán từ Ngân hàng phát
hành. Để đảm bảo an toàn, Ngân hàng xác nhận có thể yêu cầu Ngân hàng phát
hành ký quỹ theo tỷ lệ nhất định. Ngược lại, để đảm bảo quyền lợi của mình, Ngân
hàng phát hành sẽ thoả thuận với khách hàng để chọn Ngân hàng đại lý của mình ở
nước người xuất khẩu làm Ngân hàng xác nhận, tránh những rủi ro về vốn ký quỹ
tại Ngân hàng xác nhận.
Somvang Keobounhueng – TCQT K49


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status