Đề tài tìm hiểu thị trường và giá cả cà phê xuất khẩu của việt nam - Pdf 26

THỊ TRƯỜNG GIÁ CẢ
Đề tài: Tìm hiểu thị trường và giá cả cà phê xuất khẩu của Việt Nam
I. Đặt vấn đề:
1.Tính cấp thiết của đề tài
Tiềm lực kinh tế hay nguồn lực là một trong những nhân tố góp phần đưa đất
nước đến sự thành công trong công cuộc CNH - HĐH. Nguồn vốn để thực hiện
một phần là từ nguồn ngoại tệ thu về từ hoạt động xuất khẩu. Việt Nam đang trên
con đường CNH - HĐH đất nước, tuy vậy, nông nghiệp vẫn là ngành chiếm tỷ
trọng lớn trong cơ cấu kinh tế. Trong đó, cà phê là một loại nông sản được trồng
nhiều ở Việt Nam và đó cũng là một sản phẩm quan trọng trong cơ cấu các hoạt
động xuất khẩu có tầm chiến lược như: gạo, chè, cà phê và một số nông sản khác
( hạt điều, tiêu, hồi, ). Cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt
Nam sau gạo, một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước. Sự phát
triển của ngành cà phê đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh
tế. Nó mang lại kim nghạch xuất khẩu lớn, tạo vốn đầu tư, tạo công ăn việc làm và
thu nhập cho người lao động, góp phần vào quá trình phủ xanh đất trống, đồi trọc,
chuyển đổi tích cực cơ cấu cây trồng,
Nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất cây cà phê nhưng vẫn
chưa phải là một nước sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới. Vẫn còn tồn
tại nhiều vấn đề cần được giải quyết, chứa đựng những yếu tố kém bền vững chủ
yếu như là xuất khẩu cà phê nhân, cà phê chế biến và thương hiệu còn thấp, bản
thân giá trị của cà phê nhân xuất khẩu cũng rất thấp, càng xuất càng thiệt do không
chú trọng đến chất lượng và tính lâu dài của sản phẩm. Để đẩy mạnh ngành xuất
khẩu cà phê và để có những bước phát triển bền vững thì cần có những nhận định
đúng đắn và những biện pháp hợp lí. Từ những điều nêu trên, là lí do mà nhóm
chúng em chọn đề tài: “Tìm hiểu thị trường và giá cả cà phê xuất khẩu của Việt
Nam”. Từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy hoạt động cũng như
nâng cao hiệu quả xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong giai đoạn tới.
2.Mục tiêu nghiên cứu
2.1.Mục tiêu chung
Tìm hiểu thị trường và giá cả cà phê xuất khẩu của Việt Nam những năm gần

thu lớn cho ngân sách nhà nước.
5.1.2 Khái niệm giá cả.
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, đồng thời biểu hiện tổng hợp
các quan hệ kinh tế như cung-cầu hàng hóa, tích lũy và tiêu dùng trong nước, nước
ngoài,… Giá cả là quan hệ lợi ích kinh tế, là tiêu chuẩn để các doanh nghiệp lựa
chọn các mặt hàng kinh doanh.
5.1.3 Khái niệm thị trường
Thị trường là một khu vực hoặc một vị trí (cả thực và ảo) nằm giữa người sản
xuất và người tiêu dùng và họ có sự giao tiếp với nhau, nơi mà điều kiện cung và
cầu hoạt động, làm cho hàng hóa được dịch chuyển tới vị trí yêu cầu.
5.1.4. Vai trò của hoạt động xuất khẩu.
a. Đối với một nền kinh tế : là phương tiện thúc đẩy phát triển kinh tế, mũi nhọn
quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế của một đất nước.
Xuất khẩu tạo nguồn vốn để nhập khẩu những máy móc thiết bị công nghệ tiên
tiến phục vụ công nghiệp hóa đất nước.
Xuất khẩu đóng góp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp
sang công nghiệp phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới,thúc đẩy
sản xuất phát triển.Là tất yếu đối với tất cả các nước đang phát triển,tạo điều kiện
cho các ngành cùng có cơ hội phát triển,tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm,ổn định sản xuất,là phương tiện tạo ra vốn và thu hút đầu tư,làm tăng dự
trữ ngoại tệ quốc gia.
Xuất khẩu tác động tích cực đến vấn đề giải quyết công ăn việc làm và cải thiện
đời sống nhân dân.Sản xuất hàng hóa xuất khẩu sẽ thu hút hàng triệu lao động làm
việc,tạo ngoại tệ nhập khẩu vật phẩm đáp ứng nhu cầu của nhân dân.
Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại trên cơ sở lợi ích các bên,gắn liền sản xuất
trong nước và quá trình phân công lao động quốc tế.
b.Đối với doanh nghiệp :
Có cơ hội tham gia và tiếp cận vào thị trường thế giới,tăng khả năng mở rộng thị
trường và khả năng sản xuất của mình.
=> Nước ta muốn phát triển phải tăng cường hoạt động xuất khẩu nói chung và

Nam Bộ, với diện tích hàng triệu ha. Đặc biệt ở Buôn Mê Thuột có loại đất mà các
nhà thám hiểm như Yersin, giám mục Cassaigne đều nhận định là loại đất tốt nhất
thế giới, rất thích hợp cho việc trồng cây cà phê. Như vậy cây cà phê cần hai yếu tố
cơ bản là nước và đất thì cả hai yếu tố này đều có ở Việt Nam. Điều này tạo cho
Việt Nam lợi thế mà các nước khác không có được.
Về lao động: nước ta có nguồn lao động dồi dào, đặc biệt là ở nông thôn và các
tỉnh trung du. Giá nhân công rẻ khiến giá thành sản phẩm thấp, tăng sức cạnh tranh
cho mặt hàng cà phê Việt Nam.
Về kĩ thuật, công nghệ: so với một số loại cây trồng khác, kỹ thuật trồng cũng
như chăm sóc cây cà phê và chế biến sản phẩm khá đơn giản. Các hộ gia đình trực
tiếp trồng, chăm sóc, thu hoạch và sơ chế sản phẩm. Các đơn vị dịch vụ kỹ thuật và
xuất nhập khẩu đóng vai trò cung ứng vật tư kỹ thuật cho người sản xuất và người
thu mua, tái chế sản phẩm thành mặt hàng xuất khẩu.
1.2.Các giống cà phê chủ yếu của Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam có 3 loại giống cà phê chủ yếu là:
A, Robusta: loại cây trồng này rất thích hợp với khí hậu thổ nhưỡng tại vùng
Tây Nguyên, nhất là vùng đất bazan(Gia Lai, Đắc Lắc)-hàng năm đạt 90-95% tổng
sản lượng cà phê Việt Nam, mùi thơm nồng, không chua, độ cafein cao, thích hợp
với khẩu vị người Việt nhưng quá đậm đặc với người nước ngoài. Trồng cà phê
Robusta phải thâm canh mới đạt được năng suất cao vì trái đậu trên cành một lần,
phải tạo cành mới(cành thứ cấp 1,2,3 ), để đạt được yếu tố này,người nông dân
phải có vốn, kiến thức cơ bản. Thường thì mới năm thứ 2-thời kì kiến thiết cơ bản,
người trồng đã thu hoạch, không hãm ngọn sớm nên đến năm thứ nhất kinh
doanh(năm thứ 3 của cây trồng) cây đã yếu, có hình tán dù, thiếu cành thứ cấp.
Barabica: loại này có 2 loại đang trồng tại Việt Nam
1,Moka: mùi thơm quyến rũ, ngào ngạt, vị nhẹ nhưng sản lượng rất thấp, giá
trong nước không cao vì không xuất khẩu được trong khi giá sản xuất rất cao, gấp
2-3 lần Robusta, vì vậy nên người nông dân ít trồng loại cà phê này.
2)Catimor: mùi thơm nồng nàn, hơi có vị chua, giá xuất gấp 2 lần Robusta,
nhưng không thích hợp với khí hậu vùng đất Tây Nguyên, vì trái chín trong mùa

Lâm Đồng 145.735 151.565 135.000
Đak Nông 116.350 122.278 69.000
Gia Lai 77.627 77.627 73.000
Đồng Nai 20.000 20.000 13.000
Bình Phước 14.938 14.938 8.000
Kontum 12.158 12.158 12.500
Quảng Trị 5.050 5.050 5.000
Sơn La 6.371 6.371 5.000
Bà Rịa Vũng Tàu 7.071 7.071 5.000
Điện Biên 3.385 3.385 4.500
Các khu vực khác 5.700 5.700 n/a
Tổng 616.407 633.295 500.000
Nguồn: Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT các tỉnh, Doanh nghiệp xuất khẩu cà phê
Việt Nam
3. Tình hình xuất khẩu cà phê Việt Nam từ năm 2009 tới nay
3.2 Thị trường xuất khẩu cà phê việt Nam
Cà Phê Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Các nước nhập
khẩu chính Cà phê của Việt Nam: Đức, Mỹ, Tây Ban Nha, Ý, Nhật Bản, Bỉ, Hàn
Quốc, Pháp, Vương quốc Anh và Liên bang Nga. Thứ vàng đen này của Việt
Nam đã nhận được sự đón nhận của người tiêu dùng khắp năm châu.
* Niên vụ 2009-2010:
Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam năm 2009

Thị trường

Lượng (tấn)

Trị giá (USD)
Tổng cộng 1.183.523 1.730.602.417
XK của doanh nghiệp vốn

Dẫn đầu là Đức với khối lượng nhập khẩu đạt 136.248 tấn, trị giá hơn 201,768
triệu USD.Đứng thứ hai là Hoa Kỳ nhập khẩu 128.050 tấn, trị giá 196.674.152,
ngoài ra còn một số nước nhập khẩu với số lượng và kim ngạch lớn như: Bỉ, Italia,
Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hà Lan, Hàn Quốc, Anh,…
* Niên vụ 2010-2011 và 2011-2012:
1. Đức: Niên vụ 2011- 2012, với khối lượng nhập khẩu đạt 113.000 tấn, trị giá
231,3 triệu USD, tăng 53% về khối lượng và 53% về giá trị, Đức chính thức vượt
qua Mỹ để trở thành nước nhập khẩu cà phê thô lớn nhất của Việt Nam.
2. Mỹ: Nếu trong niên vụ 2010- 2011, Mỹ là thị trường nhập khẩu cà phê thô lớn
nhất của Việt Nam thì trong niên vụ 2011- 2012, Mỹ đã tụt xuống vị trí thứ hai
trong danh sách 10 thị trường nhập khẩu hàng đầu cà phê thô Việt Namvới khối
lượng đạt 95.000 tấn, trị giá 227,9 triệu USD.
3. Italia: Trong niên vụ 2011/2012, dù Italia là thị trường lớn thứ 3 trong top 10 thị
trường nhập khẩu cà phê thô Việt Nam, nhưng giá trị xuất khẩu sang thị trường
này lại không mấy sáng sủa khi chỉ đạt hơn 92 triệu USD, giảm 16% so với niên vụ
trước.
4. Tây Ban Nha: Tây Ban Nha là thị trường tiêu thụ lớn thứ tư cà phê thô của Việt
Nam. Niên vụ 2011/2012, Tây Ban Nha đã nhập khẩu 37.000 tấn cà phê thô, trị giá
75,4 triệu USD, giảm 12% về khối lượng và 7% về giá trị so với niên vụ
2010/2011.
5. Indonesia: Indonesia là thị trường nhập khẩu có mức tăng trưởng đáng chú ý
nhất của cà phê thô Việt Nam cả về khối lượng và giá trị trong niên vụ 2011- 2012,
tăng 750% về khối lượng (34.000 tấn) và 740% về giá trị (68,8 triệu USD).
6. Nhật Bản: Nhật Bản hiện là thị trường lớn thứ 6 về nhập khẩu cà phê thô Việt
Nam sau Đức, Mỹ, Italia, Tây Ban Nha và Indonesia. Xuất khẩu cà phê thô Việt
Nam sang Nhật Bản niên vụ 2011- 2012 đạt 330.000, trị giá 75,2 triệu USD, tăng
50% về khối lượng và 47% về giá trị.
7. Bỉ: Trong niên vụ 2011- 2012, kim ngạch xuất khẩu cà phê thô Việt Nam sang
Bỉ không mấy khả quan khi giảm 64% so với niên vụ 2010/2011, chỉ đạt 52,2 triệu
USD. Tuy nhiên, Bỉ vẫn là thị trường lớn thứ 7 trong top 10 thị trường nhập khẩu

n tấn)
Giá trị
(nghìn
USD)
Khối
lượng
(nghìn
tấn)
Giá trị
(nghìn
USD)
Khối
lượng
Giá trị
1 Đức 74 151.440 113 231.383 +53% +53%
2 Mỹ 97 208.803 95 227.977 -2% +9%
3 Italia 57 109.283 45 92.276 -21% -16%
4
Tây Ban
Nha
42 81.150 37 75.479 -12% -7%
5 Indonesia 4 7.954 34 68.846 +750% +740%
6 Nhật Bản 22 51.133 33 75.277 +50% +47%
7 Bỉ 74 143.267 25 52.221 -66% -64%
8 Algeria 13 24.643 21 40.602 +62% +65%
9 Mexico 7 12.280 18 35.101 +157% +186%
10
Vương
Quốc Anh
15 30.955 18 35.054 +20% +13%

% thay đổi của
niên vụ
2010/11 so với
niên vụ
2009/10

Khối
lượng
(nghìn
tấn)
Giá trị
(nghìn
USD)
Khối
lượng
(nghìn
tấn)
Giá trị
(nghìn
USD)
Khối
lượng
Giá trị
1 Hoa Kỳ 74 116.455 97 208.803 31% 79%
2 Đức 81 116.008 74 151.440 -9% 31%
3 Bỉ 25 34.428 74 143.267 196% 316%
4 Ý 34 47.265 57 109.283 68% 131%
5 Tây Ban Nha 34 46.077 42 81.150 24% 76%
6 Hà Lan 9 12.938 25 48.803 178% 277%
7 Nhật Bản 25 38.935 22 51.133 -12% 31%

phải chỉ về mặt kinh tế mà cả sinh thái, nhân văn, môi trường, diện mạo cho cây
cà phê Việt Nam để cây cà phê Việt Nam không chỉ nổi tiếng về năng suất
chất lượng với săn lượng đứng thứ hai thế giơi sau Braxin mà về năng suất
chất lượng với săn lượng đứng thứ hai người trên thế ưa chuộng thế giới
sau Braxin mà còn là sản phẩm hàng hoá được hàng triệu người trong cả nước,
hàng tỷ người trên thế ưa chuộng.
Một số thị trường tiềm năng
Thị trường Hàn quốc
Với mức tiêu thụ cà phê trung bình của mỗi người là 1kg/năm, Hàn Quốc trở
thành một trong những nước có nhu cầu sử dụng cà phê lớn tại khu vực châu Á
Thái Bình Dương và là một trong những thị trường cà phê hấp dẫn nhất thế giới.
Năm 2012, tiêu thụ cà phê bình quân trên đầu người của Hàn Quốc cao gấp năm
lần so với các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương với tổng lượng cà
phê được tiêu thụ đạt 3 triệu đô la Mỹ. Mặc dù kinh tế vẫn chưa có dấu hiệu hồi
phục sau khủng hoảng và những lo ngại của người dân về vấn đề sức khỏe ngày
càng tăng, nhưng ngành cà phê tại nước này vẫn tiếp tục đạt mức tăng trưởng 30%
liên tiếp trong bốn năm trở lại đây. Khi thế hệ trẻ đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi
văn hóa phương Tây và nhu cầu về sử dụng cà phê chất lượng cao tăng nhanh, thì
ngành cà phê lại càng có điều kiện phát triển trong thời gian tới.
Năm 2012, đã có khoảng 12,000 cửa hàng cà phê xuất hiện tại Hàn Quốc, tăng
20% kể từ năm 2008, trong đó nổi trội là Starbucks và Café Bene. Hầu hết các loại
cà phê rang nhập khẩu từ Hoa Kỳ đều được các thương hiệu cà phê mạnh của Mỹ
như Starbucks, Coffee Bean và Tea Leaf sử dụng. Bên cạnh các chuỗi cửa hàng
này, một số thương hiệu đồ ăn nhanh như McDonald’s và Lotteria cũng nhập khẩu
khá nhiều cà phê rang. Ngoài ra, với nhu cầu tiêu thụ của giới trẻ Hàn Quốc với
các loại cà phê chất lượng tốt đi kèm chất lượng dịch vụ hiện đại, thuận tiện đã tạo
đòn bẩy để cà phê trở thành thức uống phổ biến cũng như sự lan rộng của việc
nhượng quyền thương mại cà phê tại nước này.
Trong các sản phẩm cà phê nhập khẩu, Hàn Quốc chủ yếu nhập khẩu hạt cà phê
xanh từ Mỹ, Nhật Bản, Bra-xin. Việt Nam là nhà cung cấp số 1 cà phê rang cho

khẩu từ Việt Nam được sử dụng làm
nguyên liệu chế biến cho các sản phẩm cà
phê thương hiệu Hàn Quốc.
Việt Nam được biết đến là nước xuất
khẩu cà phê chất lượng cao
Nhìn chung, người tiêu dùng có xu
hướng uống các loại cà phê hòa tan giá rẻ
Cà phê là thức uống phổ biến Thị trường cà phê khá cạnh tranh
Thuế nhập khẩu thấp và miễn thuế tiêu
thụ đặc biệt
Xét về khía cạnh sức khỏe, cà phê là
loại thức uống không có lợi
Thị trường châu Phi
Bên cạnh mặt hàng gạo, cà phê cũng là hàng nông sản có nhiều triển vọng xuất
khẩu vào thị trường Châu Phi đặc biệt là các nước Hồi giáo khu vực Bắc Phi. Kim
ngạch xuất khẩu hai mặt hàng này đã không ngừng tăng trong những năm qua.
Cà phê đã trở thành đồ uống ngày càng được ưa chuộng của người dân Bắc Phi
Ả rập. Bên cạnh đó, tại những nước này, số lượng người nước ngoài, chủ yếu là
Châu Âu đến sinh sống và làm việc ngày một đông. Vì vậy, nhu cầu nhập khẩu
cà phê tăng mạnh, nhất là khi các nước trong khu vực không trồng được loại cây
này.
Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản của Việt Nam đã có mặt tại Châu
Phi, chủ yếu là các nước Bắc Phi từ nhiều năm nay. Năm 2012, kim ngạch xuất
khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường này đạt 122 triệu USD, tăng 38%. Các
thị trường nhập khẩu chính gồm có An-giê-ri (59 triệu USD), Tuy-ni-di (16 triệu
USD), Ai Cập (14,8 triệu USD), Ma-rốc (13,6 triệu USD), Libi (2 triệu USD).
Ngoài ra, Nam Phi cũng là thị trường tiêu thụ cà phê tương đối lớn với kim ngạch
nhập khẩu từ Việt Nam năm 2012 đạt 16 triệu USD. Trong 6 tháng đầu năm nay,
kim ngạch xuất khẩu cà phê sang Châu Phi đạt 47 triệu USD, trong đó thị trường
An-giê-ri chiếm 25,87 triệu USD, Tuy-ni-di 6,4 triệu USD, Nam Phi 4,9 triệu

tế (ITC) tổ chức Cuộc gặp giữa các ngân hàng Việt Nam và châu Phi tại Hà Nội để
bàn biện pháp tháo gỡ khó khăn trong khâu thanh toán xuất nhập khẩu giữa doanh
nghiệp hai bên.
3.1 sản lượng và kim ngạch
Bảng thể hiện sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam từ 2009-2013
Năm
Sản lượng
(triệu tấn)
Kim ngạch
(tỷ USD)
Thay đổi so với năm trước
(%)
Sản lượng Kim ngạch
2009 1,18 1,73
2010 1,17 1,763 -0,9 +1,9
2011 1,2 2,7 +2,6 +45,5
2012 1,73 3,67 +37,8 +33,4
2013 1,3 2,75 -24,8 -25,9
Năm 2009, sản phẩm cà phê Việt Nam xuất khẩu đạt 1,18 triệu tấn; 1,73 tỷ
USD.
Tính chung cả năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 1,17 triệu tấn cà phê
(giảm khoảng 0.9%). Dù không đạt được tăng trưởng về lượng nhưng được lợi về
giá đã giúp cà phê mang về kim ngạch đạt 1,763 tỷ USD, tăng 1,9% so với năm
2009. Giá xuất khẩu bình quân năm 2010 đạt 1462 USD/tấn.(vinanet-BCT)
Khối lượng xuất khẩu năm 2011 chỉ đạt 1,2 triệu tấn và giá trị là 2,7 tỷ USD,
xấp xỉ về lượng nhưng tăng tới 45,4% về giá trị so với năm 2010. Sự tăng trưởng
vượt bậc về giá trị xuất khẩu chủ yếu là do sự tăng nhanh về giá. (Theo báo cáo
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)
Xuất khẩu cà phê năm 2012 đạt 1.732.156 tấn, trị giá 3.672.823.086 USD, tăng
37,8% về lượng và tăng 33,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status