Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ai trong chúng ta cũng đều biết nước là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quí giá,
không có nước thì không thể có sự sống. Cách đây hàng trăm triệu năm, sự sống đầu
tiên, hạt coaxecva đã hình thành trên đại dương. Đối với con người, không một yếu tố
nào quan trọng hơn là nước. Chúng ta có thể khó khăn khổ sở do thiếu năng lượng,
vận tải, chỗ ở, thậm chí cả thức ăn… nhưng không thể tồn tại được nếu thiếu nước.
Chẳng thế mà nước lại chiếm trên 80% trọng lượng cơ thể. Trên bề mặt địa cầu nước
chiếm 75% diện tích, với một lượng khổng lồ khoảng 1,4 tỉ km
3
(1 400 triệu tỉ m
3
),
tưởng có thể đủ cho con người trên thế giới dùng mãi mãi, nhưng cùng với sự phát
triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật từ thời kỳ Công nghiệp cho tới nay là mặt trái
của nó với vô số những hậu quả, trong đó ô nhiễm nước đang là một vấn đề thời sự,
một thực trạng đáng lo ngại nhất, vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của sự hủy hoại
môi trường tự nhiên, hủy hoại con người. Khủng hoảng về nước đang diễn biến hết
sức phức tạp trên cả hành tinh chúng ta, ở Việt Nam và đặc biệt là các thành phố lớn
như thành phố Hồ Chí Minh. Những hoạt động phát triển kinh tế một cách ồ ạt và chưa
đồng bộ đã dẫn đến nguồn nước đang bị suy thoái nặng nề. Từ thực trang trên tôi thấy
việc tìm hiểu về ô nhiễm nước, về thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của nó thực sự
cần thiết để từ đó có thể đề ra những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu tiến tới giải
quyết triệt để vấn đề này. Đó là lí do tôi chọn đề tài “ Vấn đề ô nhiễm môi trường
nước tại thành phố Hồ Chí Minh”
1
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
2. Mục đích nghiên cứu.
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước tại các con sông và kênh rạch trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
đồng ruộng lúa nước là những nơi thường có mức độ ô nhiễm cao. Nguồn gây ra ô
nhiễm nước mặt là các khu dân cư tập trung, các hoạt động công nghiệp, giao thông
thuỷ và sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước bị ô nhiễm có các dấu hiêu đặc trưng sau:
Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và các cặn lắng chìm xuống đáy
nguồn.
• Thay đổi tính chất lý học (độ trong, màu, mùi, nhiệt độ,…)
• Thay đổi thành phần hoá học (pH, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ, xuất
hiện các chất độc hại,…)
• Lượng oxy hoà tan (DO) trong nước giảm do các quá trình sinh hoá để oxy
hoá các chất bẩn hữu cơ vừa mới thải vào.
• Các vi sinh vật thay đổi về loài và số lượng. Có xuất hiện các vi trùng gây
bệnh.
3. Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước
Có rất nhiều nguyên nhân gây ô nhiễm nước nhưng có thể khái quát ở 2 nội dung
lớn: ô nhiễm do tự nhiên và ô nhiễm do nhân tạo.
3.1. Ô nhiễm do tự nhiên
Sự ô nhiễm nước do tự nhiên có thể do các quá trình vận động của vỏ quả đất
hay các thiên tai: núi lửa phun, động đất, sóng thần,… gây ra, có thể do các sự cố tràn
dầu tự nhiên ngoài biển, do sự phân hủy một lượng lớn xác động, thực vật chết. Tuy
3
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
nhiên tất cả những nguyên nhân đó đều được điều hòa bởi các quy luật tự nhiên và
không gây ảnh hưởng quá lớn.
3.2. Ô nhiễm do nhân tạo
- Ô nhiễm do Công nghiệp: ngày càng tăng lên cùng sự phát triển của khoa học kĩ
thuật. Nền công nghiệp hiện đại với đa dạng ngành nghề, từ luyện kim, cơ khí, hóa
chất của công nghiệp nặng đến sản xuất đồ may mặc, hàng tiêu dùng,… đã xả ra môi
trường đủ các hợp chất từ hữu cơ, vô cơ, các kim loại nặng, hợp chất của phenol, …
vào môi trường nước chưa kể đến những rủi ro trong quá trình hoạt động. Như asen,
2
, NO
2
,… làm ô nhiễm nguồn không khí, kết hợp với hơi nước bốc lên gây mưa
axit, làm giảm độ pH của nước sông hồ, làm chết các loài thủy sinh. Nhiều chất độc
hại và bụi kim loại nặng cũng được không khí mang ra biển. Sự gia tăng nhiệt độ của
khí quyển trái đất do hiệu ứng nhà kính sẽ kéo theo sự dâng cao mực nước biển và
thay đổi môi trường sinh thái biển.
+ Do các hoạt động quốc phòng, chiến tranh: Một lượng lớn các chất thải phóng xạ
của các quốc gia trên thế giới được bí mật đổ ra biển. Riêng Mỹ năm 1961 có 4.087 và
1962 có 6.120 thùng phóng xạ được đổ chôn xuống biển. Việc nhấn chìm các loại đạn
dược, bom mìn, nhiên liệu tên lửa của Mỹ đã được tiến hành từ hơn 50 năm nay.
Riêng năm 1963 có 40.000 tấn thuốc nổ và dụng cụ chiến tranh được hải quân Mỹ đổ
ra biển.
+ Do công tác đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản ven bờ:
4. Hậu quả của ô nhiễm nguồn nước
Nước – Những con số thống kê
Mỗi năm có khoảng 3.575 triệu người chết do các bệnh liên quan đến nước:
Trong đó:
* 43% số ca chết do tiêu chảy
5
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
* 84% số người chết là trẻ em (từ 0-14 tuổi)
* 98% số ca chết tập trung ở các nước đang phát triển
“Số người chết do nước ô nhiễm và vệ sinh kém an toàn gây ra còn nhiều hơn số
người chết bởi súng đạn trong bất cứ một cuộc chiến tranh nào”
5. Phân loại ô nhiễm nước mặt
5.1. Ô nhiễm chất hữu cơ:
Đó là sự có mặt của các chất tiêu thụ ôxy trong nước. Các chỉ tiêu để đánh giá ô
nhiễm chất hữu cơ là: DO, BOD, COD
cũng có thể gây ra những tai hoạ cho con người và môi trường. Do vậy việc quản lý tài
nguyên nước đòi hỏi một hệ thống các văn bản trong bảo vệ và khai thác nguồn nước
nhằm tạo cơ sở pháp lý cho công tác này. Các biện pháp mang tính chất pháp lý, thiết
chế và hành chính này được áp dụng cho việc sử dụng và phân phối tài nguyên nước,
đảm bảo phát triển bền vững tài nguyên nước.
Hiện nay, việc phân cấp quản lý nhà nước về tài nguyên nước nằm ở 2 bộ là bộ
TN & MT và bộ NN & PTNT. Các văn bản mang tính pháp lý trong quản lý tài ngyên
nước đang có hiệu lực:
- Các văn bản mang tính Quốc gia:
Luật bảo vệ môi trường nước CHXHCN Việt Nam do Quốc hội thông qua ngày
29/11/2005 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/07/2006. Luật tài ngyên nước do Quốc
hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 20/05/1998.
Hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam-các tiêu chuẩn chất lượng nước sông, hồ (ban
hành 1995, sửa đổi năm 2001 và 2005).
Nghị định 80/ NĐ-CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc qui định chi tiết
hướng dẫn thi hành một số điều cả Luật Bảo vệ môi trường.
Nghị dịnh 81/ NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Thông tư 08/2006 TT-BTNMT ngày 08/09/2006 của Bộ tài nguyên và môi
trường hường dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và
cam kết bảo vệ môi trường.
Luật tài nguyên nước do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày
20/5/1998.
Nghị định của chính phủ số 175/1999/NĐ-CP quy định việc thi hành Luật tài
nguyên nước.
Kế hoạch phát triển tài nguyên nước đến năm 2000 và Dự kiến kế hoạch phát
triển tài nguyên nước đến năm 2020 (Bộ NN & PTNT, 06/1998).
7
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
Nghị định của Chính phủ số 149/2004/NĐ – CP ngày 27/07/2004 quy định cụ
đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt
- Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương do ô nhiễm nước cũng xảy ra ở bờ phía
đông, cũng như nhiều vùng khác. Vùng Ðại Hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie,
Ontario ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng.
- Ở ngay tại Trung Quốc, hàng năm lượng chất thải và nước thải công nghiệp
thải ra ở các thành phố và thị trấn của Trung Quốc tăng từ 23,9 tỷ m
3
trong năm 1980
lên 73,1 tỷ m
3
trong năm 2006. Một lượng lớn nước thải chưa qua xử lí vẫn được thải
vào các sông. Hậu quả là, hầu hết nước ở các sông, hồ ngày càng trở nên ô nhiễm. Dựa
trên việc đánh giá 140.000 km sông dọc đất nước Trung Quốc trong năm 2006, chất
lượng nước của 41,7% chiều dài sông xếp ở loại 4 hoặc thậm chí thấp hơn và 21,8%
dưới loại 5.
7.2. Ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam
Nước ta có nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp và các
đô thị chưa đông lắm nhưng tình trạng ô nhiễm nước đã xảy ra ở nhiều nơi với các
mức độ nghiêm trọng khác nhau.
9
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
+ Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, dùng để tưới lúa và hoa màu,
chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng. Việc sử dụng nông dược và
phân bón hoá học càng góp thêm phần ô nhiễm môi trường nông thôn.
+ Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước quan trọng, mỗi ngành có một loại
nước thải khác nhau. Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến Sông Cầu thành
màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục cây số. Khu công nghiệp Việt Trì
xả mỗi ngày hàng ngàn mét khối nước thải của nhà máy hoá chất, thuốc trừ sâu, giấy,
dệt… xuống Sông Hồng làm nước bị nhiễm bẩn đáng kể. Khu công nghiệp Biên Hoà
và TP.HCM tạo ra nguồn nước thải công nghiệp và sinh hoạt rất lớn, làm nhiễm bẩn
- Vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện Củ
Chi, đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trung
bình 10-25 m và xen kẽ có những đồi gò độ cao cao nhất tới 32m, như đồi Long Bình
(quận 9).
- Vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các quận 9,
8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ). Vùng này có độ cao trung bình trên
dưới 1m và cao nhất 2m, thấp nhất 0,5m.
- Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội thành
cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn. Vùng này có
độ cao trung bình 5-10m.
Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá đa
dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt.
11
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
1.1.3. Khí hậu và thời tiết
- Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Cũng như
các tỉnh ở Nam bộ, đặc điểm chung của khí hậu-thời tiết TPHCM là nhiệt độ cao đều
trong năm và có hai mùa mưa - khô rõ ràng làm tác động chi phối môi trường cảnh
quan sâu sắc. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm
sau. Theo tài liệu quan trắc nhiều năm của trạm Tân Sơn Nhất, qua các yếu tố khí
tượng chủ yếu; cho thấy những đặc trưng khí hậu Thành Phố Hồ Chí Minh như sau:
- Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm2/năm. Số giờ nắng trung
bình/tháng 160-270 giờ. Nhiệt độ không khí trung bình 270C. Nhiệt độ cao tuyệt đối
400C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13,80C. Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4
(28,80C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1
(25,70C). Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình 25-280C. Ðiều kiện
nhiệt độ và ánh sáng thuận lợi cho sự phát triển các chủng loại cây trồng và vật nuôi
đạt năng suất sinh học cao; đồng thời đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ chứa
trong các chất thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường đô thị
- Lượng mưa cao, bình quân/năm 1.949 mm. Năm cao nhất 2.718 mm (1908) và năm
qua quá trình xói mòn và rữa trôi , trầm tích phù sa cổ đã phát triển thành nhóm đất
mang những đặc trưng riêng. Nhóm đất xám, với qui mô hơn 45.000 ha, tức chiếm tỷ
lệ 23,4% diện tích đất thành phố.
- Ở thành phố Hồ Chí Minh, đất xám có ba loại: đất xám cao, có nơi bị bạc màu; đất
xám có tầng loang lổ đỏ vàng và đất xám gley; trong đó, hai loại đầu chiếm phần lớn
diện tích. Ð?t xám nói chung có thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha đến thịt nhẹ,
khả năng giữ nước kém; mực nước ngầm tùy nơi và tùy mùa biến động sâu từ 1-2m
đến 15m. Ðất chua, độ pH khoảng 4,0-5,0. Ðất xám tuy nghèo dinh dưỡng, nhưng đất
có tầng dày, nên thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng nông lâm nghiệp,
có khả năng cho năng suất và hiệu qủa kinh tế cao, nếu áp dụng biện pháp luân canh,
thâm canh tốt. Nền đất xám, phù hợp đối với sử dụng bố trí các công trình xây dựng cơ
bản.
- Trầm tích Holoxen (trầm tích phù sa trẻ): tại thành phố Hồ Chí Minh, trầm tích này
có nhiều nguồn gốc-ven biển, vũng vịnh, sông biển, aluvi lòng sông và bãi bồi nên
đã hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa có diện tích 15.100 ha
(7,8%), nhóm đất phèn 40.800 ha (21,2%) và đất phèn mặn (45.500 ha (23,6). Ngoài ra
có một diện tích nhỏ khoảng hơn 400 ha (0,2%) là "giồng" cát gần biển và đất feralite
vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò.
1.1.5. Nguồn nước và thủy văn
Về nguồn nước, Tp Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất phát triển.
13
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
- Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Langbiang (Ðà Lạt) và hợp lưu bởi nhiều
sông khác, như sông La Ngà, sông Bé, nên có lưu vực lớn, khoảng 45.000 km2. Nó có
lưu lượng bình quân 20-500 m3/s và lưu lượng cao nhất trong mùa lũ lên tới 10.000
m3/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m3 nước và là nguồn nước ngọt chính của thành phố
Hồ Chí Minh. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến
thành phố với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Hệ
thống các chi lưu của sông Sài Gòn rất nhiều và có lưu lượng trung bình vào khoảng
54 m3/s.
động triều bán nhật của biển Ðông. Mỗi ngày, nước lên xuống hai lần, theo đó thủy
triều thâm nhập sâu vào các kênh rạch trong thành phố, gây nên tác động không nhỏ
đối với sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành.
- Mực nước triều bình quân cao nhất là 1,10m. Tháng có mực nước cao nhất là tháng
10-11, thấp nhất là các tháng 6-7. Về mùa khô, lưu lượng của nguồn các sông nhỏ, độ
mặn 4% có thể xâm nhập trên sông Sài Gòn đến quá Lái Thiêu, có năm đến đến tận
Thủ Dầu Một và trên sông Ðồng Nai đến Long Ðại. Mùa mưa lưu lượng của nguồn
lớn, nên mặn bị đẩy lùi ra xa hơn và độ mặn bị pha loãng đi nhiều.
- Từ khi có các công trình thủy điện Trị An và thủy lợi Dầu Tiếng ở thượng nguồn,
chế độ chảy tự nhiên chuyển sang chế độ chảy điều tiết qua tuốt bin, đập tràn và cống
đóng-xả, nên môi trường vùng hạ du từ Bắc Nhà Bè trở nên chịu ảnh hưởng của
nguồn, nói chung đã được cải thiện theo chiều hướng ngọt hóa. Dòng chảy vào mùa
kiệt tăng lên, đặc biệt trong các tháng từ tháng 2 đến tháng 5 tăng 3-6 lần so với tự
nhiên.
- Vào mùa mưa, lượng nước được điều tiết giữ lại trên hồ, làm giảm thiểu khả năng
úng lụt đối với những vùng trũng thấp; nhưng ngược lại, nước mặn lại xâm nhập vào
sâu hơn. Tuy nhiên, nhìn chung, đã mở rộng được diện tích cây trồng bằng việc tăng
vụ mùa canh tác. Ngoài ra, việc phát triển các hệ thống kênh mương, đã có tác dụng
nâng cao mực nước ngầm trên tầng mặt lên 2-3m, tăng thêm nguồn cung cấp nước
phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của thành phố.
1.1.6. Thảm thực vật
- Trên cơ sở các yếu tố cơ bản của điều kiện tự nhiên ở thành phố Hồ Chí Minh, như
đã trình bày; người ta đã khái quát hóa thành ba kiểu sinh thái cảnh - kiểu lập địa - mà,
tương ứng với nó là ba hệ sinh thái thảm thực vật rừng tiêu biểu; rừng nhiệt đới ẩm
mưa mùa, rừng úng phèn và rừng ngập mặn
- Các thảm thực vật rừng nguyên sinh, hiện tại hầu như không còn; song sự tìm hiểu
nó sẽ giúp ích cho việc đánh giá tiềm năng điều kiện lập địa, xác định phương hướng
15
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
phục hồi và xây dựng các thảm thực vật đạt hiệu quả mong muốn, nhất là về cảnh
nước ngày càng tăng.
16
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
Sở dĩ có tình trạng này là do trước đây nhiều cơ sở sản xuất chưa quan tâm đúng mức
đến vấn đề nước thải, khí thải.
- Trong số 7 hệ thống kênh rạch tiêu thoát nước thải sinh hoạt của thành phố vẫn còn
nhiều kênh hở và cửa xả quá cũ, thậm chí bị hư hại nặng và năng lực thoát chỉ đạt 50%
nhu cầu. Hơn thế nữa, trên nhiều đoạn kênh rạch còn có khoảng 18.000 hộ dân làm
nhà lấn chiếm ra kênh rạch và xả rác xuống kênh khiến dòng chảy vốn nhỏ lại càng
ách tắc. Đây cũng là nguyên nhân tạo nên sự ngập úng cục bộ ở 90 điểm rải rác trong
các khu dân cư ở quận 6, Bình Chánh, Bình Thạnh…
- Hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp đang trong tình
trạng báo động. Nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp cũng đang quá tải và ô nhiễm do
tính toán hệ thống nước thải không theo kịp thực tế.
+ Gần 70 cơ sở sản xuất di dời từ nội thành ra cũng đang gây ô nhiễm cho khu
vực kênh An Hạ – Thầy Cai ở Hóc Môn và Củ Chi; khu vực sông ngòi Nhà Bè cũng bị
ô nhiễm từ khu công nghiệp Hiệp Phước.
Nhà máy thuốc lá gây ô nhiễm vẫn đang hoạt động
trong nội thành TP Hồ Chí Minh
17
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
+ Theo thống kê, TP HCM hiện có 31.100 cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu
thủ công nghiệp hầu hết chưa có hệ thống nước thải thuộc nhiều ngành nghề như: thực
phẩm, dệt may, nhuộm, hóa chất, chế biến gỗ.
- TP HCM cũng đã phê duyệt danh sách 1.235 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm trong nội
thành phải sớm di dời và công bố 17 ngành nghề gây ô nhiễm không được cấp phép
hoạt động trên địa bàn thành phố thời gian tới.
- Tình trạng ô nhiễm chủ yếu là ô nhiễm chất hữu cơ, vi sinh và một số nơi đã có dấu
hiệu ô nhiễm kim loại nặng.
+ Vào mùa khô, mức độ ô nhiễm càng trở lên trầm trọng. Kết quả các đợt quan
khu vực này khá cao, nhưng tình trạng vi phạm các qui định về môi trường vẫn thường
xuyên xảy ra.
+ Theo kết quả thống kê các nguồn thải công nghiệp trên địa bàn TP.HCM từ
năm 2010 đến 2012 được thực hiện trên địa bàn 24 Quận/huyện với 826 nguồn thải,
chỉ có khoảng 60% nguồn thải có hệ thống xử lý nước thải, các nguồn thải còn lại chỉ
qua xử lý sơ bộ (bể tự hoại) trước khi xả thải ra môi trường. Điều đáng lưu ý là trong
số các nguồn thải được khảo sát thì có đến 44% các nguồn thải có lưu lượng nước thải
từ 50m3/ngày.đêm, đây là nguồn thải đóng góp đến 90% cả về lưu lượng và tải lượng
ô nhiễm.
+ Thống kê nguồn thải theo ngành nghề cũng cho thấy, các ngành chiếm số
lượng nhà máy lớn gồm: dệt nhuộm, may mặc (21%), sản xuất sản phẩm từ kim loại
(11%), hoá chất (9%), thực phẩm (8%). Trong đó, các ngành nghề có hệ số phát thải
cao như: dệt nhuộm, giấy, thực phẩm đóng góp đến 56% tổng tải lượng COD. Cũng
theo báo cáo, tải lượng ô nhiễm COD cao nhất tập trung ở Quận Tân Bình (chiếm 25%
tổng tải lượng COD) do các nguồn thải có quy mô lớn và nằm trong nhóm ngành nghề
có hệ số phát thải cao, tiếp theo là Quận 12 (15%) và Thủ Đức (11%).
- Cũng theo Ban Kinh tế và ngân sách HĐND TP, trong tổng số 130 bệnh viện, trung
tâm y tế dự phòng ở TP, chỉ 48 có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, còn lại là
19
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
các bệnh viện có không đạt tiêu chuẩn xử lý nước thải hoặc hoàn toàn không xử lý
nước thải.
- Ngoài các tác nhân gây ô nhiễm tại TP, còn nguồn nước thải chưa qua xử lý từ các
KCN ở các tỉnh lân cận như Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An theo hệ
thống kênh rạch đổ về TP làm cho tình hình càng nghiêm trọng hơn.
- Quản lý các khu liên hợp xử lý chất thải TP. Hồ Chí Minh thực hiện trong năm 2013,
chất lượng nước mặt một số khu vực xung quanh khu liên hợp xử lý chất thải rắn Tây
Bắc - Củ Chi bị ô nhiễm dinh dưỡng, hữu cơ, sắt và vi sinh phát hiện có nhiều thông
số vượt xa mức độ cho phép. Trước bức xúc của người dân, UBND TP. Hồ Chí Minh
đã phải từng bước đóng cửa khu xử lý chất thải này. Lượng rác hằng ngày sẽ chuyển
+ Hàm lượng BOD5 tại hầu hết các điểm quan trắc đều đạt QCVN 08:2008,
cột A1, 25% còn lại có giá trị BOD5vượt TCCP từ 1,3 – 1,8 lần. Hầu hết hàm lượng
COD cũng đều đạt QCVN 08:2008, cột B1, một số nơi đạt quy chuẩn cột A1 như: Cầu
Tan Thuận, Sông Đồng Nai (phà Cát Lái và bến đò Hãng Da). Riêng đối với Trạm
bơm Hóa An, trạm bơm Hòa Phú đều có giá trị BOD5 và COD ở mức thấp, đạt và xấp
xỉ giá trị cột A1 của QCVN 08:2008.
+ Ô nhiễm vi sinh (Coliforms) khá cao tại các điểm quan trắc ở TP.HCM và
ngay cả ở các điểm quan trắc trên các sông lớn (Sài Gòn, Đồng Nai, Nhà Bè) thể hiện
rõ ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt đô thị. Hàm lượng Coliforms hầu hết đều vượt
QCVN 08: 2008, cột B1 từ 1,3 – 24,9 lần, cao nhất là ở khu vực Cầu Phú Mỹ.
- Về phía Sở Tài nguyên - Môi trường TPHCM cho biết thêm, từ năm 2011 sở đã chủ
động thống kê nguồn thải dọc hệ thống kênh rạch dẫn ra sông Sài Gòn. Kết quả đã chỉ
rõ có 450 doanh nghiệp sản xuất có lưu lượng nước thải trên 50m3/ngày. 60% số
doanh nghiệp này thải ra lượng nước thải chưa đạt yêu cầu. Hiện sở đang tăng cường
thanh kiểm tra các đơn vị này. Trường hợp nào tái vi phạm môi trường nghiêm trọng
sẽ thực hiện niêm phong máy móc, buộc ngưng hoạt động
2.2. Ô nhiễm nước trên 1 số kênh – rạch tại TP HCM
Tình trạng ô nhiễm nguồn nước kênh, rạch trên địa bàn thành phố (TP) ngày
càng nặng và lan ra diện rộng. Cụ thể kênh Thầy Cai và kênh An Hạ (Củ Chi), kênh B
và kênh C (huyện Bình Chánh), kênh Bà Búp và kênh Trần Quang Cơ (Hóc Môn)…
nước có màu nâu đen, mùi hôi rất nặng, nhiều chỉ tiêu đều vượt tiêu chuẩn cho phép.
- Kênh Tân Hóa - Lò Gốm đi qua nhiều quận nhưng chủ yếu nằm trong khu vực quận
6, quận 11, là một trong những hệ thống kênh rạch ô nhiễm nhất trong nội thành TP
HCM. Hai đợt khảo sát năm ngoái của Sở Tài nguyên môi trường thực hiện ở đây đều
cho kết quả chỉ tiêu vi sinh cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Giá trị quan trắc vi
sinh năm 2004 cao hơn cùng kỳ năm trước đến 100 lần
- Kênh Ba Bò ( Thủ Đức): Là nơi tiếp nhận nguồn nước thải khổng lồ từ các khu công
nghiệp của Bình Dương xả về. Cả chiều dài của đoạn kênh 2,5km này là "đường dẫn"
21
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
ngày càng lớn nên lượng nước mưa không thể thẩm thấu xuống đất. Thay vào đó,
lượng nước này chảy tràn kéo theo tất cả chất thải trên bề mặt đất xuống kênh rạch dẫn
22
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
ra sông. Còn chất thải phát sinh từ khu vực dân cư do các bể phốt hoạt động không
hiệu quả hoặc không qua các bể phốt thải hết ra sông đang khiến cho nguồn nước sông
ô nhiễm khá nặng. Kết quả phân tích mẫu chất thải nước sông Sài Gòn cho thấy, nồng
độ vi sinh luôn luôn ở mức cao vượt tiêu chuẩn cho phép từ vài chục đến vài trăm lần.
Kế đến là chất COD, BOD. Kết quả này cũng đồng nhất với kết quả đánh giá của Viện
Môi trường và Tài nguyên, Đại học Quốc gia TPHCM.
- Các nguồn xả thải ra sông Đồng Nai đoạn từ cửa dưới nhánh sông Tắc ra đến hợp lưu
với sông Sài Gòn tại Mũi Đèn Đỏ có lưu lượng xả thải trên 5.000 m3/ngày đêm, các
nguồn xả thải ra sông Sài Gòn đoạn từ cầu Phú Long đến cầu Bình Phước có lưu
lượng xả thải trên 5.000 m3/ngày đêm, chất lượng nước thải cũng phải đạt loại A.
23
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh
3. Các giải pháp khắc phục ô nhiễm nước mặt tại TP Hồ Chí Minh
3.1. Quy định phân vùng các nguồn xả thải
- UBND Thành phố cũng quy định phân vùng các nguồn xả thải đối với 97 tuyến sông,
suối, kênh rạch nhằm ngăn chặn tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng đối với nguồn cấp
nước sạch cho người dân
- Đối với 14 tuyến kênh rạch khu vực trung tâm Thành phố như Kênh 19/5, Tham
Lương, Nước Đen, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Văn Thánh, Tàu Hủ, Bến Nghé, Đôi-Tẻ, Tân
Hóa-Lò Gốm, Hàng Bàng, Rạch Nước Lên, sông Chợ Đệm… nguồn nước thải phải
đạt quy chuẩn loại B theo quy định.
+ Trong thời gian tới, các cơ quan chức năng của TPHCM sẽ tiếp tục tăng
cường giám sát chặt hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn, xử lý nghiêm các
trường hợp cố tình vi phạm; đồng thời phát huy hơn nữa vai trò tham gia của cộng
đồng trong việc thi hành chính sách về bảo vệ môi trường.
+ Kết quả chất lượng nguồn nước của Sở TNMT TPHCM vừa công bố cho
- Với những bể phốt chứa chất thải, cần tập huấn kiến thức người dân phát huy hiệu
quả bằng cách thực hiện hút bùn thường xuyên. Kinh nghiệm quản lý môi trường tốt
tại Tây Ban Nha là phải hình thành quỹ bảo vệ môi trường tại khu dân cư. Cách làm
này giúp nâng cao trách nhiệm của địa phương và người dân trong việc giữ gìn môi
trường sống của chính mình. Với nguồn thải từ nước rỉ rác cần tách bỏ chất thải rắn.
Kế đến cách ly hoàn toàn bãi chôn lấp, thực hiện chống thấm trên nền hiện thời của bãi
chôn lấp, xử lý lót chống thấm và lắp đặt hệ thống thu gom nước rỉ rác và nước chảy
tràn và hệ thống thủy lực bao quanh. Về lâu dài cần cách ly bằng cách di dời bãi chôn
lấp xa lưu vực sông. Không chỉ vậy, để chủ động kiểm soát nguồn thải ô nhiễm, các cơ
quan chức năng cần xây dựng hệ thống quan trắc để kiểm soát được những thay đổi
chất lượng nguồn nước sông; phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các ngành bắt đầu từ
khâu quy hoạch, xây dựng khu dân cư. Kế đến mới là xử lý kết hợp nâng cao nhận
thức cộng đồng.
- Cần lưu ý với chất thải công nghiệp vì lượng nước thải của công nghiệp đổ ra sông
Sài Gòn không lớn nhưng nồng độ chất thải lại rất độc hại. Do đó, cần triệt để kiểm
soát tốt nguồn thải này.
3.3. Các biện pháp thuỷ lợi giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước
- Thiết kế hệ thống cấp nước, tiêu nước cho các khu nuôi thuỷ sản đáp ứng đủ yêu cầu
cấp nước và kênh tiêu phải tách rời khỏi kênh lấy nước.
- Thiết kế, xây dựng hệ thống cống lấy nước và lọc phù sa đáp ứng tiêu chuẩn nuôi
trồng để tôm có thể phát triển tốt trong môi trường nước được cấp.
25