1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ THỊ NGỌC CHI
ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG
(Nghiên cứu trường hợp tại trường trung học phổ thông Mạc Đĩnh Chi,
thành phố Hải Phòng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Hà Nội – 2013
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 10
2.1 Ý nghĩa lý luận 10
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 10
3. Câu hỏi nghiên cứu 10
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 11
4.1 Mục đích nghiên cứu 11
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 11
5.1 Đối tượng nghiên cứu 11
5.2 Khách thể nghiên cứu 12
5.3 Phạm vi nghiên cứu 12
6. Giả thuyết nghiên cứu 12
7. Phƣơng pháp nghiên cứu 12
7.1 Phương pháp luận 12
7.2 Phương pháp phân tích tài liệu 13
7.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến 14
7.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 14
7.5 Phương pháp quan sát 15
7.6 Phương pháp thực nghiệm 15
8. Khung lý thuyết 16
9. Cấu trúc của luận văn 16
NỘI DUNG CHÍNH 17
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 17
4
1.1 Những khái niệm công cụ 17
1.1.1 Khái niệm định hướng 17
1.1.2 Nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp 17
1.1.3 Hướng nghiệp 18
1.2 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu đề tài 19
1.2.1 Lý thuyết xã hội hóa 19
2.2.8 Các nguồn tìm kiếm thông tin về việc làm của học sinh Trung học
phổ thông 64
2.3.1 Mục đích 67
2.3.2 Cơ sở để xây dựng chương trình tác động. 67
2.3.3 Nội dung thực nghiệm 68
2.3.4 Kết quả thực nghiệm 68
Chƣơng 3: CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỊNH HƢỚNG NGHỀ
NGHIỆP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 76
3.1. Nhân tố chủ quan 76
3.1.1 Yếu tố nhu cầu, động cơ nghề nghiệp 76
3.1.2 Hứng thú nghề nghiệp của học sinh 77
3.1.3 Năng lực nghề nghiệp 78
3.1.4 Bản thân 78
3.1.5 Sức khỏe 79
3.2 Nhân tố khách quan 79
3.2.1 Gia đình 79
3.2.2 Nhà trường 82
3.2.3 Bạn bè 85
3.2.4 Truyền thông đại chúng 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
1. Kết luận 88
2. Khuyến nghị 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CĐ : CAO ĐẲNG
ĐH : ĐẠI HỌC
ĐHNN : ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP
THCN : TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP
6
DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 2.1. Mức độ quan tâm của học sinh THPT đối với nghề nghiệp tương
lai. 42
Biểu đồ 2.2 Dự định nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp của học sinh THPT 45
Biểu đồ 2.3 Những vấn đề học sinh THPT quan tâm khi lựa chọn nghề nghiệp
59
Biểu đồ 2.4 Các nguồn tìm kiếm thông tin của học sinh THPT 65
Biểu đồ 3.1 Nhận thức của học sinh THPT về tầm quan trọng của công tác
hướng nghiệp trong nhà trường . 83
Biểu đồ 3.2 Sự trao đổi với bạn bè về định hướng nghề nghiệp 86
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Con người là vốn quý nhất, việc chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu
phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Đảng và nhà nước luôn coi việc nâng cao dân
trí bồi dưỡng nhân tài, phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là
nhân tố quyết định đến thắng lợi của công cuộc CNH-HĐH đất nước. Điều đó có
nghĩa là con người chính là yếu tố quyết định của sự phát triển và của sự nghiệp
của các em đều là tiếp tục học lên các trường ĐH, CĐ. Sự mất cân đối trong thực
trạng nguồn nhân lực Việt Nam là điều dễ thấy và đã có rất nhiều chương trình
hay hội thảo bàn về chiến lược giáo dục để đưa ra những quyết sách đúng đắn
giải quyết thực trạng trên. Gần đây trong dự thảo chiến lược giáo dục Việt Nam
2009-2010 cũng đã chỉ rõ: giáo dục nghề nghiệp chưa được quan tâm đúng mức,
cách tổ chức phân luồng trong hệ thống giáo dục còn thể hiện sự lúng túng, mất
cân đối giữa cơ cấu trình độ và cơ cấu ngành nghề. Dự thảo cũng đã xác định
mục tiêu đó là tạo đột phá trong giáo dục nghề nghiệp, tăng mạnh tỷ lệ lao động
qua đào tạo, cân đối tình trạng thừa thầy thiếu thợ, hệ thống giáo dục được tái
cấu trúc, đảm bảo phân luồng sau trung học cơ sở… Để mục tiêu đề ra không chỉ
tồn tại trên lý thuyết, thì ngay từ bây giờ chúng ta phải quan tâm đến công tác
định hướng nghề nghiệp cho các em học sinh THPT.
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông giữ một vị
trí, vai trò và nhiệm vụ rất quan trọng. Giáo dục hướng nghiệp nhằm mục đích
giúp cho học sinh phổ thông có được sự hiểu biết cơ bản về các ngành nghề
trong xã hội, từ đó hình thành hứng thú, năng lực nghề. Và từ đó các em sẽ lựa
chọn cho mình một nghề nghiệp cụ thể trên cơ sở cân nhắc kỹ lưỡng phù hợp với
nhu cầu, sở thích, khả năng, năng lực, sức khỏe, điều kiện kinh tế gia đình.
Trong nhà trường THPT hiện nay giáo dục hướng nghiệp còn rất sơ sài, rất ít có
những giờ hướng nghiệp mà hướng nghiệp cho học sinh THPT chủ yếu dựa trên
sự lồng ghép vào các môn học vào các giờ sinh hoạt, giờ ngoại khóa vì vậy thời
9
gian để các thầy và trò ngồi bàn về công tác hướng nghiệp là không có nhiều.
Công tác giáo dục hướng nghiệp hiện nay chưa được quan tâm đúng mức nên
dẫn đến việc học sinh chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác hướng
nghiệp. Bởi chưa có một định hướng rõ rệt, thông tin nghề nghiệp còn mơ hồ
cho nên nhiều em khi nộp hồ sơ thi vào các trường ĐH, CĐ vẫn chưa đánh giá
được đúng năng lực, hứng thú, sở thích với nghề nghiệp mà mình đang chọn. Và
cũng bởi nguyên nhân trên mà rất nhiều em học sinh khi ngồi trên giảng đường
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Việc tìm hiểu thực trạng định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT sẽ
giúp cho tác giả đánh giá đúng thực trạng cũng như những nhân tố chủ quan,
khách quan tác động đến sự định hướng nghề nghiệp của các em học sinh THPT.
Đề tài sẽ cung cấp các số liệu thực tế xác thực cho các nhà quản lý, nhà giáo dục
hướng nghiệp để họ xây dựng các chương trình, chính sách phù hợp giúp các em
học sinh THPT có những nhận thức đúng đắn về nghề nghiệp. Hiện nay học sinh
THPT đang đứng trước nhiều lựa chọn cho tương lai: học tiếp lên Đại học, học
nghề, đi du học, cũng có thể là đi làm luôn. Vậy sự lựa chọn của các em có thực
sự đúng đắn, có phù hợp với năng lực của bản thân với xu thế hội nhập và có đáp
ứng được đòi hỏi của xã hội hay không? Điều này phụ thuộc phần lớn vào bản
thân các em. Nhưng bên cạnh đó thì sự quan tâm định hướng của nhà trường,
của cha mẹ của các cấp lãnh đạo, nhà hướng nghiệp cũng là một yếu tố tác động
rất lớn đến quá trình định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT.
Bên cạnh đó thì kết quả của luận văn còn có giá trị tham khảo đối với các
nhà nghiên cứu, sinh viên, đối với những người quan tâm đến khía cạnh này.
Từ thực trạng tác giả sẽ rút ra kết luận và đưa ra một số khuyến nghị đối với
nhà trường, cha mẹ và những ban ngành có liên quan trực tiếp đến vấn đề này.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Định hướng nghề nghiệp của học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ
thông là như thế nào?
11
- Những nhân tố nào đã tác động đến sự định hướng việc làm sau khi tốt
nghiệp của học sinh THPT?
- Công tác hướng nghiệp trong nhà trường THPT hiện nay là như thế nào?
- Học sinh THPT có thiếu thông tin về nghề nghiệp không? Học sinh
THPT gặp phải những khó khăn gì trong quá trình định hướng nghề
nghiệp?
- Cha mẹ học sinh THPT có quan tâm đến việc định hướng nghề nghiệp
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Học sinh THPT đang rất thiếu thông tin về nghề nghiệp.
- Học sinh THPT rất tích cực trong việc tìm hiểu thông tin về nghề
nghiệp.
- Học sinh THPT có nhiều dự định sau khi tốt nghiệp, song hầu hết sự lựa
chọn của các em là thi vào các trường ĐH, CĐ.
- Học sinh THPT không quan tâm đến các trường dạy nghề, các trường
trung cấp chuyên nghiệp vì cơ hội việc làm thấp, lương thấp…
- Học sinh THPT hiện nay đều lựa chọn khối thi là khối A. Khối C hầu
hết là các em không lựa chọn.
- Các em học sinh THPT đều rất quan tâm đến nghề nghiệp tương lai của
mình vì vậy dẫn đến sự định hướng nghề nghiệp từ rất sớm.
- Công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông hiện nay rất sơ sài
và chưa đạt được hiệu quả cao.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1 Phƣơng pháp luận
Nghiên cứu đề tài dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Khi áp dụng lý luận này vào quá trình
nghiên cứu tác giả muốn tìm hiểu, muốn phân tích và giải thích sự tác động của
xã hội đến sự hiểu biết và hành vi lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT.
13
Đề tài lấy phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng mà cụ
thể là quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử với những nguyên tắc lịch sử khách quan, toàn diện
giúp cho tác giả có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề nghiên cứu và cho phép
chúng ta đặt vấn đề nghiên cứu trong hoàn cảnh cụ thể của quá trình nghiên cứu.
Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin với quan điểm duy vật biện
chứng yêu cầu không được xem xét các hiện tượng xã hội một cách siêu hình mà
phải xem xét chúng một cách biện chứng. Nghĩa là khi xem xét các hiện tượng,
việc làm, sự chuẩn bị cho tìm kiếm việc làm và một số thông tin cá nhân. Số
phiếu thu về sẽ được xử lý trên phần mềm SPSS 16.0
Cơ cấu mẫu khảo sát
STT
Tiêu chí
Số lƣợng
Tỷ lệ %
1
Giới tính
240
100
1.1
Nam
117
48,8
1.2
Nữ
123
51,2
2
Lớp
240
100%
2.1
Lớp 10
80
33.3
2.2
Lớp 11
80
nhằm tác động vào đối tượng là học sinh THPT (bao gồm 4 em thuộc các lớp 10,
11, 12). Trong các buổi sinh hoạt này tác giả đã tìm hiểu về những dự định nghề
nghiệp của học sinh THPT, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tìm
kiếm nghề nghiệp của các em, các em tìm kiếm thông tin về nghề nghiệp qua các
nguồn nào… Qua việc trao đổi và tìm hiểu này, tác giả đã nắm bắt và hiểu được
nguyện vọng cũng như các khó khăn cần tháo gỡ của từng em, để xây dựng biện
pháp can thiệp. Đầu tiên là giải thích cho các em hiểu về giá trị của nghề nghiệp,
tiếp đến là cung cấp cho các em mộ số thông tin về ngành nghề mà các em dự
định chọn. Tác giả cũng khuyến khích các em tích cực và năng động để tìm kiếm
các thông tin về nghề nghiệp…
Kết thúc 8 buổi sinh hoạt tác giả sẽ tổng hợp lại những thay đổi về quan
điểm, nhận thức cũng như sự lựa chọn nghề nghiệp của các em.
16
8. Khung lý thuyết
nghiệp
tương
lai
Sự lựa
chọn
ngành
nghề
Những
lí do
chọn
nghề
Các yếu
tố quan
trọng
ảnh
hưởng
Những
vấn đề
học sinh
quan
tâm
Những
khó
khăn mà
học sinh
gặp phải
Các
nguồn
tìm
Nghề nghiệp của con người có thể do được đào tạo chính thức về nghề đó
vì nghề đòi hỏi một trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định. Cũng có nghề
được hình thành tự phát do tích lũy kinh nghiệm xã hội hoặc do truyền và học
nghề theo cách kèm cặp giữa người biết nghề và chưa biết nghề. Các nghề này
18
chưa có quá trình đào tạo rõ rệt. Nghề được đào tạo có đặc trưng là người làm
nghề phải được cung cấp trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, làm ra sản phẩm để
trao đổi trên thị trường và thu nhập của người lao động chính là nguồn sống của
họ. Chính vì vậy mà họ trở thành đối tượng hoạt động cơ bản, lâu dài của lý
tưởng nghề nghiệp từ đó hình thành nhân cách nghề nghiệp. Nghề được đào tạo
đòi hỏi người học nghề phải có trình độ học vấn, sức khỏe, yêu cầu tâm lý phù
hợp với nghề. Sau quá trình đào tạo, người đó phải đạt được tiêu chuẩn cơ bản
về kiến thức, kĩ năng, kỹ xảo, tay nghề theo mục tiêu xã hội đòi hỏi, được cấp
bằng hay chứng chỉ về nghề.
1.1.3 Hướng nghiệp
Theo các nhà tâm lý học thì hướng nghiệp được hiểu là hệ thống các biện
pháp sư phạm, y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã
hội và năng lực của bản thân. Các nhà kinh tế học thì cho rằng đó là những mối
quan hệ kinh tế giúp cho mỗi thành viên trong xã hội phát triển năng lực đối với
lao động và đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, phù hợp với việc phân
tích lao động xã hội.
Nhà tâm lý học K. Platônôp cho rằng: “Hướng nghiệp đó là hệ thống các
biện pháp tâm lý, giáo dục, y học nhằm giúp cho con người đi vào cuộc sống
thông qua việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xã hội
vừa phù hợp với hứng thú, năng lực của bản thân. Những biện pháp này sẽ tạo
nên sự thống nhất giữa quyền lợi của xã hội và quyền lợi của cá nhân”.
Theo GS.TS Phạm Tất Dong thì khái niệm hướng nghiệp được hiểu trên
hai bình diện:
- Về bình diện xã hội: hướng nghiệp là một hệ thống tác động của xã hội
hệ thống vai trò của mình để phục vụ tốt cho việc thực hiện các mô hình hành vi
tương ứng với hệ thống vai trò mà cá nhân phải đóng trong cuộc đời mình”.
Theo định nghĩa này, vai trò của cá nhân trong xã hội hóa chỉ giới hạn trong việc
20
tiếp nhận các kinh nghiệm, các giá trị, chuẩn mực, chứ chưa đề cập tới khả năng
cá nhân có thể tạo ra những giá trị, kinh nghiệm, chuẩn mực. Như vậy, cá nhân
trong quá trình xã hội hóa không đơn thuần thu nhận kinh nghiệm xã hội, mà còn
chuyển hóa nó thành những giá trị, tâm thế, xu hướng của cá nhân để tham gia
tái tạo, “tái sản xuất” chúng trong xã hội. Mặt thứ nhất của quá trình xã hội hóa
là sự thu nhận kinh nghiệm xã hội thể hiện sự tương tác của con người trở lại
môi trường thông qua hoạt động của mình. Như vậy, một cá nhân không thể
trưởng thành, không có nhân cách hoàn thiện nếu không thu nhận được hệ thống
các quan hệ, liên kết xã hội, nếu không thâm nhập vào xã hội.
Quá trình xã hội hóa diễn ra trong suốt cuộc đời của mỗi con người. Có 4
nhân tố chính tác động đến quá trình xã hội hóa của cá nhân đó là gia đình, nhà
trường, bạn bè và các phương tiện truyền thông đại chúng. Ngoài các yếu tố cơ
bản ở trên thì còn có rất nhiều nhân tố tác động đến quá trình xã hội hóa của cá
nhân như: các chính sách của Đảng và nhà nước, dư luận xã hội, tôn giáo
Trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ xem xét đến khía cạnh là 4 nhân tố
tác động chính lên đối tượng nghiên cứu đó là gia đình, nhà trường, bạn bè,
truyền thông.
+ Gia đình
Gia đình là tác nhân xã hội hóa đầu tiên và quan trọng đối với cá nhân.
Đối với hầu hết các cá nhân thì gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của cá
nhân, đó là dạy cho trẻ những kinh nghiệm xã hội, các giá trị, tiêu chuẩn văn hóa
và dần dần trẻ em sẽ đưa nó vào sâu trong ý thức của cá nhân. Thông qua quá
trình đó gia đình không chỉ đưa trẻ em đến với thế giới hữu hình mà còn đặt
chúng vào trong xã hội.
Mỗi gia đình là một mô hình văn hóa thu nhỏ với những giá trị truyền
mình. Mỗi cá nhân sẽ tiếp nhận và phát triển những kỹ năng, thái độ hay phong
cách sống mà họ tin rằng sẽ phù hợp với mục đích nghề nghiệp của họ và do đó
hình thành nên những thói quen hành động, thậm chí tính cách mới phù hợp với
22
những công việc nhất định mà họ đảm nhận. Và đây là một khía cạnh vô cùng
quan trọng trong đặc điểm tính cách của cá nhân.
+ Bạn bè
Theo George Hebert Mead nhóm bạn bè cùng lứa tuổi là những người khá
quan trọng. Hầu hết trẻ đều có nhóm bạn, thường là những người cùng lứa tuổi
cùng sở thích cùng quan điểm ở trường học hay gần nơi cư trú. Trong nhóm bạn,
vai trò độc lập của cá nhân góp phần hình thành các kinh nghiệm trọng quan hệ
xã hội cũng như ý thức về bản thân khác với những gì có trong gia đình. Nhóm
bạn cũng tạo ra cơ hội cho các thành viên chia sẻ thảo luận về các mối quan tâm
chung mà trong đó có những cái thường không làm được tương tự đối với cha
mẹ hay thầy cô. Vai trò của nhóm bạn có vai trò rất quan trọng ở tuổi thanh thiếu
niên. Vì ở lứa tuổi này trẻ thường rất nhạy cảm, dễ bị tổn thương, cảm xúc thất
thường. Và ở lứa tuổi này trẻ rất để ý đến bản thân, luôn muốn chứng tỏ mình,
muốn khẳng định rằng mình đã lớn và cần được tôn trọng. Nhóm bạn có rất
nhiều ý nghĩa đối với cá nhân. Nhưng bên cạnh đó thì nhóm bạn cũng có khi sẽ
tạo ra các tác động tiêu cực đến cá nhân.
+ Các phƣơng tiện truyền thông đại chúng
Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ thông tin
cho nên trẻ em sẽ tiếp xúc với truyền hình và các phương tiện truyền thông trước
khi được đi học. Vai trò của truyền thông là rất lớn nó cung cấp những kinh
nghiệm xã hội, những mẫu văn hóa mang tính tiêu chuẩn dưới cách nhìn phổ
biến. Truyền thông cũng làm cho các cá nhân gắn kết với nhau chặt chẽ hơn
thông qua các mối quan tâm chung, những giá trị chung đặc biệt là khi có những
sự kiện nổi bật như thảm họa sóng thần, động đất hay một vụ khủng bố đẫm máu
khiến nhiều người bị thương vong.
hợp lý nhằm đạt được kết quả tối ưu nhất với chi phí tối thiểu. Thuật ngữ “lựa
chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc tính toán để quyết định sử
dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách