ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
★ ★ ★
HOÀNG ANH TUÂN
KHẢO SÁ T KHÁI NIỆM CÂU ĐƠN THEO QUAN
ĐIỂM TRUYỀN THỐNG VÀ c ú ĐƠN THEO QUAN
ĐIỂM CỦA NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG (HỆ THốNG)
LUệN VÃN TH6C sĩ NGÔN NGỨ HỌC
Chuyên ngành. LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mũ SỐ : 5 04 08
Người hướng dân khoa học.
PGS. TS. HOÀIMG VĂN VÂN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM THÔNG TIN THỰ VIỆN
V- iz/ M
Hà Nội, 2005
LỜI CẢM ƠN
ẨLtiùii lì/m n ài/ i t t ír ío . h o à n th à n h o i i i u i (JỈÚ ỊI i t ĩ ỉ , (Tôm/ lùè n (‘ủ a u h ìĩ u
m /itò i. (cĩrtìti(ị. i t í ) rp c ị < s . íc 7 c V ^ỉôoàiii/ <7)011 r( )â n là n tỊiiò i có D a i trì) (/11(111
trtìnỊỊ n /u ĩt. Qu ãng , t h ò i Ị/ia n lù m lùẻe o ífí 'rĩh tỉy lù q n ã u ụ t h ò i Ị/Ù m em có
t h ỉ III I ilt iỉu U iêu thu a hì) ích từ c h ín h .111 (liu (lắ t, c h í bản â n c ầ n CŨI K Ị Iilm
t h ú i itô ỉù u t DÌêc iit/ h iỉu i tú c cú n \Jh u i/. -riu ( t ứ r íe . h i u / tó lò m / hièt (tu MĨII
sắti DÌ itliu iK/ q ìú ịi đ õ to l ó 'u (ìt/.
& nt e ĩm q Jf!ii itùtìe ỉ)à y tó lò n tỊ /ùêí ó(t ĩ t ĩu cá c Q ỉitĩi/ fJô In ìiK / D Ch tìu
(K /ôn 111) 17 hoe, ^ n ỉỒ t U Ậ ( Đ ụ i h oe k lu )a htìe x ã h ộ i uà n h ã n vtìn - rtìtfì họe.
q u ố c (jìa 1ÕÙ Q ỈẬ Ì, DÌ M t U h ú h lê, ĩ t ô i H ) D Ì i n e ũ n ỊỊ li li n iil n liK / c h í háo q u i Ị)
ĩ t õ ’ I tliiĩl tìn h cả
( í
aáa 'c7liaij, ê r ) .
lù à Q lệ i 2 4 t liú n i) 10 n ă m 2 0 0 5
Chủ ngữ
CT
Cảm thể
HHT
Hiện hữu thể
HT
Hành thể
KNgh
Kinh nghiệm
LG
Lô 2ích
LN
Liên nhân
NgB
Ngôn bản
PN
Phụ ngữ
PN1
Phụ ngữ 1
PN2
Phụ ngữ 2
PNT
Phất ngôn thể
QT: hh
Quá trình hiện hữu
QT: hv
Quắ trình hành vi
QT: pn
Quá trình phát ngôn
3
/. Mục đích, ỷ nghĩa của luận văn 7
1.1 Đối tượng nghiên cứu và lý do chọn đề tài 7
1.2 Dự kiến những đóng góp của luận văn 9
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
1.4 Lịch sử vấn đề 10
1.4.1 Giai đoạn trước 1945 11
1.4.1.1 Vấn đề thứ nhất : Câu là gì? 12
1.4.1.2 Vấn đề thứ hai: Cú là gì? 12
1.4. 2 Giai đoạn từ 1945 đến nay 12
1.4.2.1 Vấn đề thứ nhất: Câu là gì ? 13
1.4.2.2 Vấn đề thứ hai: Cú là gì? 15
2. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 17
3. Bô cục của luận văn 18
Chương l . CÚ PHÁP - NHŨNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ VIỆC
NGHIÊN c ú u CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT
1.1 Đối tượng của cú pháp học, mối QH giữa từ pháp và cú pháp 19
1.2 Quan hệ cú pháp và hình thức cú pháp 21
1.3 Nghiên cứu cú pháp ở nước ngoài 23
1.4 Nghiên cứu cú pháp tiếng Việt ở trong nước 25
1.5 Một vài đặc điểm của cú pháp tiếng Việt 28
1.6 Tiểu kết 29
Chưonư 2: KHÁI NIỆM CÂU (ĐƠN)
THEO QUAN ĐlỂM tru y ền THốNG
2.1 Giới thiệu 30
2.2 Cáu theo quan niệm truyền thống 31
2.2.1 Định nghĩa về câu 31
2.2.2 Tiêu chí nhận diện câu theo quan niệm truyền thống 33
5
2.2.2.1 Tiêu chí về ngữ nghĩa - lô gich 33
22.2.2 Tiêu chí về cấu trúc 34
khăn bậc nhất của cú pháp học nói riêng và ngữ pháp học nói chung. Con
số trên 300 định nghĩa về câu (Hoàng Trọng Phiến 1980: 14) hẳn đã phần
nào chứng tỏ được điều này. Bên cạnh khái niệm câu (sentence) trong
Iruyền thống nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt còn tổn tại một khái niệm
khác - khái niệm cú (clause), sẽ chẳng có gì phải bàn cãi nếu chỉ nhìn qua
hai thuật ngũ' này. Tuy nhiên, khác với câu trong truyền thống nghiên cứu
ngữ pháp tiếng Việt, khái niệm cú rất ít khi được thảo luận, nó chủ yếu
được đặt trong khái niệm câu đơn. Điều này không khỏi dẫn đến nhiều hoài
nghi xung quanh vai trò và vị thế của hai khái niệm được xem là “có nhiều
điểm tương đồng” này.
Trong các đường hướng nghiên cứu ngôn ngũ' hiện nay, ngữ pháp
chức năng được đánh giá là hướng đi mới đầy triển vọng. Ra đời muộn hơn
(chỉ vào khoảng những năm 70 của thế kỷ 20) nhưng ngay lập tức ngữ
pháp chức năng đã thu hút được sự chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu.
Trong nội bộ của ngữ pháp chức năng người ta thấy có nhiều hướng đi khác
nhau nhưng có hai hướng đi giành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên
cứu. Đó là hướng chức năng của s . Dik (Funtional Grammar) và hướng ngữ
pháp chức năng thiên về (hệ thống) của M.A.K Halliday (Systemic
Funtional Grainmar). Cả hai dòng ngữ pháp chức năng này đều gắng đạt
đến tính phổ quát cao, mong muốn bao quát được mọi ngôn ngữ. Tuy
nhiên, khi so sánh hai dòng ngữ pháp này người ta thấy ngữ pháp chức
năng hệ thống của M.A.K Halliday có tính ưu việt hơn hẳn trong quan điểm
ba bình diện ngữ pháp câu xét về mặt lý thuyết. Tính ưu việt của ngữ pháp
chức năng của M.A.K Halliday còn thể hiện ở lý thuyết các loại hình sự thể
7
với một vòng tròn khép kín bởi ba khu vực lớn với ba miền trune gian, phản
ánh được tất cả các loại hình sự thể. Ngoài ra ngữ pháp chức năng của
M.A.K Halliday còn được đánh giá cao về tính linh hoạt trong ứng dụng
thực tiễn (Diệp Quang Ban 2003: 14, 15).
Đi theo hướng ngữ pháp chức năng, cả s. Dik và M.A.K Halliday đều
■ Góp phần giải quyết vấn đề vẫn còn tồn tại lâu nay, trong ngữ
pháp tiếng Việt.
1. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Muốn làm được vậy chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ sau đây:
■ Khảo sát khái niệm về câu theo quan điểm truyền thống, nhũng
đóng góp và những vấn đề còn tồn tại.
■ Các tiêu chí phân loại câu theo truyền thống những ưu, nhược
điểm của những tiêu chí phân loại này.
■ Khảo sát vai trò của cú trong tiếng Việt theo quan điểm của ngữ
pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday, so sánh với khái
niệm câu trong ngữ pháp truyền thống, từ đó chỉ rõ vai trò của nó
trong nghiên cứu ngữ pháp.
■ Tiêu chí đề phân loại cú, có so sánh với các tiêu chí phân loại
câu, từ đó chỉ rõ những điểm mạnh của những tiêu chí này.
9
/. 4. Lịch sử vấn đê
Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ngành khoa học ngôn ngữ ớ
Việt Nam phát triển muộn hơn nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên, những
thành tựu mà ngành ngôn ngữ học nói chung và cú pháp học ở Việt Nam nói
riêng đã đạt được là khá khả quan. Các nhà Việt ngữ học đã cố gắng vận
dụng những đường hướng, quan điểm tiên tiến của nhiều tác giả, trường
phái ngôn ngũ' trên thế giới để giải quyết các vấn đề cụ thể của liếng Việt.
Trong số những vấn đề nổi lên, thu hút được sự quan tâm của đông đáo các
nhà nghiên cứu thì việc tìm ra một định nghĩa cho câu tiếng Việt là vấn đề
được quan tâm hơn cả. Song cũng như nhiều nơi có ngành khoa học ngôn
ngữ phát triển vấn đề về câu tiếng Việt đến nay vẫn chưa được giải quyết ổn
thoả. Với câu hỏi câu là gì? Các nhà nghiên cứu vẫn còn nhiều quan điểm
khác nhau. Bên cạnh khái niệm câu, khái niệm cú trong truyền thống nghiên
cứu ngũ' pháp tiếng Việt cũng tồn tại như là một đơn vị có vai trò và vị thế
đặc biệt. Tuy nhiên, theo Cao Xuân Hạo “Thật không có một thuật ngũ' nào
(1911). Cours élémentaire d’ Annamite của Bouchet (1912). Việt Nam văn -
phạm của Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm (1940) v.v.
1.4.1.1 Vấn để thứ nhất: Câu là gì?
Với vấn đề “câu là gì” các nhà nghiên cứu ngũ’ pháp tiếng Việt giai
đoạn này, không đặt ra cho mình nhiệm vụ phải trả lời và mặc nhiên coi vấn
đề như đã được giải quyết xong, hi hữu có những tác giả định nghĩa “nhưng
đó cũng chỉ là những định nghĩa nhắc lại những định nghĩa về câu trong
các sách ngữ pháp dùng ở trường trung tiểu học Pháp” (Nguyễn Kim Thản-
1997: 501). Ngữ pháp nhà trường của Pháp vốn dĩ đã mang dấu ấn đậm nét
của ngữ pháp duy lý (chủ yếu dựa vào các khái niệm lô gíc như : nhận định
(đề nghị / phán đoán) chủ ngữ / vị ngữ.v.v. Định nghĩa câu của Trần Trọng
Kim - Bùi Kỷ - Phạm Duy Khiêm trong cuốn “ Việt Nam Văn - p h ạ m là
một ví dụ tiêu biểu cho nhận định này. Theo tác giả của “ Việt - Nam - vãn -
phạm” thì phép đặt câu là phép đặt các tiếng lập thành mệnh đề và các
mệnh đề thành câu. Theo các tác giả này thì một mệnh đề bao gồm một chú
11
từ cộng với một tĩnh từ hay một động từ, chủ từ là tiếng đứng làm chú ớ
trong mệnh đề. Tính từ là tiếng chỉ cái thể của chủ từ, những lừ này có thể
có nhiều bổ từ (túc từ).v.v, định nghĩa của họ có thể diễn giải như sau:
Câu = Một chủ từ 4- một tính từ (hay một động từ) N túc từ.
Càu = N chủ từ + N tính từ (hay N động từ) + N túc từ
( Nguyễn Kim Thản- 1997: 501 )
1.4.1.2 Vấn đề thứ h ai: Cú là gì?
Trong giai đoạn này tên gọi “cú” chưa được các nhà nghiên cứu đề
cập đến. Tuy nhiên có thể thấy về cơ bản nội dung của chúng đã được thảo
luận dưới tên gọi mệnh đề. Cách làm này có thể thấy ó' các tác giả cuốn
“ Việt Nam Văn - phạm” theo họ thì phép đặt câu bao gồm hai bước: bước
đặt các tiếng thành mệnh đề và bước đặt mệnh đề thành câu và trong phần
tiếp theo các tác giả đã đi thảo luận khá kĩ về các kiểu loại mệnh đề, cách
(phép) lập mệnh đề thành câu. Song họ lại không cho biết thế nào là một
■ Hướng đi chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận và cấu trúc chức năng luận.
■ Hướng đị chịu ảnh hưởng của ngũ' pháp chức năng.
ỉ.4.2.1.1 Hướng đi thiên hơn vê ngữ pháp truyền thông
Tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến hình từ nên có lẽ vì vậy trong
hầu hết các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt “không có công trình
đáng kể nào mà lại theo khuynh hướng hình thức một cách tuyệt đối”. Đi
theo hướng ngũ' pháp truyền thống các nhà nghiên cứu ngữ pháp giai đoạn
này đã nhìn nhận vấn đề theo hướng chú ý đến cả hình thức lẫn nội dung,
thậm chí coi trọng mặt nội dung hơn cả hình thức. Định nghĩa của tác giả
cuốn “Ngữ phấp Việt Nam"' là một ví dụ. Định nghĩa này không chỉ phản
ánh sự tìm tòi, thể nghiệm của tác giả khi đi giải quyết một vấn đề nan giải
của cú pháp mà nó còn đánh dấu bước phát triển của ngữ pháp tiếng Việt
đang cố thoát ra khỏi cái bóng của ngữ pháp nhà trường Pháp, mặc dầu nó
không khỏi gợi ra cho người ta nhiều thắc mắc như: liệu câu có nhất thiết
13
do nhiều từ hợp lại? Một ý hoàn toàn Ịà nhu' thế nào?.v.v. Đi theo hướng này
còn phải kể đến Phan Khôi với Việt ngữ nghiên cứu (1955), Thanh Ba- Bùi
Đức Tịnh với Văn phạm Việt Nam (1952), Nguyễn Hiến Lê với Để hiểu văn
phạm (1952).
1.4.2.1.2 Hướng đi chịu ảnh hưởng của càu trúc luận và cáu trúc chức
năng luận
Do chiến tranh nên giai đoạn này Việt Nam bị chia cắt thành hai miền
Nam - Bắc. Đi theo hướng cấu trúc nhưng ở mỗi miền lại có sự khác biệt.
Miền Nam chịu ảnh hưởng của trường phái cấu trúc miêu tả Mỹ, còn miền
Bắc lại chịu ảnh hưởng của trường phái cấu trúc châu Âu (đặc biệt là lý
thuyết đại cương của Ferdinand de Saussure). Theo hướng cấu trúc luận, ở
miền Nam, giai đoạn này nổi bật lên đó là “Khảo luận ngữ phấp Việt Nam ”
(1963) của Trương Văn Trình và Nguyễn Hiến Lê. Còn tiêu biểu cho hướng
đi chịu ảnh hưởng của trường phái miêu tả Mỹ, ớ miền Nam, đó là những
công trình nghiên cứu về tiếng Việt của Lê Văn Lý. Cũng theo hướng này
đã được một vài nhà nghiên cứu thảo luận tuy nhiên vẫn chưa có sự phân
biệt rạch ròi về bản chất giữa hai loại đơn vị này, chủ yếư sự phân biệt vãn
dựa trên tiêu chí về số lượng. Ví dụ: theo Trương Văn Trình và Nguyễn
Hiến Lê, “Trong một câu diễn tả nhiều sự tình thì mỗi tổ hợp diễn tả một sự
tình chúng tôi gọi là một cú. Câu diễn tả một sự tình là câu đơn cú ( Trương
Văn Trình, Nguyễn Hiến Lê 1963: 477). Quan niệm này không khác với
quan niệm về cú ở giai đoạn trước. Đa số các nhà nghiên cứu giai đoạn này
thảo luận cú dưới hình thức câu đơn và sự phân biệt giữa câu và cú chí diễn
ra khi có một bộ phận của câu được cấu tạo nên từ một ngữ đoạn có cấu trúc
của một câu đơn nhưng chúng chỉ giữ vai trò bổ sung nếu đem so với cấu
trúc lớn.
Theo Cao Xuân Hạo thì sự khác biệt giữa cáu và cú “tiểu cú” chí ở chỗ
câu thể hiện một nhận định (statement) còn cú không có được điều này,
hành động này được thực hiện ngay khi phát ngôn để đưa ra một mệnh đề
mà biểu thị một cái gì đó được xem nhu' có sẵn và mặc dù ở đó có kết cấu
15
được xem là cấu trúc chủ vị đi chăng nữa thì hành động mà nó phản ánh
được xem như là có sẫn và thuộc về quá khứ. Nó là tiền giả định chứ không
có mặt trong câu và ngôn ngữ nào cũng có những đặc trưng để phân biệt
tiểu cú với câu.
Cũng chịu ảnh hướng của ngũ' pháp chức năng, nhưng theo hướng (hệ
thống). “Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt mô tả theo quan điếm
chức năng hệ tỉiống’' của Hoàng Văn Vân, do nhà xuất bản KHXH ấn hành
năm 2002 là một thể nghiệm khác của việc vận dụng lí thuyết chức năng
vào thực tế tiếng Việt. Lấy cú làm đơn vị mô tả và xem xét nó ó' cả ba bình
diện: chuyển tác, thức, văn bản. Xem cú như là một đơn vị ngữ pháp cao
nhất. Đày là một cách làm mới vì trong truyền thống cú không được công
nhận nhu' là một đơn vị mô tả một cách hiển ngôn. Trong truyền thống
nghiên cứu tiếng Việt, khái niệm cú cũng nhiều lần được nhắc đến. Tuy
nhiên, vai trò của chúng rất mờ nhạt, các nhà nghiên cứu dành cho nó một
Chương Ị : Cứ pháp - những vấn đề chung và việc nghiên cứu cú pháp
tiếng Việt. Chương này, chúng tôi trình bày về cú pháp với những vấn đề cơ
bản như: vấn đề về đối tượng của cú pháp, mối quan hệ giữa quan hệ ngữ
pháp với hình thức cú pháp. Chúng tôi cũng trình bày khái quát về việc
nghiên cứu cú pháp ỏ trong và ngoài nước, sau đó trình bày một vài đặc
điểm cơ bản của cú pháp tiếng Việt với tư cách là một ngôn ngữ đơn lập.
Chương 2: Khái niệm câu đơn tiếng Việt theo quan niệm truyền
thống. Trong chương này chúng tôi sẽ đi tìm hiểu và phân tích khái niệm về
câu (đơn) theo quan niệm truyền thống và các tiêu chí đề phân loại và nhận
diện đơn vị câu. Từ đó chỉ ra những tồn tại của vấn đề theo đường hướng
này.
Chương 3. Khái niệm cú tiếng v.iệt theo quan điểm chức năng hệ
thống. Trong chương này chúng tôi sẽ trình bày về khái niệm cú (đơn) trong
. 7 ĐẠI HỌC Q UỔ C GIA HÀ NỘI
L/ TRUNG TẨM THÕNG TIN THƯ VIỆN
J tAỉlM ũ
tiếng Việt theo quan điểm của lý thuyết chức năng hệ thống, vận dụng các
tiêu chí nhận diện cú theo lý thuyết này để giải quyết vấn đề cú trong tiếng
Việt. Các tiêu chí nhận diện được chia theo hai nhóm: nhóm các tiêu chí về
ngữ nghĩa và nhóm các tiêu chí về ngữ pháp - từ vựng. Trong chương này
chúng tôi dành một phần (3.5) để so sánh giữa việc khái luận cú theo quan
điểm truyền thống với cú theo quan điểm của ngôn ngữ học chức năng hệ
thống từ đó chỉ ra tính chất ưu việt của ngôn ngữ học chức năng hệ thống
trong việc giải quyết vấn đề câu.
18
Chương 1
CÚ PHÁP - NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG VÀ VIỆC NGHIÊN
CỨU CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT
1.1 Đôi tượng của cú pháp học, môi quan hệ giữa từ pháp và cú pháp
Cú pháp là một trong hai bộ phận tạo thành của ngữ pháp. Cú pháp là
của từ pháp học với cú pháp học và vấn đề đối tượng và đơn vị cơ sỏ' của cú
pháp học là gì. Nguyễn Kim Thản cho rằng ranh giới giữa từ pháp và cú
pháp là khá rõ ràng. Theo ông “từ pháp học nghiên cứu sự biến hình của từ,
những đặc tính ngữ pháp của từng loại từ, nghĩa là đối tượng nghiên cứu của
nó được xem xét như là những đơn vị riêng lẻ ớ trong từ tổ và trong câu.
Còn đối tượng của cứ pháp thì vượt ra ngoài phạm vi của một đơn vị riêng
lẻ: đó là sự kết hợp của các đơn vị ấy. Có khi cú pháp học cũng đề cập đến
“một từ” (như “một câu từ” chẳng hạn) nhưng ở đó nó phải được xem xét về
đặc tính ngũ' pháp, khá năng kết hợp .v.v mà ở đó nó được coi là một câu,
một đơn vị của lời nói” (Nguyền Kim Thản - 1997: 382, 383). Ông cũng
cho rằng, không thể cắt rời hai bộ môn đó, coi chúng không có quan hệ gì
với nhau. Chúng không phải là một nhưng có quan hệ bổ sung cho nhau. Vì
thế, nghiên cứu hoạt động của một từ nào đó lại phải đặt trong khả năng kết
hợp từ vựng và kết hợp cú pháp.
Vấn đề thứ hai đối tượng và đơn vị cơ sở của cú pháp học là gì. Theo
Hoàng Trọng Phiến “Câu không phải là hình thức của các mối quan hệ sơ
đẳng đó (mối quan hệ cú pháp mang đặc trưng của mô hình cấu trúc ngũ'
pháp). Câu là đơn vị ký hiệu ngôn ngữ có tuyến tính cực đại”. Với tiếng
Việt, “tiếng một” là đơn vị được phân lập, đơn vị có giới hạn của cấp độ câu
nhưng tù' vẫn chưa phải là đơn vị cú pháp nhỏ nhất mặc dù nó là một trong
những vật liệu tạo nên câu. Cho nên, từ được xét ở địa hạt cú pháp học là
xét đến mối quan hệ tạo ra phát ngôn, phân biệt với từ được xét trong từ
pháp học. Theo ông, đối tượng nghiên cứu của cú pháp học là các phạm trù
ngữ pháp của câu, các kiểu quan hệ, các phương thức và các dạng thức biểu
20
diễn quan hệ cú pháp của câu. Việc xác định đối tượng của cú pháp học cần
căn cứ cả ở mặt tổ chức và cả ở mặt chức năng. Do đó, đổi tượng của cú
pháp học là câu trong tính nhiều mặt của nó (Hoàng Trọng Phiến - 1980:
10
,
ta phải đặt chúng trong mối những mối quan hệ. Khác với các ngôn ngữ
biến đổi hình thái người ta có thể dựa vào hình thức cú pháp để tìm ra số
lượng quan hệ cú pháp, Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập từ không biến
đổi hình thái cho nên phải dựa trên khả năng kết hợp cú pháp mà phát hiện
các thuộc tính ngữ pháp của từ. Một số ý kiến cho ràng, giữa tù' với từ có
bốn quan hệ ngữ pháp: quan hệ liên hợp, chi phối, bổ sung, phụ thuộc. Có
những ý kiến khác lại cho rằng mối quan hệ ấy còn nhiều hơn bao gồm cả
những quan hệ như: tường thuật, thời gian, không gian, số lượng v.v.
Trong ba loại ý nghĩa ngữ pháp: ý nghĩa tự thân, ý nghĩa phạm trù và
ý nghĩa quan hệ của tiếng Việt. Loại ý nghĩa quan hệ được quan tâm hon cả.
Về cơ bản tiếng Việt có ba kiểu quan hệ chủ yếu sau: quan hệ liên hợp song
song, quan hệ chính - phụ, quan hệ Đề - Thuyết (hay Chủ - Vị) trong ba
loại này có thể phân chia cụ thể hơn. Trong 3 kiểu quan hệ trên, kiểu quan
hệ Đề - Thuyết (Chủ - vị) là kiểu quan hệ của (nòng cốt) câu đon tiếng
Việt. Tuy nhiên giữa quan hệ đề - thuyết và chủ - vị không phải là đồng
nhất. Điều này đã gợi ý rằng, xét về cấu trúc, dựa trên hình thức của cặp
quan hệ này sẽ đưa đến những kết quả không giống nhau. Nhu' vậy sẽ có
bốn hay ba kiểu quan hệ?
Điều này cũng gợi ra rằng, giữa quan hệ ngữ pháp và hình thức ngữ
pháp không hẳn có sự trùng khớp. Nguyễn Kim Thán đã chỉ ra trong nhiều
trường hợp nếu chỉ căn cứ vào hình thức ngữ pháp thì khó có thể xác định
được quan hệ ngữ pháp. Ví dụ “Tôi làm thợ ’ và “Tôi làm bùi". Quan hệ ngũ'
pháp của hai trường hợp này là khác nhau. Theo ngữ pháp truyền thống lấy
lô gích ngữ nghĩa làm cơ sở, “bàr chỉ đối tượng khách quan ngoài “tó/”,
“làm” ở câu thứ nhất do vậy là ngoại động từ cho nên “bài' là bổ ngữ trực
tiếp còn “thỢ' là đồng nhất với utôf', nên “lầm” ở câu thứ 2 là nội động làm
môi giới giữa bộ phận chủ ngữ và vị ngũ'. Ý kiến này đúng nhưng chỉ một
phần vì chỉ dựa trên cơ sở thuần lý chứ chưa dựa trên cơ sở khách quan. Có
thể kiểm tra điều này bằng thao tác cải biến, kết quả cho thấy, ở nhiều
trường hợp khác, hai hình thức này không còn đồng nhất. Do vậy, nếu chỉ
23
đạt được nhiều thành tựu về từ pháp hơn là cú pháp. Mặc dù vậy, những
thành tựu về cú pháp học của họ lại có ảnh hướng sâu rộng và cho đến ngày
nay, dấu ấn của nó vẫn còn đậm nét trong ngôn ngữ học hiện đại.
ở Trung Quốc thời kì này, nhũng nghiên cứu về ngôn ngữ còn rất nhỏ
lẻ chưa thành một hệ thống. Những nghiên cứu chủ yếu tập trung chủ yếu
vào việc giải thích một vài hiện tượng ngũ' pháp.
Trong một thời gian dài sau đó “kỉ nguyên trưng đại” nghiên cứu cú
pháp trên thế giới chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết học. Sự lớn mạnh của
nhà thờ đã giúp cho tiếng La tinh được quảng bá rộng rãi. Với yêu cầu mô
tả ngữ pháp phải được lồng ghép vào triết học, điều này đã đem lại những
thay đổi lớn về quan điểm: phải công nhận dứt khoát những thay đổi trong
các định nghĩa về khoa học ngôn ngữ (R.H. Robins - 2003: 147). Thời kỳ
này nghiên cứu cú pháp cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ lô gích học tạo ra
một loại ngũ' pháp mà sau này nó được gọi với cái tên “ngữ pháp duy lý”.
Và chỉ đến giữa thế kỉ 19 người ta mới nhận thấy giữa lô gích và ngũ' pháp
không phải là đồng nhất.
Nhũng năm 20 - 30 của thế kỷ 20 đánh dấu sự phát triển mạnh của
chủ nghĩa cấu trúc. Ba trường phái (miêu tả Mỹ, Copenhague, câu lạc bộ
ngôn ngữ học Praha)- đại diện của chủ nghĩa cấu trúc đều có chung một
xuất phát điểm đó là tính hệ thống của ngôn ngữ. Nhưng mỗi trường phái lại
có nhưng cách-tiếp cận vấn đề riêng theo cách của mình {Đỗ Hữu Châu &
Bùi Minh Toán 2002: 215). Các nhà cấu trúc luận phản đối việc phân chia
ngữ pháp thành từ pháp và cú pháp. Họ coi ý nghĩa của đơn vị ngôn ngũ' là ở
bên ngoài ngôn ngữ và chỉ chứ trọng đến mối quan hệ giữa các âm vị từ tố.
Do vậy, quy tắc cấu tạo câu chỉ còn rút lại ở một số các công thức. Sự kết
hợp của các từ tố không cần đêm xỉa gì đến ý nghĩa (theo Nguyền Kim
Thản 1997: 384).
Ngay sau cấu trúc luận là thời kỳ của ngữ pháp tạo sinh và cải biến
tạo sinh. Trong địa hạt cú pháp: ngữ pháp tạo sinh đã đạt được nhiều thành