ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ QUYÊN ĐỊA DANH CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH
PHỦ THƢỜNG TÍN (HÀ NỘI) THỜI NGUYỄN Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Việt Thanh HÀ NỘI - 2014
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội – những người đã dạy dỗ và giúp đỡ em
trong thời gian học vừa qua.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn tới gia đình, bạn bè và những
người thân yêu đã luôn sát cánh, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt
quá trình học tập và thực hiện Luận văn.
Tuy em đã rất cố gắng nhưng luận văn có lẽ khó tránh khỏi những hạn
chế, thiếu sót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp và nhận xét của
các thầy giáo, cô giáo và các bạn để em có thể phát triển đề tài này ở cấp độ
cao hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Quyên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3. Mục đích nghiên cứu 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
6. Phương pháp nghiên cứu 6
CHƢƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH 72
PHỦ THƢỜNG TÍN (HÀ NỘI) THỜI NGUYỄN 72
3.1. Ý nghĩa địa danh hành chính phủ Thƣờng Tín (Hà Nội) thời Nguyễn 72
3.1.1. Địa danh kí hiệu 73
3.1.2. Địa danh đăng ký 74
3.1.3. Địa danh thể hiện ước vọng 75
3.1.4. Địa danh mô tả 77
3.1.5. Địa danh mang yếu tố lịch sử 80
3.2. “Húy” trong địa danh hành chính phủ Thƣờng Tín (Hà Nội) thời
Nguyễn 84
3.2.1. Quy tắc “kiêng húy” 85
3.2.2. Phương pháp “kiêng húy” 85
3.4. Tiểu kết 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Địa danh, theo cách hiểu thông thường, là tên gọi của địa hình thiên
nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ là
đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học như lịch sử, địa lí, dân tộc
học, văn hoá học.
Tìm hiểu về địa danh là mảng đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm. Địa danh không đơn thuần là tên gọi của một đối tượng cụ thể mà còn ẩn
sau đó những trầm tích lịch sử, văn hoá, những yếu tố thuộc về nếp sống,
phong tục tập quán của mỗi vùng miền. Sự định hình, phát triển, trường tồn
hay biến đổi và mất đi của một địa danh thường gắn với một lí do văn hoá
1.3. Phủ Thường Tín thời Nguyễn là một vùng đất được xác định về
diên cách như sau: “Đông tây cách nhau 20 dặm, nam bắc cách nhau 50 dặm.
Phía đông đến sông Nhị đối ngạn với địa giới huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh
và địa giới huyện Đông Yên thuộc tỉnh Hưng Yên 10 dặm, phía tây đến địa
giới huyện Thanh Oai phủ Ứng Hòa 10 dặm, phía nam đến địa giới huyện
Duy Tiên phủ Lý Nhân 32 dặm, phía bắc đến địa giới các huyện Thọ Xương
và Vĩnh Thuận phủ Hoài Đức 22 dặm” [37; tr.189].
1.4. Nhiều công trình nghiên cứu địa danh Hà Nội thế kỷ 19 trong đó
có nhắc tới hệ thống địa danh hành chính của phủ Thường Tín, tiêu biểu là
Các tổng trấn xã danh bị lãm (1810-1813), Bắc Thành địa dư chí lục (1818 -
1820), Địa bạ cổ Hà Nội (1837), Hà Nội địa bạ (1866), Đồng Khánh địa dư
chí (1885-1888), Đại Nam Nhất thống chí (1910) Trong số đó nhiều tư liệu
đã được chuyển dịch từ tiếng Hán hoặc tiếng Nôm ra tiếng Việt hiện đại.
Những tư liệu trên cho phép nghiên cứu hệ thống địa danh các đơn vị hành
chính Hà Nội, thông qua đó góp phần tìm hiểu những đặc điểm về lịch sử, văn
hóa, địa lý của Thăng Long - Hà Nội thế kỷ 19. Tuy nhiên về cơ bản,
những công trình này mới dừng lại ở việc liệt kê những địa danh hành chính 3
của Phủ mà chưa có công trình nào lấy hệ thống địa danh hành chính của phủ
Thường Tín làm đối tượng nghiên cứu riêng từ góc độ ngôn ngũ học.
Với mong muốn tìm hiểu một cách tương đối hệ thống về hệ thống địa
danh hành chính phủ Thường Tín (Hà Nội) thời Nguyễn theo phương pháp
ngôn ngữ học nhàm chỉ ra những đặc điểm, mô hình cấu tạo, quy luật phát
triển, biến đổi của ngôn ngữ địa danh cũng như các giá trị lịch sử, văn hoá kết
tinh sau mỗi tên gọi, chúng tôi lựa chọn đề tài “Địa danh các đơn vị hành
chính phủ Thường Tín (Hà Nội) thời Nguyễn.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Năm 1888 Đồng Khánh 3, triều đình nhà Nguyễn nhượng đất Hà Nội
cho Pháp làm “đất nhượng địa”. Sau đó, chính quyền thực dân thành lập thành
phố Hà Nội, những phần còn lại thuộc về tỉnh Hà Nội.
- Năm 1899, huyện Hoàn Long được thành lập, gồm phần đất còn lại
của hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận (trừ những khu vực đã được lấy
thành phố) và một số xã thôn của hai huyện Từ Liêm, Thanh Trì lập một
huyện mới là huyện Hoàn Long, làm huyện ngoại thành thành phố Hà Nội.
Lúc này, địa giới hành chính của phủ Thường Tín bị thu gọn.
- Năm 1902, tỉnh lỵ Hà Nội được dời đến xứ Cầu Đơ rồi đổi thành tỉnh
Cầu Đơ. Năm 1904, tỉnh Cầu Đơ được đổi thành tỉnh Hà Đông. Lúc này, phủ
Thường Tín với 3 huyện Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên vẫn được giữ
nguyên và chuyển về tỉnh Hà Đông.
Vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX), phủ Thường Tín là một đơn vị hành
chính lớn với nhiều nét văn hóa đặc trưng cùng một số làng nghề nổi tiếng.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là địa danh hành chính của phủ
Thường Tín thời Nguyễn qua các tư liệu Hán Nôm như:
+ Các trấn tổng xã danh bị lãm (CTTX), 5
+ Bắc Thành địa dư chí lục (BTĐD),
+ Đồng Khánh dư địa chí (ĐKĐD),
+ Hà Nội địa bạ (HNĐB),
+ Danh mục làng xã Hà Nội cuối thế kỷ XIX.
+ Hà Đông xã trang thôn trại bạ,
+ Địa chí tỉnh Hà Nội kèm theo bảng thống kê các làng và chợ trong tỉnh,
+ Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ,
+ Hà Đông toàn tỉnh tổng xã thôn danh sách.
Các tư liệu này đã được TS Nguyễn Thúy Nga dịch và tổng hợp trong
được xuất hiện trong “Tên làng xã Việt Nam thế kỉ XIX” bấy giờ thuộc trấn
Sơn Nam Thượng. Lịch sử hình thành, biến đổi của các địa danh hành chính
và tên làng xã phủ Thường Tín còn được giới thiệu trong các sách “Đồng
Khánh địa dư chí” (biên soạn vào đời Đồng Khánh), “Đất nước Việt Nam qua
các đời” (Đào Duy Anh), “Địa chí Hà Tây” (Đặng Văn Tu – Nguyễn Tá Nhí
chủ biên). Những công trình trên đã phản ánh tổng quan diện mạo của địa
danh hành chính phủ Thường Tín theo dòng lịch sử. Tuy nhiên, trong các
công trình nghiên cứu này, nhiều địa danh chỉ được kể tên trong những chứng
tích lịch sử mà ít khi được chú trọng với tư cách là đối tượng nghiên cứu trực
tiếp. Bức tranh địa danh hành chính phủ Thường Tín (Hà Nội) qua các giai
đoạn biến động của thời Nguyễn mới chỉ được mô tả khái quát và hầu hết là
nhìn nhận dưới góc độ liệt kê tên các đơn vị hành chính chứ chưa có công
trình nào đề cập tới địa danh hành chính phủ Thường Tín (Hà Nội) với tư
cách là một đối tượng nghiên cứu độc lập.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Thu thập, xử lí tư liệu: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để
thống kê, khảo cứu, lí giải địa danh. Các nguồn ngữ liệu được thống kê, tổng
hợp trong các văn bản thời Nguyễn (văn bản Hán Nôm, tiếng Pháp) là nguồn
tư liệu quan trọng cho luận văn. 7
6.2. Phương pháp miêu tả: Thông qua phương pháp miêu tả địa danh
về mặt nội dung và hình thức, chúng tôi rút ra được những nhận xét về đặc
điểm các mặt cấu tạo của địa danh, phương thức định danh và những biểu
hiện văn hoá của địa danh ở các loại hình khác nhau.
6.3. Phương pháp nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - lịch sử- văn
hóa: Những kết quả đạt được của luận văn là tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu đặc trưng của ngôn ngữ học, dân tộc học, văn hóa học, văn học…
Từ những cách thức tiếp cận ấy chúng tôi sẽ cố gắng nêu bật những giá trị
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Những lí luận chung về địa danh và địa danh học
1.1.1. Địa danh
1.1.1.1. Khái niệm
“Địa danh” là một thuật ngữ có nguồn gốc từ một tiếng Hy Lạp cổ là
Toponima hay Topoma. Trong thời gian gần đây, thuật ngữ này được thay thế
bằng một từ ghép place – names nghĩa tiếng Việt là “tên gọi vị trí hay điểm
địa lí”.
Địa danh là là một thuật ngữ vốn xuất hiện từ thế kỷ 18, song có nhiều
quan điểm khác nhau về khái niệm này như:
Theo A.V. Superanxkaja địa danh là “tên gọi các đối tượng địa lý khác
nhau, địa hình trên bề mặt trái đất. Địa danh đánh dấu các tên gọi địa lý
bằng các từ. Địa danh gần gũi với tên người, tên động vật” [38; tr.11].
Còn theo G.M.Kert thì địa danh là tên gọi được đặt cho các đối tượng
địa lý, ra đời trong một khu vực có người sinh sống, được tạo ra bởi một cộng
đồng dân cư, một tộc người. Chúng là một phần không thể thiếu được trong
cuộc sống hàng ngày và các hoạt động chính trị - xã hội ở nơi đó.
Ở Việt Nam, địa danh từng là đối tượng chú ý của nhiều nhà nghiên
cứu từ các góc độ khác nhau. Tại các tác phẩm nổi tiếng như Đại Việt sử ký
hay các công trình địa bạ, địa chí, các địa danh luôn là những dấu hiệu quan
trọng để ghi dấu hay nhận diện những sự kiện quan trọng của các vùng đất
hay của đất nước.
Từ góc độ ngôn ngữ học, định nghĩa về địa danh cũng đã được không ít
nhà nghiên cứu quan tâm như:
Hoàng Phê, trong Từ điển tiếng Việt, định nghĩa: “Địa danh là tên gọi
các miền đất”, là “tên đất, tên địa phương” [36]. Đây là cách định nghĩa đơn
giản, tối lược, chưa bao quát được đầy đủ nội hàm của khái niệm địa danh.
11
- G.P.Xmolixkaja và M.V. Gorbanhexki trong tác phẩm Địa danh
Matxcơva đã chia địa danh thành các loại là: phương danh (tên gọi các điểm
dân cư); thuỷ danh; sơn danh; phố danh (tên gọi đối tượng trong thành phố).
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cũng đưa ra cách phân loại khác nhau:
- Trần Thanh Tâm là một trong những người đầu tiên đưa ra hệ thống
phân loại địa danh ở Việt Nam. Ông phân chia địa danh thành các loại khác
nhau căn cứ vào: đặc điểm; vị trí không gian và thời gian; tôn giáo và tín
ngưỡng; hình thái, chất đất, khí hậu; nghề nghiệp, đặc sản, tổ chức kinh tế;
hoạt động của con người.
- Khác với quan điểm của Trần Thanh Tâm, Nguyễn Văn Âu chia địa
danh thành 2 loại: Địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội với 7 kiểu:
thuỷ danh, lâm danh, sơn danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành phố, quốc gia
và 12 dạng: sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, truông - trảng, làng -
xã, huyện - quận, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc gia [3]. Cách phân loại này
cụ thể, dễ thống kê. Tuy nhiên lại đi quá chi tiết nên mất đi tính khái quát.
- Lê Trung Hoa trong “Các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa
danh” đã dựa vào tiêu chí đối tượng định danh và nguồn gốc ngôn ngữ để
phân loại địa danh:
+ Xét theo đối tượng, địa danh được phân thành 2 loại: tự nhiên và
không tự nhiên. Địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân tạo gồm 3 kiểu loại: địa
danh chỉ các công trình xây dựng, địa danh chỉ các đơn vị hành chính và địa
danh chỉ các vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng. Trong mỗi kiểu loại,
tác giả lại có những chia tách nhỏ hơn. Trong “Địa danh, những tấm bia lịch
sử, văn hóa của đất nước”, ông đã chia địa danh chỉ công trình xây dựng
thành 4 nhóm: sinh hoạt cư trú (nhà, chung cư, cư xá,…), sinh hoạt kinh tế
(ruộng, chợ, lò, phố xá, nông trường,…), sinh hoạt giao thông (bến (xe, đò),
cầu, đường, quán, phà, bắc,…), sinh hoạt tâm linh (chùa, miếu đình, võ (dỏ),
nhà thờ,…).
xây dựng
Công trình
văn hóa,
tâm linh,
tôn giáo 13
Trong luận văn, chúng tôi lựa chọn đối tượng nghiên cứu là nhóm địa
danh hành chính.
Địa danh hành chính nằm trong hệ thống địa danh chung, thuộc về hệ
thống địa danh không tự nhiên theo cách phân loại của Lê Trung Hoa và
Nguyễn Kiên Trường. Đây là các đơn vị, tổ chức hành chính do chính quyền
quy định và thường xuyên thay đổi theo chính quyền hoặc thể chế chính trị,
do vậy tính ổn định thường kém hơn nhiều so với các địa danh tự nhiên vốn
hình thành một cách tự phát và được lưu truyền, bảo tồn trong dân gian từ đời
này sang đời khác.
1.1.2. Khái quát chung về phức thể địa danh
1.1.2.1. Khái niệm “Phức thể địa danh”
Một trong những thao tác khoa học đầu tiên khi nghiên cứu địa danh
học chính là việc nhận diện chính xác địa danh trên dòng ngữ lưu của nó.
Ví dụ như trong cụm từ “xã Phượng Dực” (tổng Phượng Dực, huyện
Thượng Phúc) thì cả hai yếu tố “xã” và “Phượng Dực” đều là địa danh hay
chỉ có “Phượng Dực” mới là địa danh và phải viết hoa? Có nhiều cách nhìn
khác nhau về vấn đề này. Mỗi nhà nghiên cứu địa danh khi đưa ra quan
niệm về địa danh cũng đã xác định vấn đề này:
Theo Lê Trung Hoa, địa danh chỉ gói gọn trong một danh từ riêng để
xác định và khu biệt sự vật. Danh từ chung đi trước như từ “thôn” trong cụm
từ “thôn Giáp Bát”, cụm từ “xã” trong “xã Đồng Nhân Châu” chỉ mang ý
nghĩa chỉ loại, sử dụng kèm theo địa danh và không dùng hình thức viết hoa.
thành tố chung và thành tố riêng, đó là khái niệm phức thể địa danh. Theo tác
giả, “phức thể địa danh là một cụm từ có chứa địa danh, một thể phức hợp 2
yếu tố: yếu tố chung chỉ loại địa hình của đối tượng được định danh, yếu tố
riêng là tên gọi mang giá trị phản ánh, khu biệt. Trong một phức thể địa 15
danh, chỉ yếu tố thứ 2 mới được coi là địa danh và được ghi lại dưới hình
thức viết hoa” [33].
Việc xem xét vai trò, vị trí của thành tố chung đối với địa danh phải tuỳ
vào mục đích nghiên cứu, hướng tiếp cận để có cách biện giải phù hợp, không
nên tán đồng hay bác bỏ cực đoan.
Chúng tôi tán thành với cách hiểu của các nhà nghiên cứu kể trên và sẽ
sử dụng thuật ngữ phức thể địa danh khi nghiên cứu về mặt cấu tạo địa danh
hành chính phủ Thường Tín (Hà Nội) thời Nguyễn trong luận văn của mình.
1.1.2.2. Mô hình cấu tạo phức thể địa danh
Một mô hình phức thể địa danh sẽ có những đặc điểm sau:
- Về cấu tạo, mô hình phức thể địa danh gồm 2 bộ phận: bộ phận thứ
nhất được gọi là yếu tố chỉ loại, tên chung, thành tố chung, thành tố thứ nhất,
thành tố A…; bộ phận thứ hai gọi là phần định danh hay tên riêng, thành tố
riêng, thành tố B Trong luận văn này, chúng tôi sẽ gọi hai bộ phận trên lần
lượt là thành tố chung/ yếu tố chỉ loại và thành tố riêng/ phần định danh.
Yếu tố chỉ loại
Yếu tố định danh
huyện
tổng
xã
thôn
người ta liên tưởng tới hình dáng, lịch sử, sự tích gắn với sự hình thành của
địa danh. Tuy nhiên, không có ít trường hợp không theo quy luật đó. Do đó,
khi lý giải tên của một địa danh nào đó, cần có sự xem xét khách quan, kĩ
lưỡng địa danh đó trong mối quan hệ với văn hóa, lịch sử của vùng đất. Quá
trình này là quá trình tìm hiểu phương pháp đặt tên, còn gọi là phương thức
định danh của đối tượng địa lí.
“Phương thức định danh luôn sử dụng các yếu tố có nghĩa để định
danh cho đối tượng một cách phù hợp với đặc điểm, tính chất, mối quan hệ
của đối tượng địa lí với nguyện vọng, tâm lí của người định danh. Ngược
lại, nhờ phương thức định danh mà ý nghĩa địa danh và ý nghĩa của các
yếu tố cấu tạo được thể hiện rõ qua từng địa danh cũng như từng loại địa
danh” [33; tr.101]. 17
1.1.3.2. Mối quan hệ giữa phương thức định danh với cấu tạo và ý nghĩa
của địa danh
a. Giữa phương thức định danh với cấu tạo và ý nghĩa của địa danh có
mối quan hệ gắn bó chặt chẽ. Qua việc tìm hiểu cấu tạo của một địa danh ta
có thông tin về cấu trúc và nguyên tắc đặt tên. Trong đó, cấu trúc của địa danh
là cấu tạo ngữ pháp của địa danh đó. Còn nguyên tắc đặt tên thể hiện qua việc
trả lời câu hỏi: Đặt tên dựa vào cái gì? Gọi theo cái gì?
Ví dụ: Trong địa danh xã Xâm Động (thuộc tổng Xâm Thị, huyện
Thanh Trì), cấu trúc của nó được thể hiện ở kết cấu chính phụ. Trong đó,
“Xâm” là yếu tố chính được lấy từ yếu tố đầu của địa danh tổng Xâm Thị,
“Động” là yếu tố phụ đi sau có chức năng phân biệt xã Xâm Động với các
xã khác trong tổng như Xâm Thị, Xâm Dương, Xâm Xuyên, Xâm Hồ Bên
cạnh đó, về nguyên tắc đặt tên, địa danh Xâm Động mang tính khu biệt: tổng
Xâm Thị có một xã mà trong xã đó có một cái động.
b. Bất kỳ một phức thể địa danh nào cũng mang trong mình hai thông
+Phương thức vay mượn.
a. Phương thức tự tạo
Phương thức tự tạo là phương thức mà người định danh sử dụng các
yếu tố ngôn ngữ có sẵn, tạo ra một tên gọi theo cách của mình để định danh
cho sự vật, hiện tượng. Phương thức tự tạo được tiến hành bằng năm cách
thức với năm cơ sở khác nhau: (1) Dựa vào đặc điểm của chính bản thân đối
tượng; (2) Dựa vào sự vật, yếu tố có quan hệ chặt chẽ đến đối tượng (xã Xâm
Động, xã Tự Nhiên Châu ); (3) Ghép các yếu tố; (4) Dùng số đếm hoặc chữ
cái; (5) Dùng yếu tố và số đếm, chữ cái để kết hợp, tạo ra địa danh phái sinh
hoặc hỗn hợp (thôn Giáp Nhất, thôn Giáp Nhị, thôn Giáp Bát )
Trong 3 phương thức định danh thì đây là phương thức thường gặp
nhất, nó phản ánh trực tiếp đặc điểm của đối tượng hay liên quan đến đối
tượng. Chính vì thế, những địa danh được cấu tạo theo phương thức này luôn
có giá trị phản ánh đặc trưng văn hóa địa phương rất cao. 19
b. Phương thức chuyển hóa
Phương thức định danh bằng cách chuyển hóa là phương thức lấy tên
của một đơn vị địa lý này để gọi tên một đối tượng địa lý khác. Trong quá
trình chuyển hóa, địa danh mới có thể giữ nguyên địa danh cũ hoặc là được
thêm vào một yếu tố mới.
Thông thường, kết quả của sự chuyển hóa là một hoặc một số địa danh
mới sẽ song song tồn tại cùng địa danh cũ. Sự chuyển hóa có thể xảy ra trong
nội bộ một loại địa danh hoặc xảy ra giữa các loại địa danh với nhau.
Có 3 phương thức chuyển hóa cơ bản như sau: chuyển hóa trong nội bộ
loại hình, chuyển hóa giữa các loại hình và chuyển hóa từ nhân danh sang địa danh.
Ví dụ: từ phức thể địa danh “tổng Vĩnh Đặng” (huyện Thanh Trì)
chuyển hóa thành phức thể địa danh khác cùng chứa yếu tố “Vĩnh Đặng” là xã
Vĩnh Đặng.
này sẽ được chúng tôi đi vào chi tiết ở chương 2 của luận văn.
1.2. Khái quát về địa bàn nghiên cứu
Phủ Thường Tín (Hà Nội), vào đầu thời Nguyễn (Gia Long), là một
vùng đất thuộc trấn Sơn Nam Thượng, lệ thuộc Bắc Thành (Bắc Thành giai
đoạn này gồm thành Thăng Long và 11 trấn thuộc). Đến năm Minh Mệnh 12
(1931), khi chia đặt tỉnh thì phủ Thường Tín thuộc tỉnh Hà Nội với 3 huyện
là: Thanh Trì, Thượng Phúc và Phú Xuyên.
Về mặt diên cách, theo Đại Nam nhất thống chí (tập 3) của Quốc sử
quán triều Nguyễn [37; tr.190 - tr.191] thì:
Huyện Thượng Phúc: đông tây cách nhau 20 dặm, nam bắc cách nhau
23 dặm. Phía đông đến sông Nhị đối ngạn với địa giới huyện Đông Yên tỉnh
Hưng Yên 10 dặm, phía tây đến địa giới hai huyện Sơn Minh và Thanh Oai
phủ Ứng Hòa 10 dặm, phía nam đến địa giới huyện Phú Xuyên 19 dặm, phía
bắc đến địa giới huyện Thanh Trì 4 dặm.