Khảo sát năng lực sử dụng từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc của học viên học tiếng Việt như một ngoại ngữ (học viên ở trình độ C và trên C - Pdf 26

I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN
*** l-ơng hoàng nga khảo sát năng lực sử dụng từ tình thái
và cách nói biểu thị cảm xúc của học viên
học tiếng việt nh- một ngoại ngữ
(học viên ở trình độ c và trên c)
LUậN VĂN THạC Sĩ ngôn ngữ học Hà Nội, 2008

Hà Nội, 2008 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1

CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT
7

1.1. Lý thuyết về nghĩa tình thái của câu 7
1.1.1. Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học 7
1.1.2. Vấn đề phân loại các ý nghĩa thuộc phạm trù tình thái 10
1.1.3. Phương tiện biểu thị nghĩa tình thái 17
1.2. Giao tiếp và cảm xúc trong giao tiếp 20
1.2.1. Giao tiếp và cảm xúc trong giao tiếp 20
1.2.2. Phương tiện biểu thị cảm xúc 21
CHƢƠNG 2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT NĂNG LỰC SỬ DỤNG TỪ TÌNH THÁI VÀ
CÁCH NÓI BIỂU THỊ CẢM XÚC CỦA HỌC VIÊN HỌC TIẾNG VIỆT NHƢ MỘT
NGOẠI NGỮ (TRÌNH ĐỘ C VÀ TRÊN C)
25

2.1. Kết quả định lƣợng 25
2.1.1. Kết quả định lượng qua bài thi trình độ C 25
2.1.2. Kết quả định lượng qua băng ghi âm 28
2.1.3. Kết quả định lượng qua bài tập kiểm tra trình độ 33
* Tiểu kết 38
2.2. Kết quả định tính 39
2.2.1. Từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc được học viên nắm bắt

101

TÀI LIỆU THAM KHẢO
…………………………………………………… 101
PHỤ LỤC
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay việc học tiếng Việt đã trở thành nhu cầu thiết yếu của nhiều
người nước ngoài. Công tác nghiên cứu về hoạt động dạy và học tiếng Việt
như một ngoại ngữ cũng có những chuyển biến mới. Hàng năm các cuộc hội
thảo, các hội nghị khoa học về “Tiếng Việt cho người nước ngoài” đã được tổ
chức cả trong và ngoài nước. Ngày càng có nhiều người viết về những vấn đề
xung quanh việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, từ những bài viết
nhỏ nhằm trao đổi kinh nghiệm cho đến cả những công trình nghiên cứu khá

quát lên tình hình chung.
2. Lí giải nguyên nhân có tình hình như trên.
4. Đối tƣợng khảo sát
Nói chung đối tượng được khảo sát là các học viên học tiếng Việt như
một ngoại ngữ ở trình độ C và trên C (trình độ của người học được đánh giá
bằng số lượng, chất lượng các giáo trình họ đã học. Tuy nhiên có những học
viên học tiếng Việt không theo trình tự các giáo trình vì thế cũng có thể đánh
giá trình độ của họ theo thời gian đã học tiếng Việt.)
Tuy nhiên cũng cần nói thêm rằng đối tượng học như thế nào là vấn đề
rất quan trọng đối với hoạt động giảng dạy cũng như việc nghiên cứu hoạt
động này nên đối tượng nghiên cứu của đề tài cũng được chọn lọc và phân
loại kỹ lưỡng.
Đối tượng cụ thể như sau:
Chủ yếu là học viên đã và đang học tiếng Việt ở khoa Việt Nam học và
Tiếng Việt - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Đối tượng khảo sát ở những lứa tuổi khác nhau, có sở thích, thói quen
khác nhau, đến từ những nước khác nhau và có mục đích học tập khác nhau.

5
Vì thế khi làm việc chúng tôi chú ý tới đối tượng nghiên cứu theo các
tiêu chí sau:
1. Quốc tịch, lứa tuổi, cá tính.
2. Mục đích học tiếng Việt
3. Thời gian đã học tiếng Việt.
4 Thời gian tự học tiếng Việt.
5. Thời gian tiếp xúc với người bản ngữ.
5. Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cho thấy rõ những mặt mạnh và
mặt yếu trong sử dụng từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc của học viên,
từ đó người ta có thể ứng dụng để giải quyết vấn đề về phương pháp học,

cách nói biểu thị cảm xúc.
Chương 3. Những nhân tố ảnh hưởng tới năng lực sử dụng từ tình thái
và cách nói biểu thị cảm xúc của học viên nước ngoài.Một số đề xuất của
người nghiên cứu
Chương này phân tích rõ những yếu tố ảnh hưởng quyết định tới tình
hình sử dụng ngôn ngữ của học viên như chương 2 đã trình bày. Cuối cùng
trên cơ sở những phân tích, tổng hợp và những nhận định người viết có được
trong quá trình nghiên cứu, cũng như qua thực nghiệm, luận văn xin đưa một
số đề xuất về cách học hiệu quả cho học viên, một cách dạy tích cực đối với
giáo viên và một số đề xuất cho công tác biên soạn giáo trình.

7
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT
1.1. Lý thuyết về nghĩa tình thái của câu
1.1.1. Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học
Khái niệm tình thái vốn xuất phát từ trong logic học. Trong logic học,
nội dung mệnh đề thường được chia ra làm hai phần: ngôn liệu và tình thái.
Ngôn liệu là cái tập hợp gồm vị ngữ logic và các thành tố của nó, được xem
xét như mối liên hệ tiềm năng. Còn tình thái là cách hiện thực mối liên hệ
tiềm năng ấy là hiện thực hay phi hiện thực; tất yếu hay không tất yếu, có khả
năng hay không có khả năng. Do chỗ chỉ quan tâm đến giá trị chân nguỵ của
nội dung mệnh đề, gạt bỏ đi vai trò chủ quan của người nói cùng nhiều nhân
tố khác nên “cái âm giai tình thái logic chỉ giới hạn trong tính hiện thực, tính
tất yếu và tính khả năng với những mức độ khác nhau của tính chất ấy và sự
phối hợp giữa các tính chất ấy” (16, tr50). Vậy là tình thái trong logic học chỉ
liên quan đến phạm trù tình thái khách quan. Cái tình thái miêu tả chỉ duy
nhất xoay quanh mối quan hệ giữa nội dung của điều được nói ra với thực tế.
T. Givon viết “… trong ngôn ngữ học tình thái đã được nhìn nhận và lý
giải từ góc độ dụng học với những sở chỉ rõ ràng về người nói, người nghe,

nghiên cứu nghĩa tình thái của câu. Tuy cách đặt vấn đề, hướng nghiên cứu có
nhiều điểm khác nhau nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất với
nhau ở một điểm là coi tình thái là một phạm trù ngữ nghĩa - chức năng, phản
ánh mối quan hệ khác nhau của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với
thực tế, phản ánh thái độ, cách đánh giá của người nói đối với nội dung miêu
tả trong câu, xét trong quan hệ với người nghe, với hoàn cảnh giao tiếp.
Cao Xuân Hạo, người đã nêu nhiều vấn đề đáng chú ý trong nghiên cứu
về tình thái, viết rằng “trong ngôn ngữ, các tình thái của phát ngôn làm thành

9
một bảng màu cực kỳ đa dạng, trong đó phần lớn có liên quan trực tiếp hay
gián tiếp đến tính hiện thực, tính tất yếu và tính khả năng, nhưng dưới nhiều
sắc thái khác nhau và có nhiều cách biểu hiện khác nhau.” (16, tr50). Chính
do “bảng màu cực kỳ đa dạng này” mà tình thái trở thành vấn đề hết sức phức
tạp trong ngôn ngữ. Các cuộc bàn luận về nội hàm của khái niệm tình thái cho
đến nay vẫn còn có nhiều quan điểm chưa được thống nhất.
Với tính chất của luận văn, chúng tôi không có ý định bàn luận thêm về
tính hợp lý hay phi lý của các quan điểm hiện có về khái niệm tình thái.
Chúng tôi chấp nhận một quan điểm phổ biến nhất về tình thái để thuận tiện
cho quá trình khảo sát. Chúng tôi đồng ý với quan điểm của hai tác giả Lê
Đông và Nguyễn Văn Hiệp cho rằng: để chỉ sự đối lập Modus và Dictum thì
dùng cặp thuật ngữ tình thái/ nội dung mệnh đề là hợp lý hơn cả. Vì như các
tác giả cũng đã chỉ ra, cặp thuật ngữ này tỏ ra bao quát và quen thuộc nhất.
Hơn nữa dùng thuật ngữ nội dung mệnh đề một mặt cho phép ta chỉ ra tính
tiềm năng của sự tình được biểu hiện, mặt khác nó không hoàn toàn trùng với
cách hiểu của lôgích học. Thêm vào đó cặp thuật ngữ này tạo điều kiện cho
việc cấu tạo các thuật ngữ khác như khung tình thái, nội dung mệnh đề của
hành vi ngôn ngữ…Khái niệm tình thái, theo đó, nên được hiểu theo nghĩa
rộng nhất như Bybee đã nói. Đó là “tất cả những gì mà người nói thực hiện
cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề” (dẫn theo 8, tr23). Nếu hiểu theo nghĩa

thân khái niệm tình thái là một khái niệm rộng lớn. Mỗi phát ngôn đều mang
trong mình một nghĩa tình thái nhất định nếu không muốn nói là còn có thể có
nhiều nghĩa tình thái chồng chéo lên nhau, đan bện vào nhau trong chỉ một phát
ngôn. Vì vậy việc làm rõ nội hàm của khái niệm tình thái đã là một vấn đề khó
khăn thì việc phạm trù hoá các ý nghĩa đó lại càng khó khăn hơn. Công việc này
đòi hỏi phải có quá trình phân tích tỉ mỉ và óc bao quát để sao cho kết quả các
phạm trù phải vừa rõ nghĩa lại vừa không bỏ sót các ý nghĩa bộ phận.

11
Th.s Đoàn Thị Thu Hà, trong luận văn tốt nghiệp của mình, nêu ý kiến
về vấn đề tình thái “là một phạm trù ngữ nghĩa – chức năng phản ánh mối
quan hệ, thái độ, cách đánh giá của người nói đối với nội dung của phần còn
lại trong câu”. Có hai loại tình thái: tình thái chủ quan và tình thái khách
quan. Trong đó tình thái chủ quan là kiểu tình thái mà ngôn ngữ học đặc biệt
quan tâm. Đúng như nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định “Các ý nghĩa tình
thái nhiều khi đan bện vào nhau làm thành một phổ liên tục không dễ gì quy
hoạch thành những kiểu loại những bình diện rõ ràng: “Nhiều khi một ý nghĩa
lại có thể đồng thời tham gia vào nhiều đối lập, thuộc nhiều bình diện khác
nhau.” “lại cũng có tình trạng là cùng dùng chung một thuật ngữ mà các tác
giả khác nhau có thể hiểu theo những cách khác nhau, hay cùng một hiện
tượng, cùng chấp nhận một cách phân loại mà tác giả này xếp vào kiểu loại
tình thái này, tác giả khác lại xếp vào kiểu loại tình thái khác …”. (19, tr15)
Theo đó, chúng ta đều biết rằng thế đối lập tình thái khách quan và tình thái
chủ quan là thế đối lập vẫn thường được nhắc tới. Thế nhưng cách hiểu thế
nào là tình thái khách quan và thế nào là tình thái chủ quan lại khác xa nhau.
Chẳng hạn: A.V.Bondarko khẳng định chỉ có hai nhóm ý nghĩa được các nhà
nghiên cứu công nhận là các ý nghĩa tình thái là:
- Tính khả năng, tính tất yếu, tính cần yếu. Nhóm này làm cơ sở cho
tình thái khách quan.
- Sự nghi ngờ, tính không chắc chắn, giả định khả năng và tính dứt

của người nói vào lúc nói. Theo đó họ thường nhấn mạnh tính chất chủ quan
của ngôn ngữ và nhận định chỉ có tình thái chủ quan mới là tình thái trong
ngôn ngữ học. Vì thế, nghiên cứu về tình thái trong ngôn ngữ tức là nghiên
cứu về tình thái chủ quan.
Một số nhà nghiên cứu khác cũng công nhận có một sự đối lập giữa
tình thái chủ quan và tình thái khách quan tuy nhiên dựa trên một tiêu chí

13
khác nên quan điểm về tình thái chủ quan và tình thái khách quan có phần
khác biệt. Chẳng hạn, các nhà ngôn ngữ học thuộc nhóm ngữ pháp chức năng
Hà Lan đã cho rằng:
- Tình thái khách quan thể hiện sự đánh giá dựa trên hiểu biết của
người nói về thực cách của sự tình và gồm hai tiểu loại: nhận thức và đạo
nghĩa, mỗi loại đều được biểu hiện trên một thang độ, từ chắc chắn đến không
thể, từ bắt buộc đến cấm đoán.
- Tình thái chủ quan lại biểu thị sự cam kết có tính cá nhân của người
nói về tính chân thực của sự tình, thể hiện qua những bằng chứng (suy luận,
trải nghiệm, trích dẫn, nghe tường thuật …)
Quan niệm như thế rõ ràng cả tình thái chủ quan và tình thái khách
quan đều có mối liên hệ tới yếu tố người nói, điều khác nhau là ở chỗ cách
thức và phạm vi, thái độ, tình cảm mà người nói biểu thị qua câu nói. Rõ ràng
cả hai loại tình thái đều thuộc vào phạm vi nghiên cứu của ngôn ngữ học.
Ở Việt Nam Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp, cũng đề nghị một thế đối lập
khá bao quát là tình thái chủ quan và tình thái khách quan. Theo hai tác giả thì:
- Bộ phận nghĩa trực tiếp gắn phát ngôn với cái tôi chủ thể, chủ quan
của người nói, gắn với ngữ cảnh giao tiếp, với sự tương tác liên chủ thể và do
đó là những kiểu nghĩa ngữ dụng, đều thuộc phạm vi nghiên cứu của ngữ
dụng, được gọi chung là tình thái chủ quan. Tình thái chủ quan sẽ bao gồm a)
Những kiểu mục đích phát ngôn được ngữ pháp hoá, được thể hiện bằng các
phương tiện ngữ pháp cũng như những kiểu câu ngôn hành. b) Tất cả các ý

độ hay sự cam kết nào trong câu nói. Thế nhưng sự không cam kết nào lại
chính là một sự cam kết. Ở đây người nói chắc chắn về việc nó nghỉ học. Hay
câu nói nó nói nó nghỉ học. Thoạt tiên nghe câu nói cũng như là hoàn toàn
khách quan nhưng xét kỹ lại mang tính chất chủ quan. Người nói thông báo cả

15
nguồn chứng cứ là “ nó nói” giống như thể hiện của một sự chưa chắc chắn.
Chúng ta có thể diễn đạt câu nói theo một cách khác như Nó nói nó nghỉ học
nhưng tôi không biết có thật không.
C. Kerbrat Orecchioni, khi đề cập tới tính chủ quan trong lời nói đã chỉ
rõ tính mơ hồ của thuật ngữ này. Theo bà thuật ngữ chủ quan mơ hồ bởi tác
động của các yếu tố liên quan đến ngữ nghĩa của lời nói trong giao tiếp là:
- Tình huống hoặc ngữ cảnh của phát ngôn
- Lối sử dụng ngôn từ còn tuỳ thuộc vào nền văn hoá, tư tưởng, niềm
tin, hy vọng của người nói.
Thứ nữa là tính chủ quan của lời nói có thể được thể hiện bằng hiển
ngôn hoặc được thể hiện một cách hàm ẩn ở trong câu. Vì thế bà không đề
cập tới cặp đối lập tình thái khách quan và tình thái chủ quan trong ngôn ngữ.
Với những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy cách phân chia tình thái
khách quan và tình thái chủ quan như Lê Đông và Nguyễn Văn HIệp đã đề
xuất là hợp lý. Khung lý thuyết đó sẽ giúp ích rất nhiều cho những người đi
sau khi nghiên cứu về tình thái.
Đã có nhiều thế đối lập về phạm trù tình thái được nêu ra nhằm làm cho
bức tranh tình thái được sáng rõ hơn. Chẳng hạn như tình thái nhận thức và
tình thái đạo nghĩa; tình thái căn bản và tình thái nhận thức (tình thái căn bản
bao gồm tình thái đạo nghĩa và tình thái trạng huống); tình thái hướng tác thể
và tình thái hướng người nói; tình thái mục đích phát ngôn và tinh thái của
lời phát ngôn. Trong những thế đối lập này, thế đối lập tình thái của mục đích
phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn là thế đối lập nhiều hứa hẹn hơn cả.
Cách tiếp cận này là cách tiếp cận theo hướng ngữ dụng học, “cho phép người

hiện của hành động, quá trình, trạng thái, hay tính chất do phần thuyết (hay vị
ngữ diễn đạt. Dạng thức ở đây gồm những đặc trưng như “kéo dài/ không kéo

17
dài, bắt đầu / kết thúc”) v.v thường gọi là những đặc trưng về thể. Nếu hạt
nhân vị ngữ của câu có chủ thể thì tình thái phản ánh mối quan hệ của chủ thể
(tham tố thứ nhất) đối với tính hiện thực, tính tất yếu, tính khả năng của hành
động, quá trình, trạng thái hay tính chất do vị ngữ hạt nhân của phần thuyết
biểu đạt (chẳng hạn như có ý muốn, có ý định làm, có đủ cam đảm hay đủ tàn
nhẫn để làm, mức độ của trạng thái, tính chất được chủ thể mang trong bản
thân v.v.)
1.1.3. Phương tiện biểu thị nghĩa tình thái
Chấp nhận một quan niệm rộng về tình thái như đã nêu ở phần trên,
cũng đồng nghĩa với việc chúng tôi công nhận rằng bất kỳ một lời phát ngôn
nào cũng chứa đựng ít nhất một tình thái. Tình thái có thể được coi như trung
hoà (không đánh dấu) là tình thái “hiện thực” hay “trần thuật khẳng định”
được thể hiện bằng thái trần thuật trong các ngôn ngữ biến hình và thể hiện
bằng sự vắng mặt của mọi yếu tố chỉ tình thái trong cấu trúc câu đã thành
hình (nghĩa là đã tuyến tính hoá theo các quy tắc câu) trong các ngôn ngữ
không biến hình. Tình thái có thể được thể hiện bằng các phương tiện tình
thái, nghĩa là có hình thức đánh dấu ở trong câu.
Các ý nghĩa tình thái rất rộng và phong phú vì thế để thể hiện được hết
các ý nghĩa đó trong ngôn ngữ, các phương tiện biểu đạt nghĩa tình thái cũng
rất phong phú và có phần phức tạp. Trong các ngôn ngữ biến hình thì các
phương tiện biểu thị nghĩa tình thái đã được nghiên cứu có hệ thống và
thường được phân biệt là các phương tịên ngữ pháp và các phương tiện từ
vựng. Đối với các ngôn ngữ biến hình nói chung thì các phương tiện ngữ
pháp được chú trọng hơn và thường được các tác giả nêu ra đó là thức của
động từ, động từ tình thái, tiểu từ tình thái…Trong tiếng Việt, các phương
tiện biểu thị tình thái trước đây chưa được miêu tả một cách có hệ thống. Các


19
mà trước đây có thể được coi là những hư từ và thường được coi là những
đơn vị thuộc về ngữ pháp vì theo ngữ pháp truyền thống chúng chỉ có ý nghĩa
ngữ pháp chứ không có ý nghĩa từ vựng. Về loại phương tiện từ vựng biểu thị
nghĩa tình thái có thể kể đến các nhóm từ chính như sau:
1) Các động từ tình thái: muốn, toan, định, dám, bèn…
2) Các trợ từ, tiểu từ tình thái: à, ư, nhỉ, nhé, cả, những, mỗi, ôi, chao
ôi, chết, ôi trời…
3) Các động từ ngữ vi: hỏi, mời, khuyên, yêu cầu, đề nghị…
4) Các quán ngữ tình thái: tội gì, có khác, thì có, tất nhiên là, ắt là…
5) Các động từ chỉ thái độ mệnh đề gắn với cấu trúc câu phức, với chủ
ngữ ở ngôi thứ nhất và động từ không đi kèm với những phó từ chỉ thời thể:
Tôi lo rằng, tôi sợ là, tôi tiếc là …
Như vậy là người nói có thể thể hiện những thái độ, đánh giá và cam
kết của mình bằng những phương tiện rất khác nhau. Mức độ nhiều hay ít của
từng phương tiện được sử dụng trong các ngôn ngữ rất khác nhau. Điều này
phụ thuộc nhiều vào đặc điểm loại hình ngôn ngữ. Chẳng hạn, trong ngôn ngữ
biến hình thì các phương tiện ngữ pháp như thời, thức của động từ được sử
dụng rất triệt để để thể hiện nghĩa tình thái của câu. Trong các ngôn ngữ đơn
lập như tiếng Việt chẳng hạn, các phương tiện từ vựng được sử dụng linh hoạt
hơn rất nhiều so với các phương tiện ngữ pháp. Và thực tế sử dụng ngôn ngữ
cho thấy các ngôn ngữ đều rất ưa chuộng cách biểu thị nghĩa tình thái bằng
phương tiện ngữ âm. Như đã nói, có lẽ do cách thể hiện bằng ngữ âm dễ gây
ấn tượng.
Vậy nói tóm lại, dù là ngôn ngữ nào chúng ta cũng thấy ý nghĩa tình
thái được biểu thị bằng các phương tiện là: ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng.
Điều khác nhau là tuỳ thuộc vào đặc điểm loại hình ngôn ngữ và thói quen
của người bản ngữ mà ngôn ngữ nào ưa chuộng cách thức nào hơn. Những


tới việc bộc lộ cảm xúc, tình cảm, thái độ của bản thân. Ngôn ngữ có thể đảm
nhiệm rất tốt vai trò làm người chuyên trở những thông điệp đó cho con người.
Trong khi giao tiếp, nhu cầu bộc lộ cảm xúc của con người khá nổi trội.
Nó nổi trội đến mức có những lúc người ta đã lầm tưởng rằng chính do nhu
cầu bộc lộ cảm xúc mà ngôn ngữ được ra đời. Đó là thuyết cảm thán về nguồn
gốc của ngôn ngữ. Thuyết cảm thán phát triển mạnh vào thế kỉ XVIII–XIX.
Những người chủ trương thuyết này Russo, Humboldt đều cho rằng ngôn
ngữ loài người bắt nguồn từ những âm thanh của mừng, giận, buồn, vui, đau
đớn v.v phát ra lúc tình cảm bị xúc động. Trong một số trường hợp, đó là
những từ – những tín hiệu của cảm xúc và ý chí của chúng ta. Trong các
trường hợp khác thì có thể xem xét mối liên hệ gián tiếp giữa âm hưởng của
từ và trạng thái cảm xúc của con người: những kết hợp âm tố nào đó gây ra
trong tâm hồn chúng ta những ấn tượng giống như những ấn tượng mà các sự
vật đã gây cho chúng ta.
Đến nay, nhờ những tiến bộ trong nghiên cứu về nguồn gốc của loài
người và ngôn ngữ, cũng như quá trình tiến hoá của loài người, chúng ta có thể
phủ nhận được thuyết cảm thán về nguồn gốc ngôn ngữ. Thế nhưng dù cho khoa
học kĩ thuật hay các khoa học xã hội có phát triển đến đâu chúng ta cũng vẫn
không thể nào phủ nhận được nhu cầu bộc bạch cảm xúc của con người trong
khi giao tiếp. Cảm xúc là những rung động trong lòng do tiếp xúc với sự việc gì.
Con người có thể bộc lộ cảm xúc về thế giới tự nhiên quanh mình, về cuộc sống
xã hội, về những người xung quanh và cả với bản thân mình nữa. Nói chung bất
cứ tình huống bất ngờ nào cũng gây cho con người những cảm xúc đặc biệt. Nhu
cầu bộc lộ nó cũng khác nhau giữa các cá nhân. Tuy nhiên phần lớn cá nhân
bằng cách này hay cách khác đều bộc lộ nó ra ở một mức độ nào đó.
1.2.2. Phương tiện biểu thị cảm xúc
Người ta có thể bộc lộ cảm xúc bằng ánh mắt, nét mặt hay cử chỉ.

22
Trong ngôn ngữ có những phương tiện đặc biệt để chuyên trở cảm xúc của

C
CT
= + Y
CT

(C + V)23
- Ngữ điệu cảm thán: Sử dụng ngữ điệu cảm thán để biểu thị cảm xúc
nghĩa là sử dụng sự thay đổi của cường độ, âm sắc, trường độ của các âm cơ
bản khi phát âm các câu để biểu thị cảm xúc. Chẳng hạn: ngữ điệu lên cao bất
thường và kéo dài ở cuối câu hoặc ở từ cần nhấn mạnh để thể hiện sự vui
mừng, sung sướng. Hay ngữ điệu cũng kéo dài nhưng gằn giọng thể hiện sự
nóng giận, bực tức, mỉa mai. Người nói cũng có thể sử dụng ngữ điệu kéo dài
nhưng thấp và trầm để thể hiện sự buồn bã, thất vọng.
- Trật tự từ: Trong tiếng Việt trật tự từ là một phương thức ngữ pháp cơ
bản và quan trọng để biểu thị quan hệ ngữ pháp. Trật tự từ trong tiếng Việt
cũng có thể được dùng để biểu thị cảm xúc của người nói. Ví dụ: Đời nó khốn
khổ → Khốn khổ đời nó!
Hiện nay đã có một lượng lớn người nước ngoài sinh sống, học tập và
làm việc tại Việt Nam. Mặc dù khác nhau về văn hoá, ngôn ngữ, tâm sinh lý
… nhưng họ đều có nhu cầu bộc lộ cảm xúc khi giao tiếp qua ngôn ngữ cho
dù đó không phải là tiếng mẹ đẻ của họ. Khi người nước ngoài sống ở Việt
Nam, họ sẽ trải qua những giai đoạn “sốc” văn hoá. Những sốc văn hoá đó
đến tạo cho họ có nhu cầu bộc bạch với người khác. Có nhiều trường hợp
chúng tôi được nghe tâm sự từ chính học viên của mình rằng: “Hôm nay em
gặp tình huống như thế này (…), em rất tức giận nhưng không biết phải nói
như thế nào”. Sau đó học viên nhờ chúng tôi dạy cách nói thể hiện sự tức giận
hay vui mừng trong một số tình huống mà học viên đã gặp. Chúng tôi hiểu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status