ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KIM JONG OUK
MỘT SỐ BIẾN ĐỔI Ở LÀNG XÃ CHÂU THỔ SÔNG HỒNG
TỪ ĐẦU THẾ KỶ XIX ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XX
(QUA TRƯỜNG HỢP LÀNG MỄ TRÌ)
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam cổ đại và trung đại
Mã số : 62 22 54 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
1. GS. TSKH. VŨ MINH GIANG
2.
GS. TS. NGUYỄN VĂN KHÁNH
32
1.3.1. Địa hỡnh và đất đai
1.3.2. Hệ thống giao thụng
1.3.3. Biến đổi địa giới hành chớnh
1.3.4. Những sự kiện lịch sử lớn cú tỏc động đến làng Mễ
Trỡ
32
34
36
43 Chƣơng 2. SỰ BIẾN ĐỔI CỦA BỘ MÁY QUẢN LÍ Ở LÀNG XÃ
CHÂU THỔ SÔNG HỒNG TỪ ĐẦU THẾ KỶ XIX ĐẾN
GIỮA THẾ KỶ XX QUA TRƢỜNG HỢP LÀNG MỄ TRÌ
48
2.1. Tớnh tự trị và bộ mỏy hành chớnh ở làng xó trước khi thực
dõn Phỏp xõm lược
2.2. Nền tảng hành chớnh của thực dõn Phỏp và cuộc Cải lương
hương chớnh ở Bắc Kỳ
54
65
2.2.1. Cải lương hương chính lần thứ I (1921)
2.2.2. Cải lương hương chính lần thứ II (1927)
2.2.3. Cải lương hương chính lần thứ III (1941)
72
75
77
Chƣơng 4. SỰ BIẾN ĐỔI CỦA NỀN GIÁO DỤC Ở LÀNG XÃ CHÂU
THỔ SÔNG HỒNG TỪ ĐẦU THẾ KỶ XIX ĐẾN GIỮA
THẾ KỶ XX QUA TRƢỜNG HỢP LÀNG MỄ TRÌ
134
4.1. Giỏo dục truyền thống ở làng xó trước khi thực dõn Phỏp
xõm lược
4.2. Cải cỏch giỏo dục ở làng xó dưới chế độ thực dõn Phỏp
136
145
4.2.1. Cải cỏch giỏo dục thực dõn lần thứ I (1906)
4.2.2. Cải cỏch giỏo dục thực dõn lần thứ II (1917)
145
153
4.3. Ảnh hưởng của Cải cỏch giỏo dục ở làng Mễ Trỡ
162
4.3.1. Những ảnh hưởng của Cải cỏch giỏo dục lần thứ I
4.3.2. Những ảnh hưởng của Cải cỏch giỏo dục lần thứ II
166
177 K
ẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
117
Bảng 3-3:
Quy mô sở hữu ruộng đất của làng Mễ Trì
118
Bảng 3-4:
Tình hình sở hữu ruộng đất trong bộ mỏy cai trị làng Mễ Trì
121
Bảng 3-5:
Tình trạng phân bố ruộng đất và sở hữu ở làng Mễ Trì
123
Bảng 3-6:
Tình hình sở hữu ruộng đất xâm canh ở làng Mễ Trì
125
Bảng 3-7:
Tình trạng sở hữu ruộng đất của phụ nữ làng Mễ Trì
128
Bảng 3-8:
Hiện trạng quy mô sở hữu ruộng đất của phụ nữ làng Mễ Trì
130
Bảng 3-9:
Tình trạng sở hữu ruộng đất theo thân phận phụ nữ của
làng Mễ Trì
130
Bảng 4-1:
Các loại trường học và số học sinh của tỉnh Hà Đông
(1901~1904)
149
Bảng 4-2:5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Những năm gần đây trong giới sử học châu Âu-Mỹ xuất hiện một hướng
nghiên cứu mới thu hút sự quan tâm đặc biệt của rất nhiều học giả và đang
dần được áp dụng rộng rãi trên thế giới. Đó là hướng tiếp cận lịch sử từ đời
sống của quần chúng với quan niệm họ là lực lượng làm nên lịch sử. Không
có quần chúng, không có những người bình dõn thì không có lịch sử. Thực ra,
những khái niệm như "lịch sử quần chúng" hoặc "lịch sử nông dân" không
hẳn là hoàn toàn mới. Từ trước tới nay, trong giới nghiên cứu lịch sử Việt
Nam đã có một số học giả đề cập đến những vấn đề liên quan đến quần
chúng, đến nông dân và các công trình nghiên cứu của họ cũng đã thu được
không ít những thành quả đáng trân trọng. Núi chung, với cách nhìn bao quát
về một vấn đề nào đó, các công trình ấy đều đã đưa ra được vấn đề đang quan
tâm một cách toàn cục. Các kết luận khoa học của các công trình về một vấn
đề nào đó đều xác đáng. Tuy nhiên, đại bộ phận các công trình đó chỉ dựa trên
một số lý thuyết và phương pháp nghiên cứu nhất định. Đặc biệt là các công
trình đó cống bố chủ yếu tập trung nghiên cứu một số nội dung cơ bản như
đấu tranh giai cấp, nông thôn và các đặc trưng văn hoá nông thôn, sự mất cân
bằng trong phát triển giữa đô thị và nông thôn Và vỡ vậy, cách nghiên cứu
lịch sử theo cách tiếp cận này không phải là không có những điểm yếu. Như
đã nói, một cách cách tiếp cận như vậy thường giúp chúng ta có được một sự
hiểu biết mang tính phổ quát. Những kết luận khoa học mà các công trình đưa
ra thường đúng trong mọi trường hợp, nhưng không cho chúng ta thấy được
tính đa dạng nhiều chiều của lịch sử, đồng thời nó cũng chưa làm bật lên tính
7
và đa dạng như gia phả, văn bia, hồi tưởng, ký ức, thư từ, các đồ dựng trong
gia đình, các chuyện tranh chấp, trả thù, văn khế mua bán ruộng đất, ca dao,
phong tục tập quán v.v. Nguồn tư liệu này có giá trị rất lớn trong việc bổ
sung nâng cao sức thuyết phục của các tài liệu chính sử cũng như các nguồn
tài liệu hiện có ở các trung tâm lưu trữ trong và ngoài nước.
Một điều không thể phủ nhận là sử học Việt Nam trong những năm qua đã
đạt được những thành tựu nghiên cứu to lớn và đáng khâm phục, Dẫu vậy,
được trước mắt vẫn còn rất nhiều vấn đề cần được tiếp tục làm sáng tỏ thêm.
Một trong những vấn đề đó, theo chúng tôi, là nội dung lịch sử của khái niệm
“xó hội thuộc địa nửa phong kiến”. Hầu như chưa có một công trình nào
nghiên cứu kỹ lưỡng quá trình chuyển biến của Việt Nam từ thời mạt kỳ
phong kiến sang thời kỳ thuộc địa. Bởi vậy ở một khía cạnh nào đó, nhận thức
về lịch sử Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XIX- giữa thế kỷ XX vẫn bị cắt rời
thành hai mảng: hoặc là quy những vấn đề thuộc vào thời trung đại, hoặc là
đặt chúng vào thời cận đại. Luận án của chúng tôi sẽ đặt vấn đề nghiên cứu
xung quanh giai đoạn chuyển tiếp này với hy vọng góp phần làm sáng tỏ
những chuyển biến nội tại về kinh tế và xã hội Việt Nam từ thời mạt kỳ phong
kiến sang xã hội thuộc địa, qua đó có thể phần nào làm rõ thêm về khái niệm
“xó hội thuộc địa nửa phong kiến”.
Vấn đề mà luận án đi vào nghiên cứu sẽ nhằm đúc rút một số kinh nghiệm
gúp phần gợi ý một số phương thức quản lý và phỏt triển nụng thụn thời hiện
đại.
2. Phạm vi đề tài
Phạm vi không gian
Như trên đã nói, luận án này sẽ được tiến hành theo hướng đi từ điểm đến
diện, tức là thông qua việc khảo sát, nghiên cứu một địa bàn cụ thể trong một
địa phương cụ thể, luận án hy vọng sẽ nói được một cái gì đó lớn hơn, chung
triển khai việc khảo sát, nghiên cứu của mình.
Có thể nói, Mễ Trì là một làng khá tiêu biểu ở đồng bằng Bắc Bộ Việt
Nam. Làng nằm ở vị trí trung tâm của tam giác chõu đồng bằng Bắc Bộ. Từ
xưa cho đến tận ngày nay, Mễ Trì vẫn là một làng thuần nông. Đây chính là
đặc trưng nổi trội của rất nhiều làng xã Việt Nam. Việt Nam vốn là một nước
nông nghiệp truyền thống nờn các làng chuyên làm nghề nông chiếm tỷ lệ áp
đảo trong hệ thống làng xã nông thôn Việt Nam. Chính những làng thuần
nông truyền thống đã tạo nên cái “gam màu chủ đạo” cho nông thôn Việt
Nam trong lịch sử. Chúng tôi chọn làng Mễ Trì, bởi trước hết Mễ Trì mang
trong nó hầu hết các đặc trưng vốn có của một làng thuần nông khu vực đồng
bằng Bắc Bộ. Với ý nghĩa này, có thể coi Mễ Trì là một làng nông thôn tiêu
biểu ở Việt Nam.
Là một làng thuần nông tất nhiờn Mễ Trì có những điểm khác biệt so với
những làng tuy cũng nằm trong vùng châu thổ sông Hồng nhưng không thuần
nông, những làng có nghề thủ công truyền thống, những làng theo nghề buôn
bán Sự khác biệt giữa những làng thuần nông kiểu như làng Mễ Trì với
những làng không thuần nông thể hiện ở rất nhiều mặt nhưng dễ thấy nhất là
sự khác nhau trong các sản phẩm kinh tế truyền thống của làng. Ở Việt Nam,
các làng có nghề thủ công truyền thống tên làng xã thường được gắn kèm với
tờn nghề thủ công truyền thống của làng. Cách gọi đó giống như một kiểu
khẳng định “thương hiệu” hàng hoá của làng xã mình vậy. Mọi người Việt
Nam đều đã rất quen thuộc với tờn gọi truyền thống như: Làng gốm Bát
Tràng, Làng dệt Vạn Phúc… Còn ở Mễ Trì thì không có bất kì một sản phẩm
thủ công nghiệp nào cả. Là làng chuyên về nghề nông nên các sản phẩm làng
làm ra cũng chỉ là các sản phẩm gắn liền với nông nghiệp giống như những
làng nông nghiệp khác ở Việt Nam. Nhưng, thuần nông lại cũng chính là một
10
đặc điểm mà cỏc nhà khoa học phải đặc biệt lưu tõm bởi lẽ như trên chúng tôi
đã nói, đây là đặc trưng nổi trội của nhiều làng xã trong một đất nước mà nền
học thường không dễ dàng được thừa nhận với những mô tả chung chung rút
ra trên cơ sở chỉ quan sát các cứ liệu của một thời điểm (tư liệu đồng đại) để
chỉ ra sự thay đổi của một làng, đồng thời để thấy được những nhân tố gây ra
sự thay đổi ấy của cỏc thời điểm khỏc còn phải tận dụng triệt để những cứ
liệu (lịch đại) cú liờn quan. Về đề tài này, đã có từng các nhà sử học Việt
Nam để ý quan tâm. Cú thể nói rằng những công trình của các học giả đi
trước đã để lại dấu ấn rất rõ nét. Chính kết quả nghiờn cứu của các tác giả đi
trước đã trang bị cho chúng tôi một cái nền hiểu biết về làng nông nghiệp Việt
Nam. Thành công của các công trình ấy cũng là một nguồn động lực rất lớn
cổ vũ chúng tôi đến với loại đề tài này. Dầu vậy, nhỡn nhận một cách khách
quan, cũng phải nói rằng ở các công trình đi trước, không phải mọi vấn đề về
làng nông nghiệp ở Việt Nam đều đã được nghiờn cứu và giải quyết một cách
triệt để. Núi cỏch khỏc, không phải tất cả mọi kết luận đưa ra trong các công
trình ấy đều là xác đáng. Những bất cập của các công trình đi trước có thể do
hạn chế về phương pháp tiếp cận mà cũng có thể do sự thiếu thốn của tư liệu
nghiên cứu… Dù sao, những công trình mà chúng tôi có được cũng có giá trị
tham khảo hết sức lớn lao. Đôi khi, nguồn tài liệu tham khảo cũng vừ cựng
quý giỏ như những lời hương dẫn của cỏc giáo sư giúp chúng tôi hoàn thành
luận án này.
Trong giai đoạn đầu, sau cỏch mạng thỏng Tỏm, cỏc cụng trỡnh nghiên
cứu về làng xã thường được thực hiện theo hướng tìm hiểu những đặc trưng
về hình thái kinh tế - xã hội ở nông thôn Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nội
dung chủ yếu của các hoạt động nghiên cứu là tập trung vào ách thống trị của
thực dân Pháp và những hậu quả do sự bóc lột của nó đưa đến cho nông thôn
12
Việt Nam. Bắt đầu từ Xã thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong [153], sau
đó là loạt bài trong tạp chí Nghiên cứu Lịch sử của Nguyễn Công Bình [144],
Vũ Huy Phúc [232] đã đề cập vấn đề ruộng đất và những hậu quả mà sự cai
trị thực dân Pháp gây ra trong lĩnh vực đó. Các công trình nghiên cứu khác
ý trực tiếp cho chúng tôi triển khai đề tài theo góc độ nhận thức của mình. Xin
được kể ra đây hai công trình tiêu biểu, đó là: Nông thôn Việt Nam trong lịch
sử [225, 226], Việt Nam thời kỳ Pháp đô hộ của Nguyễn Thế Anh [168]. Cả
hai tác phẩm này đều đã phác họa thành công các nét khái quát về làng cổ
truyền Việt Nam như: thiết chế cai trị trong làng xã, những quan hệ sở hữu
ruộng đất, các tầng lớp và tổ chức xã hội truyền thống của làng, các tôn giáo
và tín ngưỡng dân gian của làng v.v.
Để có được những thành tựu to lớn trong việc nghiên cứu làng xã Việt
Nam giai đoạn những năm 70 của thế kỷ trước cũng như sự kế tiếp truyền
thống nghiên cứu đó trong những năm sau này, chúng ta không thể không
nhắc tới công lao to lớn của các nhà khoa học như Phan Huy Lê (Đại học
Tổng hợp Hà Nội), Trần Huy Liệu (Viện Sử học) - những người đã trực tiếp
lãnh đạo và hết sức tận tâm với sự nghiệp nghiên cứu lịch sử Việt Nam núi
chung và lĩnh vực nụng thụn và ruộng đất núi riờng.
Nhưng đáng tiếc là, trong các công trình nghiên cứu sử học giai đoạn này
cũng chưa có công trình nào chuyên sâu về sự chuyển biến của làng nông
thôn Việt Nam.
Bước sang những năm 80 và 90, cùng với đà phát triển của khoa học lịch
sử nói chung, những hoạt động nghiên cứu có liên quan đến mảng đề tài mà
chúng tôi lựa chọn đã tăng lên cả về mặt số lượng và chất lượng, mở rộng cả
về không gian và thời gian. Sự phát triển đó trước hết là do sự đổi mới trong
bản thân ngành khoa học lịch sử. Các nhà sử học đó cú một cách nhìn nhận
14
đối tượng và phương pháp nghiên cứu mới mể hơn. Nhưng về một phương
diện khỏc, bước tiến này cũn do các sử liệu dồi dào (chính sử và ngoài chính
sử) đã được sưu tập và khai thác triệt để hơn. Ngoài ra công cuộc nghiên cứu
sử học cũng đã có được sự quan tâm giúp đỡ của các ngành, các cấp từ trung
ương đến địa phương, đồng thời có sự phối hợp nghiên cứu giữa các ngành
khoa học trong cùng địa hạt khoa học xã hội như: dân tộc học, xã hội học,
Quân [230], đã đề cập một số vấn đề cụ thể như: Sở hữu ruộng đất, quan hệ
dòng họ, đặc điểm trong văn hoá làng, kiểu tổ chức làng xã … Các bài viết
vừa nêu đều có cách tiếp cận vấn đề và nội dung mang tính chuyên môn sâu
sắc.
Lệ làng phép nước của Bùi Xuân Đính [109] và Tỡm hiểu chế độ ruộng
đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX của Vũ Huy Phúc [233] cũng là hai bài viết
cung cấp cho chúng ta thêm một số hiểu biết về các vấn đề cụ thể của làng.
Các công trình nghiên cứu về một số làng hoặc một số vùng nông thôn.
Đó là những tác phẩm đăng tải trên Nghiên cứu Lịch sử của Vũ Minh
Giang [237], Cao Văn Biền [112, 112], của Vũ Hồng Quõn [230], của
Nguyễn Đức Nghinh [150, 151], của Nguyễn Thành [166], của Nguyễn Văn
Khánh [171]. Những bài viết này đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị khoa
học về chế độ ruộng đất, khẩn hoang lập làng, vấn đề trị thuỷ, quá trình biến
đổi làng xã, khu vực thông qua việc tìm hiểu các tài liệu về ruộng đất, văn
hoá, tôn giáo, tớn ngưỡng
Ngoài ra còn phải kể đến một số công trình nghiên cứu công phu của một
số tác giả như: Chế độ phụ canh của Đông Quan- Thái Bình đầu thế kỷ XIX
qua địa bạ Gia Long của Nguyễn Bích Điệp [143]. Bàn tương đối sâu về vấn
đề phụ canh, công trình này thực sự có giá trị trong việc giúp tìm hiểu quá
trình phát triển tư điền trong thời kỳ tan rã của chế độ phong kiến. Công trình:
16
Một số làng buụn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII-XIX của Nguyễn Quang
Ngọc [162] cũng là một công trình không thể không chú ý về giá trị nội dung
khoa học.
Các công trình nghiên cứu về một làng với các vấn đề ít nhiều liên
quan đến đề tài luận án
Tuy không nghiên cứu vấn đề trong cùng thời đoạn lịch sử mà luận án của
chúng tôi hướng vào nhưng một số công trình nghiên cứu lịch sử cũng chứa
Trỡ)” được thực hiện nhằm mục đích góp thêm nhận thức khoa học về một
làng cụ thể cho cụng cuộc nghiên cứu làng xã nông thôn Việt Nam núi chung,
đồng thời qua trường hợp của làng Mễ Trì cũng sẽ làm cho bức tranh làng xã
vùng đồng bằng chõu thổ sụng Hồng thờm chi tiết và sinh động. Khai thác
triệt để những thành tựu đã có trong nghiên cứu về làng xã Việt Nam đồng
thời vận dụng những ưu thế mới trong cách tiếp cận vấn đề làng xã trên cơ sở
kết hợp cả hai khuynh hướng đồng đại và lịch đại, theo chúng tôi công trình
tiến hành khảo sát, tìm hiểu sự vận động của làng Mễ Trì sẽ gúp phần nõng
cao nhận thức khụn hồn về làng xó Việt Nam. Cũng phải núi thờm rằng đối
với tụi, một người nước ngoài nghiờn cứu làng xó Việt Nam, bờn cạnh những
khó khăn không thể trỏnh khỏi, lại cú một lợi thế rất lớn là cỏch nhỡn khỏch
quan từ bờn ngoài. Đây có thể là yếu tố bổ sung cần thiết cho việc nghiờn cứu
nụng thụn Việt Nam. Đối với làng Mễ Trì hiện vẫn chưa có công trình nào
nghiên cứu đầy đủ về nó, nhất là quá trình vận động biến đổi của làng trong
thời đoạn từ 1802 đến khoảng 1945. Đi vào tìm hiểu sự biến đổi của ngôi làng
thuần nông này, chúng tôi hy vọng rằng, nguồn tư liệu về địa phương, những
số liệu sử học cụ thể, những kết luận mà chúng tôi đúc kết được trong quá
trình nghiên cứu sẽ là những đóng góp có ý nghĩa thiết thực cho công tác
nghiên cứu sử học Việt Nam.
18
4. Tƣ liệu và phƣơng pháp tiếp cận
Cỏc nguồn tƣ liệu
Nguồn tư liệu luụn là yếu tố cú tầm quan trọng hàng đầu trong nghiên cứu
lịch sử. Có thể nói rằng, tư liệu sẽ đóng góp không ít hơn 50% cho sự thành
công của một công trình sử học. Đề tài luận án của chúng tôi cũng không nằm
ngoài quy luật này. Chớnh vỡ vậy mà, ngay từ đầu, ưu tiên số một của chúng
tôi là dành cho việc sưu tầm, đọc và tìm hiểu tài liệu để từ đó hình thành nên
các ý tưởng xây dung luận án của mình. Tất cả nguồn tư liệu chỳng tôi tập
trung khai thác được tập hợp trong cuốn phụ lục đi kèm với luận án dày 198
chúng tôi dư định khai thác trong quá trình viết luận án. Chẳng hạn, về dân số
của làng xã vào thời điểm chúng tôi quan tâm thì hầu như hoàn toàn không có
tư liệu. Để khắc phục, chúng tôi đó phải khai thỏc tổng hợp tất cả các nguồn
chính sử, những công trình đã được công bố, các nguồn tư liệu thực địa và sử
dụng cả phương pháp khảo sát dựa vào hồi ức của những người cao niên, dựa
vào dân gian. Tuy vậy, số liệu thu được cũng chỉ dừng ở mức độ phỏng đoán.
Phong phú hơn là nguồn tư liệu được viết bằng cả chữ Hán, chữ Nôm, chữ
Quốc ngữ và tiếng Pháp đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
I đã được chúng tôi triệt để khai thác sử dụng trong việc tìm hiểu các chính
sách được áp dụng dưới chính quyền thực dân Pháp và tình hình kinh tế và xã
hội ở vùng đồng bằng Bắc Bộ thời đó.
Phƣơng pháp tiếp cận
Dựa trờn cỏc nguồn sử liệu đa dạng, luận án của chúng tôi cố gắng phác
thảo một diện mạo chung về cấu trúc kinh tế và xã hội ở đồng bằng Bắc Bộ.
Các luận điểm của chớnh được xây dựng trên cơ sở khảo sát cụ thể qua một
hình mẫu làng xã tiêu biểu. Từ đó, chỳng tôi rút ra các nhận xét có tính khỏi
quát hơn. Nói cỏch khác, đây là cách tiếp cận đi từ điểm đến diện, từ cái cụ
20
thể đến cái chung. Trong luận án của mình, chúng tôi sử dụng đồng thời nhiều
phương pháp nghiên cứu. Phương pháp phân tích lịch đại được áp dụng để so
sánh các niên đại trong giai đoạn chuyển tiếp, cũn phương pháp quy nạp được
sử dụng để phân tích cứ liệu rồi rút ra kết luận. Trong quá trình làm việc,
chúng tôi cũng rất chú ý áp dụng phương pháp phân tích định lượng đối với
một số tư liệu thực địa để xử lý những số liệu thống kê. Đặc biệt, đối với một
vài tư liệu thực địa đã bị thất lạc việc áp dụng phương pháp quan sát, nghiên
cứu gián tiếp như tiến hành điều tra hồi cố cũng cú tỏc dụng bổ trợ quan
trọng.
5. Những đóng góp chính của luận án
Mặc dù những năm gần đây, nghiên cứu sử học đã có những tiến bộ vượt
phong kiến Việt Nam, có lẽ không một vương triều nào lại không chú tâm đến
việc xác lập một thể chế tập quyền trung ương và cỏc triều đại đều không
ngần ngại áp dụng mọi thủ đoạn cả cương lẫn nhu nhằm can thiệp và quản lý
chặt chẽ các thôn, làng (đơn vị hạt nhân của xã hội). Dầu vậy, khuynh hướng
muốn thoát ly khỏi sự áp chế của cấp trên luôn tồn tại trong tõm lý của mọi
làng. Tính cách muốn độc lập, muốn “anh hùng nhất khoảnh” thường được
coi là quyền "tự trị" của làng luôn được đề cao và tạo nờn ý thức thống nhất
trong toàn bộ người dân trong làng. Đặc điểm tự trị của làng xó Việt Nam đã
dẫn đến tình trạng là làng này có thể khác với làng kia về một số mặt, như tục
lệ chẳng hạn, đồng thời cũng có tình trạng trong một làng có thể có hai “hệ
thống pháp lý” song hành là “lệ làng” và “phép nước” [109]. Cũng do xu
hướng muốn tự trị mà mỗi một làng thường đề cao, bảo vệ các giá trị truyền
thống của làng mình và ra sức chống lại sự thâm nhập “không có lợi cho
làng” từ bên ngoài. Trong luận án này chúng tôi đó tìm hiểu quá trình biến đổi
22
của cấu trúc thượng tầng (super - structure) ở cấp cơ sở, thông qua các hỡnh
thức tự trị của làng, chỉ ra những nỗ lực của các chính quyền phong kiến và
thuộc địa trong quá trình áp đặt sự cai trị vào làng và những hệ quả của
chúng. Qua đó làm sáng tỏ them mối quan hệ đặc thù giữa nước và làng ở
Việt Nam, đặc biệt là trong thời kỳ chuyển tiếp.
Sự phát triển của kinh tế tiểu nông
Từ thế kỷ XV, sau khi kết cấu kinh tế trang điền thư thỏi ấp bị giải thể,
duy trì và phát triển kinh tế tiểu nông đã trở thành một ưu tiên trong chính
sách kinh tế nông nghiệp của các vương triều phong kiến và được coi như một
mô hình lý tưởng trong quan hệ sản xuất nông nghiệp.
Sự thâm nhập của chính quyền thực dân Pháp vào Việt Nam cùng với nó
là những hoạt động khai thác thuộc địa đã kéo theo sự du nhập của các yếu tố
tư bản chủ nghĩa vào ngành kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Chính “các yếu tố
tư bản” đã trở thành tác nhân (ít nhất là về mặt hình thức) gây ảnh hưởng đến
Đời sống tinh thần truyền thống và cận đại
Quan niệm về thế giới của người nông dân trong thôn làng và đời sống
văn hoá tinh thần của họ là sản phẩm đúc kết từ tất cả các mặt của quan hệ
sản xuất, đến lượt mình, thế giới quan, những quan niệm triết lý, tôn giáo, tín
ngưỡng… sẽ lại có ảnh hưởng sâu sắc trở lại hoạt động sản xuất. Tuy nhiên,
nội hàm các khái niệm về “thế giới”, “văn hoá”, “tín ngưỡng và tôn
giáo” v.v. nói chung là rất rộng nên nghiên cứu về những vấn đề này thực sự
là các đề tài lớn và hết sức cần thiết. Du chưa phải đó giải quyết trọn vẹn
nhưng trong luận án này chỳng tụi đó đề cập đến những thay đổi trong nhận
thức về trong thế những biến đổi trong đời sống văn hoá tinh thần của dân
làng Mễ Trì từ đầu thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, đặc biệt là cố gắng chỉ
24
ra những ảnh hưởng của chế độ thực dân Pháp tới đời sống văn hoá của làng
và nếu có, thì sự biến đổi này có tác động gì đến các lĩnh vực khác.
6. Kết cấu của luận án
Luận án của chúng tôi, ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham
khảo, phụ lục, được bố cục thành bốn chương cụ thể như sau:
Chương 1. Sự biến đổi điều kiện tự nhiờn và môi trường sinh thái ở làng
xó châu thổ sông Hồng từ đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX
1.1. Đặc điểm chung của điều kiện tự nhiên vựng châu thổ sông Hồng
1.2. Những tỏc động của điều tự nhiên và môi trường sinh thái đến quỏ
trỡnh phỏt triển châu thổ sông Hồng
1.3. Những điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái ở làng Mễ Trì
Chương 2. Sự biến đổi của bộ máy quản lý ở làng xã châu thổ sông Hồng
từ đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX.
2.1. Tính tự trị và bộ máy hành chính làng xã
khi thực dân Pháp xâm lược
2.2. Nền tảng hành chính của thực dân Pháp và cuộc Cải lương hương