ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN XUÂN BÌNH TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN NGHỀ
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN GIẢM ĐÓI NGHÈO
Ở ĐẦM PHÁ TAM GIANG HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HUYỆN PHÚ VANG,
TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 5.03.51 LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. ĐẶNG CẢNH KHANH
2. TS. PHẠM ĐÌNH HUỲNH
Hà Nội – 2005
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
4. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 8
4.1. Đối tượng nghiên cứu 8
4.2. Khách thể nghiên cứu 8
4.3. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của luận án 8
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 8
5.1. Phương pháp luận 8
5.2. Phương pháp hệ 12
6. Giả thuyết nghiên cứu 13
7. Đóng góp và ý nghĩa thực tiễn của luận án 13
7.1. Đóng góp khoa học của luận án 13
7.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận án 14
8. Kết cấu của luận án 14
B. NỘI DUNG
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
GIẢM ĐÓI NGHÈO VÙNG ĐẦM PHÁ TAM GIANG 15
1.1. Một số lý luận cơ bản tiếp cận vấn đề nghiên cứu 15
1.1.1. Các khái niệm cơ bản 15
1.1.2. Các lý thuyết và quan điểm tiếp cận vấn đề nghiên cứu 29
1. 2. Vùng đầm phá Tam giang Thừa Thiên Huế - hệ Sinh thái
- Nhân văn ven biển đặc biệt 42
1.2.1. Vùng ven biển và cộng đồng cư dân ven biển 42
1.2.2. Đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế 44
1.3. Những yếu tố tác động đến giảm đói nghèo vùng đầm phá
Tam Giang trong phát triển 53
1.3.1. Đổi mới toàn diện đất nước và chiến lược đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn 54
1.3.2. Quan điểm cơ bản và mục tiêu chương trình Quốc gia về
xoá đói giảm nghèo ở Việt nam 56
1.3.3. Mục tiêu về công nghiệp hoá, hiện đại hoá các vùng miền địa phương.59
2.5.1. Diện mạo mới về đời sống văn hoá của cộng đồng 135
2.5.2. Đời sống tâm linh và tình cảm 138
2.5.3. An ninh, trật tự, an toàn và vai trò của chính quyền,
các thiết chế xã hội 140
2.5.4. Các yếu tố nội tại của cộng đồng tác động đến giảm đói nghèo 145
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở ĐẦM PHÁ TAM GIANG
THEO HƢỚNG BỀN VỮNG GIẢM ĐÓI NGHÈO 152
3.1. Những cơ sở lý luận và thực tiễn của các giải pháp 152
3.1.1. Cơ sở lý luận của việc xác định các giải pháp 153
3.1.2. Cơ sở thực tế khách quan của các giải pháp 157
3.2. Một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát triển nuôi trồng
thủy sản theo hƣớng bền vững 166
3.2.1. Qui hoạch tổng thể hệ thống nuôi trồng thuỷ sản vùng đầm phá 167
3.2.2. Các giải pháp về chính sách chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp
và giải quyết việc làm cho người lao động. 172
3.2.3. Giải pháp mở rộng loại hình kinh tế hộ 174
3.2.4. Giải pháp chính sách về vốn 176
3.2.5. Giải pháp chính sách về kỹ thuật 179
3.2.6. Giải pháp về chính sách đào tạo, tuyên truyền giáo dục
văn hóa xã hội 180
3.2.7. Giải pháp về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội 181
3.2.8. Giải pháp tiếp cận cộng đồng bằng các dự án phát triển
với sự tham gia của người dân 182
C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận 184
2. Một số khuyến nghị 187
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Số
Tên sơ đồ, biểu đồ
Trang
A.1
Phương pháp tiếp cận vấn đề nghiên cứu của đề tài
10
A.2
Khung lý thuyết nghiên cứu (Sơ đồ tương quan giữa các biến số)
11
1.1
Mở rộng diện tích và số tổ, hộ NTTS ở Thị trấn Thuận An
28
2.1
Mở rộng diện tích NTTS đầm phá Thừa Thiên Huế qua các năm
66
2.2
Chuyển dịch cơ cấu giá trị các nghề vùng đầm phá từ 1996 - 2001
68
2.3
Sự gia tăng diện tích và sản lượng NTTS ở đầm phá Thừa Thiên
Huế (1990-2003)
69
2.4
So sánh chi tiêu hàng ngày giữa các nhóm hộ
112
2.5
Danh mục các nghề khai thác thuỷ sản ở đầm phá Tam Giang
91
2.5
Thang giá trị nghề nghiệp trước và sau bùng phát nghề NTTS
98
2.6
Thu nhập hàng năm của hộ gia đình vùng đầm phá
111
2.7
Thu nhập bình quân hàng ngày và nguồn thu nhập của hộ gia
đình vùng đầm phá
112
2.8
Chi tiêu bình quân hàng ngày của nhóm hộ gia đình có mức
sống trung bình
113
2.9
Kết quả xếp dãy kinh tế xã hội - phân loại giàu nghèo theo thu
nhập của các nhóm dân cư.
116
2.10
Kết quả xếp dãy ưu tiên cơ cấu chi tiêu trong gia đình của các
nhóm hộ ở hai thời điểm 1997 và 2002.
117
2.11
Biến đổi về tình hình cơ bản đời sống vật chất của cư dân ở làng
Tân Dương qua các năm
119
2.12
Điều kiện nhà ở
và phát triển kinh tế - xã hội, mà trực tiếp là các hoạt động khai thác quá tải, có
tính huỷ diệt nguồn lợi đã gây nhiều biến động về môi trường sinh thái và làm
giảm kiệt đến mức đáng lo ngại nguồn tài nguyên của vùng đầm phá. Đúng như
những khuyến cáo được các nhà khoa học, các nhà quản lý đánh giá rằng:
Nguồn lợi thuỷ sản hệ đầm phá Tam Giang hiện nay đang suy giảm một cách
nghiêm trọng, do việc gia tăng hoạt động khai thác, các loại ngư cụ, mật độ và
thu hẹp kích cỡ mắt lưới; gia tăng thuyền bè và lao động khai thác thuỷ sản đầm
phá. Đồng thời xuất hiện ngày càng nhiều loại ngư cụ mới, đánh bắt có tính huỷ
diệt nguồn lợi như te quệu, chất nổ, chất độc, xung điện… “Trong năm 1995
phát triển thêm loại nghề te quệu kết hợp xung điện, việc tiến hành khai thác
thuỷ sản ở đây đi vào thời kỳ huỷ diệt triệt để nhất. Những vấn đề trên làm
nguồn lợi thuỷ sản hệ đầm phá Tam Giang ngày càng suy kiệt hơn”. [Nguyễn
Quang Vinh Bình (1996), tr.32, 33].
Để thoát khỏi tình trạng trên, những năm đầu 1990 tỉnh Thừa Thiên Huế,
các địa phương và đặc biệt cư dân đã phát động nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) -
một nghề mới xuất hiện - phù hợp với chủ trương có tính chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội vùng đầm phá. Từ đó nghề NTTS phát triển. Thời điểm bùng
phát nhất là vào năm 1997 [Trần Xuân Bình, (1999)], trước hết tại địa bàn xã
Phú Tân (nay là thị trấn Thuận An), lan nhanh đến xã Phú An và sau đó đến xã
Phú Xuân (đầm Sam - Chuồn, vùng giữa của đầm phá), thuộc huyện Phú Vang
và theo đó nghề NTTS lan rộng khắp vùng đầm phá Thừa Thiên Huế. Những
biến đổi kinh tế - xã hội, tài nguyên và môi trường ở đây đã và đang diễn ra rất
2
mạnh mẽ, đa dạng, phức tạp và tác động sâu sắc đến cuộc sống của cộng đồng
dân cư – nơi có đại bộ phận dân cư nghèo, dân cư vạn đò, hoạt động sống chủ
yếu bằng nghề ngư và phụ thuộc vào nguồn lợi thuỷ sản đầm phá - nhưng chưa
3
triển bền vững, giảm đói nghèo, mà còn giúp nhà quản lý các cấp, các nhà
hoạch định chính sách có cơ sở để quy hoạch, kế hoạch hoá phát triển kinh tế -
xã hội vùng đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế đúng hướng nhằm phát huy
mọi nguồn lực, khai thác hết những thế mạnh, tiềm năng, sử dụng hợp lý nguồn
lợi tài nguyên, bảo vệ được cảnh quan và môi trường của hệ đầm phá.
Sự phát triển nghề NTTS có tính chất bùng nổ và mang yếu tố tự phát như
thực trạng hiện nay, mà nhất là vùng Trung đầm phá – vùng đầm Sam - Chuồn
và đang lan rộng khắp các địa phương trên toàn vùng Bắc và Nam đầm phá,
chắc hẳn sẽ có nhiều tác động đến môi trường tự nhiên, tài nguyên và môi
trường, kinh tế, văn hoá, xã hội của toàn vùng. Đặc biệt là biến đổi cấu trúc xã
hội, chất lượng sống và đói nghèo của các nhóm nghề nghiệp trong cộng đồng
dân cư đầm phá.
Những câu hỏi đặt ra là: Phát triển nghề NTTS như thế nào và làm thế nào
để có được một sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả, chất lượng cao, bền vững có lợi
cho cộng đồng địa phương, đặc biệt đối với bộ phận người nghèo? Mối quan hệ
giữa phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội và môi trường, tài nguyên ở đây sẽ
như thế nào? Vai trò, vị thế, quyền lực xã hội của cá nhân, các nhóm xã hội, các
tổ chức và các thiết chế xã hội sẽ như thế nào? Và các chủ thể đó đang và sẽ
làm gì để phát huy vai trò chức năng xã hội của mình trong phát triển địa
phương? NTTS có thực sự là hướng sinh kế bền vững xoá đói, giảm nghèo ở
địa phương? Đó là những lý do chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Giảm đói nghèo là một chương trình nghiên cứu và hành động có tính toàn
cầu. Ngân hàng Thế giới, các Quỹ Quốc tế, các tổ chức của Liên hiệp quốc và
các Quốc gia xem đây là mục tiêu hướng tới trong các chương trình hành động.
Ở nước ta những năm gần đây được sự quan tâm, hỗ trợ của Nhà nước, các tổ
chức Quốc tế và từ nhiều nguồn khác nhau của các cộng đồng, cá nhân… đã
triển khai nghiên cứu và hành động liên cấp từ vi mô đến vĩ mô nhằm xoá đói
giảm nghèo trên mọi miền đất nước. Thủ tướng chính phủ Việt Nam đã ban
của Việt Nam năm 2000, Việt Nam tấn công nghèo đói” đây là một hình thức
cộng tác giữa các cơ quan chính phủ, các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính
phủ hướng tới xoá bỏ tình trạng nghèo đói ở Việt Nam. Báo cáo này không chỉ
nhằm trình bày các vấn đề chủ chốt trong công cuộc tấn công chống đói nghèo,
5
mà còn phác thảo toàn cảnh bức tranh đói nghèo ở Việt Nam qua việc xử lý
thông tin từ hai cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam do Tổng cục Thống kê
tiến hành năm 1993 và 1998. Báo cáo “Tham vấn cộng đồng về Dự thảo Chiến
lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xoá Đói Giảm Nghèo của Việt nam 2002”,
gồm 3 phần: cùng người nghèo hoàn thiện chính sách; các đề xuất của người
nghèo về chính sách; ý kiến của cộng đồng về chiến lược giảm nghèo.
Chuyên khảo “Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam” của tập thể
các nhà kinh tế học: TS. Lê Xuân Bá, TS. Chu Tiến Quang, TS. Nguyễn Hữu
Tiến và TS. Lê Xuân Đình là công trình nghiên cứu về đói nghèo công phu, đầy
đủ và có giá trị tham khảo, được nhà xuất bản nông nghiệp đánh giá “là một
công trình nghiên cứu hoàn chỉnh, có hệ thống cả về lý luận lẫn điều tra thực
tiễn, gồm khá nhiều tư liệu, thông tin cập nhật, đặc biệt các tác giả đã có cách
tiếp cận và trả lời nhiều câu hỏi đặt ra chung quanh vấn đề đói nghèo và kiến
nghị nhiều giải pháp giúp đỡ người nghèo đói” [Lê Xuân Bá… (2001), tr.10].
Công trình “Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay -
thực trạng và giải pháp” là kết quả nghiên cứu của một chuyên đề thuộc đề tài
cấp nhà nước KHXH. 04-05, do đồng chí Hà Quế Lâm vụ trưởng vụ chính sách
dân tộc của Uỷ ban Dân tộc Miền núi - biên soạn. Nội dung cho thấy trong
những năm qua, công tác xoá đói, giảm nghèo ở các vùng đất nước ta đã có
những thành tích bước đầu rất quan trọng, từng bước xoá được đói, giảm được
nghèo. Công trình đã đưa ra những khuyến nghị và một số giải pháp xoá đói
của phát triển nghề NTTS đến giảm đói nghèo trong các nhóm cư dân và cộng
đồng", hoặc tương tự thì vẫn còn mới mẻ, cấp bách, mang ý nghĩa lý luận, thực
tiễn và tính xã hội nhân văn sâu sắc nhưng chưa có ai nghiên cứu đến.
Có nhiều kết quả nghiên cứu ở các lĩnh vực và hướng tiếp cận từ các góc
độ khác nhau về đầm phá Tam Giang đã giúp chúng tôi phát hiện, nảy sinh ý
tưởng khoa học và kế thừa nguồn tư liệu quý giá như: Đề tài: "Nghiên cứu định
cư dân thuỷ diện Đầm phá Tam Giang" Do UBKH & KT, Sở Thủy sản Thừa
Thiên Huế và khoa Địa lý Đại học Sư phạm Huế chủ trì (1987 và 1995). Kết
quả "Hội thảo khoa học về Đầm phá Thừa Thiên Huế" do Bộ Khoa học Công
nghệ và Môi trường, Phân viện Hải dương học Hải Phòng và Đại học Thủy Lợi
Hà Nội tổ chức (11/1994). "Báo cáo kết quả nghiên cứu giai đoạn I và II", 1995
- 1997 - 2001 của dự án "Quản lý nguồn lợi sinh học phá Tam Giang" do IDRC
Canađa kết hợp với 3 cơ quan: Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Khoa học Huế
7
và Sở thuỷ sản Thừa Thiên Huế chủ trì. Trong công trình này, tác giả là thành
viên nhóm nghiên cứu liên ngành, với tư cách là chuyên gia đánh giá tác động
môi trường kinh tế - xã hội và đã có một số kết quả nghiên cứu được công bố.
Nghiên cứu các chủ đề liên quan ít nhiều đến các vấn đề kinh tế - xã hội ở
đầm phá Thừa Thiên Huế dưới góc độ lịch sử, dân tộc học, đã có một số công
trình như: “Ngư nghiệp Việt Nam đầu thế kỷ XX” của Nguyễn Quang Trung
Tiến (1995). “Cộng đồng ngư dân ở Việt nam” của Nguyễn Duy Thiệu (2002).
Hay tiếp cận dưới góc độ của nhà quản lý có: “Quản lý nguồn lợi thuỷ sản hệ
đầm phá Tam giang” của Nguyễn Quang Vinh Bình (1996). “Cơ sở lý luận
chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong ngành thuỷ sản” của Hà Xuân Thông (2000).
Đặc biệt đề tài “Ảnh hưởng của bùng nổ NTTS đến cuộc sống của người
dân ở Phú Tân, Đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế”- Luận văn thạc sỹ xã
động sống có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nguồn lợi đầm phá Tam
Giang Thừa Thiên Huế và một số cơ quan chức năng, cán bộ quản lý các cấp
chính quyền, các đoàn thể và các tổ chức xã hội - chính trị ở địa bàn nghiên
cứu.
4.3. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của luận án
Do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, luận án giới hạn nghiên cứu tác
động của phát triển nghề NTTS đến giảm đói nghèo trong các nhóm dân cư ở
phạm vi không gian địa lý hành chính thuộc Huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế.
Về địa lý khu vực sinh thái, thuộc vùng đầm Sam - Chuồn, vùng giữa đầm phá
– nơi đại diện phát triển nghề NTTS có tính chất bùng phát nhất toàn vùng đầm
phá Thừa Thiên Huế. Về thời gian, luận án tập trung khảo sát thực tế từ năm
2001 đến 2003 và kế thừa nguồn số liệu, các kết quả nghiên cứu chủ yếu từ năm
1995 đến 2004.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp luận
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu của luận án là vận dụng tổng tích hợp
các nguyên lý phép biện chứng duy vật, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ
chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta; Đồng thời vận dụng một số
9
khái niệm, phạm trù và lý thuyết xã hội học phù hợp với đề tài để tiếp cận làm
sáng tỏ mục tiêu và nội dung đề ra.
Phương pháp nghiên cứu là chiến lược thực hiện nghiên cứu một cách có
hệ thống [J. J. Macionic (1987), tr. 55]. Phương pháp luận tiếp cận của đề tài là
phối kết hợp: từ vĩ mô đến vi mô; giữa lý luận với thực nghiệm; giữa phân tích
định tính với định lượng. Tiếp cận đối tượng nghiên cứu vừa ở trạng thái tĩnh
Sơ đồ A.1: Phương pháp tiếp cận vấn đề nghiên cứu của đề tài
Các lý thuyết vận dụng để tiếp cận vấn đề nghiên cứu của đề tài được phối
kết hợp và xác định ở ba cấp độ: (1)Tiếp cận tổng quát bằng quan điểm của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý thuyết hệ thống và biến đổi xã hội;
(2)các lý thuyết trung gian -“đệm”- cấu trúc để tiếp cận gần đến vấn đề nghiên
cứu có các lý thuyết: phát triển cộng đồng, cấu trúc chức năng, chủ tương chính
sách của Đảng và Nhà nước ta về giảm đói nghèo; và (3)tiếp cận trực tiếp mục
tiêu nghiên cứu – đi vào hành vi có các lý thuyết: sự lựa chọn hợp lý, phân tầng
xã hội, xung đột xã hội.
Để xây dựng khung lý thuyết cho luận án, trước hết thực hiện hoạt động
hoá biến số, tức là “định rõ chính xác những gì đang được đánh giá trong việc
chỉ định một giá trị cho một biến số”. Biến số là một khái niệm có giá trị thay
đổi tuỳ từng trường hợp [J. J. Macionic (1987), tr.46]. Tiếp đó, xác định các hệ
biến số và mô hình tương quan giữa chúng, trong đó quan trọng nhất là xác
Hệ Sinh thái - Nhân văn
vùng Đầm phá TT- Huế Hệ Tự nhiên
Sinh học Hệ Xã hội
Nhân văn
Môi trường
Khoa học
Công nghệ
11
định biến số độc lập - Biến số là nguyên nhân tạo ra thay đổi. Và biến số đang
thay đổi gọi là biến số phụ thuộc. [J. J. Macionic (1987), tr. 48]. Và sau đó xác
định các biến trung gian, biến can thiệp đến vấn đề nghiên cứu. Có thể tóm tắt
khung lý thuyết của luận án bằng sơ đồ mối tương quan giữa các biến số như sơ
đồ A.2.
Sơ đồ A.2: Khung lý thuyết nghiên cứu (Sơ đồ tương quan giữa các biến số)
Điều kiện
Xã hội,
Nhân văn
HỆ QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI
Tích cực và tiêu cực đến
- Xoá đói giảm nghèo.
- Mô hình phát triển kinh
tế đầm phá bền vững.
BIẾN
TRUNG GIAN
Tiếp cận tài
nguyên
Xungđột xh
Chuyển đổi
ngành nghề
Tạo việc làm
Ô nhiễm
môi trƣờng 12
5.2. Phƣơng pháp hệ
Để thực hiện được mục tiêu, nội dung và giải quyết các mối liên hệ biện
chứng giữa những vấn đề nghiên cứu của luận án, vừa đảm bảo tính đại diện,
tính khách quan, độ tin cậy, đồng thời luận giải các vấn đề nghiên cứu ở cả hai
trạng thái tĩnh và động, đề tài phối kết hợp nhiều phương pháp nhằm đối chiếu,
phân tích, so sánh từ nhiều dạng và nguồn thông tin dữ liệu:
1) Phân tích tài liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu đã công bố: Các dự
tọa đàm nhóm của nghiên cứu định tính chúng tôi xây dựng thành các nghiên
cứu trường hợp. Và 429 bảng hỏi được xử lý trên chương trình SPSS 9.0. Quá
trình xử lý và viết kết quả, kết hợp phân tích định tính và phân tích định lượng,
phối hợp nhiều nguồn thông tin, dữ liệu. Vận dụng lồng ghép các khái niệm,
phạm trù, lý thuyết và quy luật vào việc phân tích, tổng hợp, khái quát hoá
trong mỗi nội dung vấn đề để làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu của luận án.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu của luận án tập trung vào các vấn đề sau:
- Phát triển nghề NTTS đã tác động làm biến đổi kinh tế - xã hội, gia tăng
các hoạt động sống – giảm đói nghèo trong các nhóm dân cư vùng đầm phá
Tam Giang, thể hiện:
+ Mở rộng diện tích, loại hình và các thành phần kinh tế xã hội tham gia
NTTS sẽ giảm đói nghèo.
+ Tỷ lệ hộ ngư dân NTTS tăng làm giảm tỷ lệ hộ đói nghèo.
+ Tỷ lệ hợp lý giữa mức độ mở rộng qui mô và phân phối diện tích mặt
nước NTTS sẽ giảm hộ đói nghèo hoặc ngược lại.
- Phát triển nghề NTTS dẫn đến các vấn đề xã hội nảy sinh: Phân tầng,
xung đột, thay đổi tổ chức đời sống, thay đổi quan hệ xã hội.
- Nhiều yếu tố tác động đến cộng đồng ngoài phát triển nghề NTTS: Nhu
cầu nâng cao các hoạt động sống của cả cộng đồng; kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội, tài nguyên, môi trường chưa xác định được xu hướng.
- Mô hình phát triển NTTS hiện tại ở vùng đầm phá Tam Giang còn mang
yếu tố tự phát, thiếu tính bền vững.
- Những chính sách kinh tế - xã hội về phát triển NTTS còn có những
điểm chưa sát thực tế, chưa thực sự phù hợp với tình hình ở địa phương và
không ít những vấn đề kinh tế - xã hội đang đặt ra.
7. Đóng góp và ý nghĩa thực tiễn của luận án
7.1. Đóng góp khoa học của luận án
án nghiên cứu phát triển, dự án can thiệp vào các địa phương của vùng đầm phá
Thừa Thiên Huế nói riêng và các vùng đầm phá, ven biển Việt Nam nói chung.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận án có 3
chương, gồm 10 tiết.
15
B. NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN
CỨU GIẢM ĐÓI NGHÈO VÙNG ĐẦM PHÁ TAM GIANG
1.1. Một số lý luận cơ bản tiếp cận vấn đề nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án được hiểu gồm các khái niệm chủ chốt, các
khái niệm công cụ, và những lý thuyết xã hội học được vận dụng để tiếp cận
vấn đề nghiên cứu.
Các khái niệm công cụ của đề tài được xác định ở hai cấp độ: (1)Các
khái niệm chủ chốt gồm: đói nghèo; giảm đói nghèo; nghề NTTS; phát triển
bùng nổ NTTS; và (2)Một số khái niệm liên quan như: chất lượng cuộc sống;
cơ cấu kinh tế; cơ cấu ngành nghề. Các khái niệm “đói nghèo” được thao tác
hóa thành các chỉ báo để đo lường các biến số, các tương quan, các khía cạnh
và các mặt của đối tượng nghiên cứu “tác động của phát triển nghề NTTS đến
giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang”.
Các lý thuyết vận dụng để tiếp cận vấn đề nghiên cứu của đề tài được
phối kết hợp và xác định ở ba cấp độ: (1)Tiếp cận tổng quát có lý thuyết hệ
thống, biến đổi xã hội và quan điểm, các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta về giảm đói nghèo và phát triển bền vững; (2)Các lý thuyết trung
hiện trong các báo cáo nghiên cứu từ những năm 1990 đến nay là: Đói nghĩa là
Nghèo; nó không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo
một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng), mà còn là sự thụ hưởng
thiếu thốn về giáo dục và y tế. Hiện nay trong phát triển, WB mở rộng quan
niệm về đói nghèo để tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro –
không có tiếng nói và quyền lực [WB, 2000/2001, tr. 19].
Hiện nay trên thế giới và ở nước ta, khái niệm về nghèo đói có sự khác
biệt đáng kể. Một số tác giả cho rằng, nghèo thường đi đôi với đói và thiếu đói,
được hiểu là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới tối thiểu, chỉ
đủ khả năng đảm bảo có được mức lương thực bữa đói bữa no và có những khi
đứt bữa một hoặc hai, ba tháng. Trong bộ phận dân cư thiếu đói, có bộ phận
thiếu thốn và cực khổ nhất: tức những người “đói gay gắt”. Đói gay gắt là tình
17
trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thỉểu, đói ăn, đứt bữa
từ 3 tháng trở lên [Đỗ Thị Bình… (1996), tr.33], hoặc “đói gay gắt” là những
người có thu nhập dưới 8kg gạo/ đầu người/ tháng [Nguyễn Văn Thiều (1994),
tr.28].
Quan niệm của các tổ chức Liên hiệp quốc, nghèo đói được hiểu theo hai
nghĩa: “Nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối”. Nghèo tuyệt đối là tình trạng
của một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu
nhằm duy trì cuộc sống như nhu cầu ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục. Nghèo
tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư mức sống dưới trung bình của
cộng đồng nơi địa phương đang xét.
Một cách nhận diện khác: “Ai là người nghèo,” một thành phần xã hội tỏ
ra có khả năng rủi ro bị nghèo khổ nhiều hơn những người khác: Già, ốm, tàn
tật, gia đình đông, gia đình khuyết, gia đình tổn thương, thất nghiệp, lương
mặt: Chất lượng cuộc sống cao tức là phản ánh sự sang – giàu…, ngược lại chất
lượng cuộc sống thấp kém cũng đồng nghĩa với nghèo – hèn và có thể nghèo
đói, có hoạt động sống, lối sống, điều kiện sống, mức sống và môi trường sống
thấp. Không có một thang giá trị, chuẩn mực chung về chất lượng cuộc sống
cho mọi xã hội trong mọi thời điểm khác nhau của quá trình phát triển.
Để hiểu rõ các yểu tố quyết định đến đói nghèo và chất lượng cuộc sống
trên tất cả các phương diện, cần nghỉ đến vấn đề tài sản của người dân, lợi suất
của những tài sản đó và tính bất ổn định của mức lợi suất đó. Những tài sản này
tồn tại dưới các dạng: (1)Tài sản con người, như khả năng có được sức lao động
cơ bản, kỹ năng và sức khoẻ tốt; (2)Tài sản tự nhiên, như đất đai; (3)Tài sản
nhân tạo - vật chất, như tiếp cận đến cơ sở hạ tầng; (4)Tài sản tài chính, như
tiết kiệm và được vay vốn; (5)Tài sản tri thức “tri thức đã mã hoá”; (6)Tài sản
xã hội, như các mối quan hệ và trách nhiệm đối với nhau để khi cần có thể nhờ
cậy và ảnh hưởng chính trị đối với các nguồn lực [WB,…2000/2001, tr.41],
[WB, (2003). tr.53].
Từ nhiều hướng tiếp cận về chất lượng cuộc sống như: tiếp cận kinh tế,
tiếp cận kinh tế học phát triển hay tiếp cận tấn công đói nghèo theo cách của
WB, chung qui lại với cách nhìn toàn diện, chỉnh thể (dù cấp độ nào, ở chế độ
xã hội nào, với tư cách là đời sống con người, cộng đồng người hướng tới phát
triển, hiện đại), chất lượng cuộc sống được phản ánh đầy đủ qua các yếu tố cơ
19
bản cả về chất và lượng như sau: (1)Những đặc điểm nhân khẩu trong gia đình
và cộng đồng; (2)Mức cân đối thu nhập và chi tiêu; (3)Vấn đề giáo dục và mức
độ thụ hưởng; (4)Tình trạng Y tế, sức khoẻ và mức độ thụ hưởng; (5)Nhà ở,
điều kiện sinh hoạt, vui chơi giải trí…; (6)Đời sống tâm linh, tình cảm, nhu cầu
thoả mãn tinh thần; (7)An ninh, an toàn, bình đẳng, tự chủ bởi môi trường bao