tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững - Pdf 10


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Lan Anh

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC KHAI THÁC VÀ NUÔI
TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN RỪNG NGẬP MẶN Ở
LONG SƠN (TP.VŨNG TÀU) VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC KHAI THÁC VÀ NUÔI
TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN RỪNG NGẬP MẶN Ở
LONG SƠN (TP.VŨNG TÀU) VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG

Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VÕ SĨ TUẤN Thành phố Hồ Chí Minh – 2011 LỜI CAM ĐOAN

những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học
tập và hoàn thành luận văn.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2011

Nguyễn Thị Lan Anh
MỤC LỤC
0TLỜI CAM ĐOAN0T 3
0TLỜI CẢM ƠN0T 4
0TMỤC LỤC0T 5
0TĐẶT VẤN ĐỀ0T 7
0TCHƯƠNG 1: TỔNG QUAN0T 9
0TCHƯƠNG 2: MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
0T 15
0T2.1. Mục tiêu nghiên cứu0T 15
0T2.2. Đối tượng nghiên cứu0T 15
0T2.2.1. Đối tượng nghiên cứu0T 15
0T2.2.2. Phạm vi nghiên cứu0T 15
0T2.3. Nội dung nghiên cứu0T 15
0T2.4. Phương pháp nghiên cứu0T 16
0T2.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp0T 16
0T2.4.2. Phương pháp điều tra cộng đồng0T 16
0T2.4.3. Phương pháp khảo sát thực địa0T 17
0T2.4.4. Phương pháp vẽ bản đồ và tính diện tích rừng ngập mặn0T 17
0TCHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA XÃ LONG
SƠN, TP.VŨNG TÀU
0T 18
0T3.1. Điều kiện tự nhiên0T 18
0T3.1.1 Vị trí địa lí0T 18
0T3.1.2. Khí hậu, địa hình0T 18

0TTÀI LIỆU THAM KHẢO0T 61
0TPHỤ LỤC0T 66

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái đặc biệt ở vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới
và đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế xói lở, cố định bãi bồi, chống sóng gió, cung
cấp các chất dinh dưỡng và là nơi sinh sản, ương giống cho các loài thủy sinh vật, lọc trong
nước thải, giữ cân bằng sinh thái ở vùng ven biển. Ðây cũng là môi trường thích hợp cho
các hoạt động nuôi trồng thủy sản, đánh bắt tôm, cá, các đặc sản thủy sản có giá trị khác.
Rừng ngập mặn còn là nơi cư trú của các loài động vật hoang dã như: chim, thú, bò sát,
lưỡng cư. Các sản phẩm có giá trị của thực vật như gỗ, ta nin, than, giấy, đường, rượu, dược
liệu cũng được khai thác từ rừng ngập mặn. Như vậy rừng ngập mặn cung cấp rất nhiều
nguồn lợi cho con người cả về thực vật lẫn động vật đặc biệt là nguồn lợi về thủy sản.
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, là một trong 7 tỉnh,
thành phố của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, được xác định là vùng động lực và trên
thực tế là vùng lãnh thổ phát triển năng động nhất cả nước. Trong những năm gần đây ở Bà
Rịa – Vũng Tàu do sự phát triển của các khu công nghiệp, khai thác trái phép rừng ngập
mặn, lấn chiếm đất để nuôi trồng thủy sản góp phần làm thu hẹp diện tích rừng ngập mặn
đồng thời ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản trong vùng. Đặc biệt là việc nuôi trồng thủy
sản phát triển nhanh, diện tích nuôi ngày càng mở rộng, người nuôi dùng nhiều biện pháp để
nâng cao năng suất dẫn đến lượng hóa chất đưa vào môi trường ngày càng nhiều, vấn đề
môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm đang trở thành mối lo ngại cho xã hội.
2TLong Sơn là một xã đảo duy nhất trực thuộc thành phố Vũng Tàu có p2Thía Đông giáp
sông Dinh, phía Bắc giáp xã Tân Hải - huyện Tân Thành và thị xã Bà Rịa (thuộc tỉnh Bà Rịa
– Vũng Tàu), phía Tây và phía Nam giáp biển (vịnh Gành Rái). Long Sơn có gần 100 ha
rừng ngập mặn tự nhiên và hơn 400 ha rừng trồng ngập mặn (chủ yếu là cây đước). Rừng
ngập mặn của Long Sơn đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ ven biển, là môi
trường để phát triển thủy sản bền vững. Toàn xã có diện tích đất nuôi trồng thủy sản kể cả
đất mặt nước là 2955 ha trong đó đất nuôi trồng thủy sản là 1191,78 ha, đất mặt nuớc nuôi

ngập mặn và nguồn lợi thủy sản, tác động qua lại giữa chúng và giải pháp phát triển bền
vững hệ sinh thái nhạy cảm này.
* Trên thế giới
Có thể điểm qua một số công trình sau đây:
Đề tài: “Mô hình nuôi trồng cá vùng cửa sông” của Hickling C.F. (1970) cho thấy
vùng cửa sông phù hợp với việc phát triển mô hình nuôi trồng các loại cá, tôm nước lợ,
mặn. Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến các loại cá được nuôi, nguồn giống, nguồn thức ăn
và các biện pháp quản lí vùng nuôi ở một số nơi trên thế giới như Nga, Nhật Bản, Ý.[4]
Đề tài: “Chuyển đổi rừng ngập mặn sang ao nuôi trồng thủy sản” của Kapetsky
(1986) cho thấy việc chuyển đổi rừng ngập mặn không qui hoạch sang ao nuôi trồng thủy
sản là một trong những nguyên nhân làm mất mát diện tích rừng ngập mặn và làm suy giảm
đa dạng sinh học. Trong suốt ba thập kỷ qua, 196.000 ha rừng ngập mặn của Philippines và
42.000 ha rừng ngập mặn của Ecuador đã được chuyển đổi thành ao nước lợ nuôi cá và nuôi
tôm tương ứng. Tuy nhiên việc nuôi trồng thủy sản ở các ao nước lợ trong vùng ngập mặn
đều thất bại về kinh tế và sinh thái. Các ao nuôi tôm đều hoạt động dưới tiềm năng sản xuất
mặc dù đã tăng cường sử dụng các chất kháng sinh, hóa chất nhưng số ao nuôi tôm tồn tại
khá khiêm tốn. Rừng ngập mặn còn chịu sự phá hủy của tự nhiên như bão, sóng thần. Thiệt
hại nghiêm trọng do bão gây ra ở Tây Nam Bangladesh năm 1988 đã phá hủy 8.500.000 cây
ngập mặn tương đương với 66,3 triệu m
P
3
P gỗ thương mại. Hơn nữa, quy mô thay đổi lớn về
môi trường sau biến thể vi khí hậu; bất thường dao động mức nước biển, muối tích tụ trong
đất hoặc lũ lụt cũng đã góp phần cho sự phá hủy rừng ngập mặn.[6]
Đề tài: “Một số vấn đề về môi trường trong qui hoạch nuôi trồng thủy sản” của
Saenger P. (1993) đã nghiên cứu những tác động trực tiếp và gián tiếp của việc nuôi trồng
thủy sản đến môi trường sống. Tác động trực tiếp của việc nuôi trồng thủy sản đó là làm mất
mát diện tích rừng ngập mặn, thảm cỏ biển từ đó làm mất môi trường sống của một số loài
dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học. Các hoạt động liên quan đến nuôi trồng thủy sản
như: nạo vét, cải tạo làm thay đổi chế độ thủy văn, ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái biển. Tác

trồng thủy sản đã trở thành một vấn đề cấp bách cho khu vực.[2]
Đề tài: “Cơ sở của việc bảo vệ và đồng quản lí rừng ngập mặn” của Schmit, K.
(2010) đã đưa ra khái niệm, quy trình và nguyên tắc đồng quản lí. Đồng quản lí dựa trên nền
tảng thương lượng, lấy quyết định chung, mức độ chia sẻ quyền hạn và phân phối công bằng
lợi ích giữa tất cả các bên liên quan. Quy trình đồng quản lý theo một quy trěnh bốn bước,
trong đó bốn nguyên tắc phải được áp dụng. Bốn bước gồm: Tham khảo ý kiến và tổ chức,
thương lượng và thỏa thuận, thực hiện, giám sát và đánh giá và bốn nguyên tắc gồm: quản
lý tổng hợp vùng ven biển, sự tham gia, phân khu, giám sát. Đồng quản lý rừng ngập mặn sẽ
đem lại lợi ích như sau: Bảo vệ hiệu quả các khu rừng ngập mặn, cải thiện sinh kế qua việc
đảm bảo sử dụng bền vững tài nguyên, người sử dụng tài nguyên được tham gia quyết định
việc quản lý tài nguyên, giảm khối lượng công việc cho chính quyền chia sẻ lợi ích như một
phần của cách tiếp cận, quản lý tổng hợp vùng ven biển.[11]
* Tại Việt Nam
Công trình nghiên cứu về: “Mối quan hệ của hệ sinh thái rừng ngập mặn và nguồn
lợi hải sản” của Phan Nguyên Hồng (2003) và cộng sự đã cho thấy rừng ngập mặn là nơi
nuôi dưỡng các loài hải sản và hỗ trợ nghề cá. Rừng ngập mặn bảo vệ hiệu quả và xử lí các
chất thải của các đầm tôm, cua. Các nguồn tôm giống bố mẹ đều có quan hệ mật thiết đến
rừng ngập mặn. Chính nhờ mùn bã phong phú của rừng ngập mặn mà năng suất của các
đầm tôm, cua cao hơn. Và việc trồng rừng ngập mặn ở một số tỉnh đã đem lại thu nhập cho
người dân thông qua nguồn lợi hải sản.[12]
Đề tài: “Đánh giá tác động của việc phục hồi rừng ngập mặn đối với nguồn lợi thủy
sản ở một số xã ven biển thuộc tỉnh Thái Bình và Nam Định” của Phan Thị Thúy, Lê Xuân
Tuấn (1998) đã xác định việc phục hồi rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng tạo ra nguồn
lợi thủy sản to lớn từ đó đem lại lợi ích kinh tế cho người dân.[35]
Đề tài: “Sự gia tăng nguồn lợi hải sản sau khi có rừng ngập mặn trồng tại huyện
Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định” của Lê Xuân Tuấn, Đỗ Thành Trung (1998) đã cho thấy sự
phát triển của rừng ngập mặn có tác dụng bảo vệ đê biển, cải thiện môi trường đồng thời
làm gia tăng nguồn hải sản đến cư trú và sinh sống góp phần giải quyết công ăn việc làm
cho người dân trong vùng.[36]
Đề tài: “Ảnh hưởng của rừng ngập mặn đối với hệ thống nuôi tôm rừng ở đồng bằng

mặn gồm có:
Đề tài: “Sử dụng bền vững và có hiệu quả kinh tế các tài nguyên trong hệ sinh thái
rừng ngập mặn ở xã Liên Vị, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh” của Phạm Văn Minh
(1995) đã đưa ra một số biện pháp khai thác, quản lí và bảo vệ rừng ngập mặn có hiệu quả
như sau: quá trình khai thác phải đi đôi với việc củng cố, phát triển và nuôi dưỡng rừng
ngập mặn; phải nghiên cứu những cây dược liệu quí là cây ngập mặn để có phương thức chế
biến và khai thác có kế hoạch; phải có qui chế quản lí toàn bộ diện tích rừng ngập mặn và
thông báo cho nhân dân trong vùng nhận thực và hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của rừng
ngập mặn.[16]
Còn trong công trình nghiên cứu: “Qui hoạch môi trường thành phố Hải Phòng và
định hướng bảo tồn phát triển tài nguyên sinh vật vùng ngập nước ven biển” của tác giả Lê
Trình và cộng sự (1996) cho rằng việc bảo tồn rừng ngập mặn ngoài việc khai thác hợp lí
nguồn tài nguyên, trồng rừng bổ sung thì cần phải xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên rừng
ngập mặn. Đồng thời giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội như: đưa việc giáo dục bảo vệ
rừng ngập mặn vào nhà trường, cung cấp chất đốt để thay thế cho việc dùng củi từ cây ngập
mặn, áp dụng các kĩ thuật công nghệ tiên tiến vào nuôi trồng thủy sản để tăng năng suất thay
cho việc phá rừng làm đầm mới, giảm thiểu việc khai thác hải sản trong khu vực rừng ngập
mặn để bảo vệ đàn giống cho dải ven bờ.[27]
Đề tài: “Cộng đồng ven biển và vấn đề quản lí nguồn tài nguyên ven biển” của tác
giả Trần Minh Hiền và cộng sự (1996) đã đề xuất các giải pháp phát triển bền vững từ phía
cộng đồng ven biển như: Hỗ trợ tài chính cho các hộ dân đánh bắt xa bờ để nâng cao sản
lượng trong bối cảnh nguồn lợi ven bờ bị cạn kiệt, nâng cao nhận thức của người dân nhằm
chấm dứt phương thức đánh bắt hủy diệt, kiểm soát các vấn đề ô nhiễm do rác thải sinh hoạt
và công nghiệp, xây dựng đê biển, đầu tư xóa đói giảm nghèo.[7]
Đề tài: “Mô hình phục hồi, quản lí hệ sinh thái theo hướng đồng quản lí” của Lý Hòa
Khương (2010) đã đưa ra giải pháp phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn bằng mô
hình đồng quản lí. Mô hình này dựa trên việc thiết lập lợi ích cho nhiều bên liên quan dẫn
đến cải thiện rừng ngập mặn thông qua qui hoạch tổng hợp việc sử dụng nguồn tài nguyên
và thử nghiệm phương pháp tiếp cận đồng quản lí có sự tham gia của nhiều nhóm đối tượng
chủ yếu là cộng đồng dân tộc người Khmer, phụ thuộc vào tài nguyên vùng ven biển.[14]

Phạm vi nghiên cứu là xã Long Sơn của tp. Vũng Tàu.
Phạm vi áp dụng: kết quả của đề tài làm cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước và
chính quyền xã xây dựng và thực thi các giải pháp quản lí và sử dụng bền vững tài nguyên
thủy sản liên quan đến rừng ngập mặn xã Long Sơn, tp. Vũng Tàu.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề sau đây:
1. Phân bố và diện tích rừng ngập mặn
2. Thành phần cây ngập mặn chủ yếu
3. Tài nguyên thủy sản liên quan rừng ngập mặn và hiện trạng khai thác thủy sản
4. Hiện trạng nuôi trồng thủy sản
5. Tác động và tình trạng suy thoái tài nguyên rừng ngập mặn
6. Giải pháp đề xuất liên quan đến quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên thủy sản
liên quan rừng ngập mặn
2.4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu đã đặt ra, luận văn sẽ áp dụng các phương
pháp nghiên cứu sau đây:
2.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Kế thừa tất cả các tài liệu (sách, luận văn, báo cáo nghiên cứu khoa học, bản đồ…)
có liên quan đến tài nguyên thủy sản của rừng ngập mặn Việt Nam nói chung và ở xã Long
Sơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng. Đồng thời, liên hệ với các sở (Tài nguyên – Môi
trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn…), ban quản lí rừng phòng hộ, thư viện tổng
hợp của tỉnh để thu thập các thông tin liên quan đến đề tài về các vấn đề như: đặc điểm rừng
ngập mặn xã Long Sơn và tài nguyên thủy sản của nó, hiện trạng khai thác và nuôi trồng
thủy sản, các tác động tới tài nguyên rừng ngập mặn…
2.4.2. Phương pháp điều tra cộng đồng
Điều tra, phỏng vấn trực tiếp người dân sinh sống ở vùng ngập mặn bằng cách sử
dụng mẫu phiếu đã lập sẵn những thông tin cần thu thập phục vụ cho nghiên cứu đề tài.
Ngoài ra, chúng tôi còn phỏng vấn cán bộ quản lí rừng, cán bộ thủy sản và cán bộ xã tại địa
phương để có thông tin tổng quát và xác thực hơn.
Nội dung phỏng vấn: tìm hiểu về tài nguyên thủy sản liên quan rừng ngập mặn và

XÃ LONG SƠN, TP.VŨNG TÀU

3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lí
2T Long Sơn là một xã đảo duy nhất trực thuộc thành phố Vũng Tàu được bao bọc
bởi bốn bề sông nước có p
2Thía đông giáp sông Dinh, phía Nam giáp xã Tân Hải - huyện Tân
Thành, phía tây bắc giáp biển, phía bắc giáp với TP. Vũng Tàu và cách trung tâm thành phố
chừng 10 km theo đường chim bay.[25]
3.1.2. Khí hậu, địa hình
Long Sơn nằm trong vùng khí hậu đồng bằng Nam Bộ có hai mùa rõ rệt: mùa khô
và mùa mưa. Mùa khô có nền nhiệt độ cao và hầu như quanh năm không thay đổi kéo dài từ
tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 27
P
o
PC. Mùa mưa bắt đầu từ
tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa phân bố đều trong các tháng, lượng mưa trung bình là
1356,5 mm.
Địa hình Long sơn đa dạng và xen kẽ lẫn nhau, bao gồm: Núi, đồng bằng và vùng
đầm lầy. Khu vực núi gồm có núi Nứa, nằm gần chính giữa đảo, có độ cao là 182m. Khu
vực đồng bằng bao quanh các ngọn núi trên có độ cao trung bình là 5 – 7 m. Khu đầm lầy
bao quanh đảo và giáp với biển, sông Chà và, sông Rạng có độ cao từ 0,2 – 1m.[37]
3.1.3. Thủy văn, biển
Long Sơn là hòn đảo che chắn các cửa sông đổ vào vịnh Gành Rái bao gồm hai
hệ thống sông chính là sông Rạng và sông Chà Và. Sông Rạng là một nhánh của sông Dinh,
tách ra từ sông Dinh tại Phước Cơ thành phố Vũng Tàu, sông có chiều dài khoảng 3 km.
Sông Chà Và nằm phía Đông của đảo được tách ra từ sông Rạng, phần hạ lưu của sông
Dinh, sông chịu ảnh hưởng của thủy triều. Sông Dinh dài khoảng 35 km nằm gọn trong tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu, lưu vực sông rộng khoảng 300 km
P

+ Vùng ven biển Đồng bằng Bắc bộ
+ Vùng ven biển Bắc Trung bộ
+ Vùng ven biển Nam Trung bộ
+ Vùng ven biển Bà Rịa – Vũng Tàu – thành phố Hồ Chí Minh (miền Đông Nam
bộ). [20]
Như vậy, rừng ngập mặn xã Long Sơn thuộc khu vực vùng ven biển Bà Rịa –
Vũng Tàu – thành phố Hồ Chí Minh. Vùng này được hình thành từ các sản phẩm bồi tụ của
hệ thống sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, bãi bồi tương đối rộng, phù sa giàu đất sét, khí
hậu quanh năm ấm áp, không có mùa đông, không có bão, khá thuận lợi cho cây ngập mặn
sinh trưởng.
Long Sơn có 97,9 ha rừng ngập mặn tự nhiên và 412,2 ha rừng trồng ngập mặn
(theo báo cáo hiện trạng rừng của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2009) phân bố rải rác bao
quanh xã, trong đó tập trung nhiều nhất ở thôn 2, thôn 9, thôn Rạch Giá, thôn Bến Điệp.
Đặc điểm phân bố, diện tích và hiện trạng sử dụng rừng ngập mặn theo từng khu vực được
trình bày cụ thể ở bảng 4.1 và hình 4.1.

Khu vực có
rừng ngập mặn
Diện
tích
(ha)
Đặc điểm phân
bố (dày hay
thưa thớt)
Kiểu rừng
(Rừng tự nhiên
hay rừng trồng)

Rừng phòng hộ
Thôn 6 19.3 Rải rác Tự nhiên
Đước, Mắm trắng, Dà vôi, Bần
chua
Rừng phòng hộ
Thôn 8 14.1 Rải rác Tự nhiên
Đước, Mắm đen, Dà quánh,
Bần trắng
Rừng phòng hộ
Thôn 9 (Khu Gò
Găng)
39.2 Dày Rừng trồng Đước, Mắm trắng, Bần trắng Rừng phòng hộ
Bảng 4.1: Đặc điểm của các khu vực rừng ngập mặn chủ yếu ở Long Sơn
(Số liệu do Tống Phước Hoàng Sơn tính toán) Dựa theo bảng 4.1: Đặc điểm của các khu vực rừng ngập mặn chủ yếu ở Long Sơn
(Số liệu do Tống Phước Hoàng Sơn tính toán) ta có diện tích rừng ngập mặn tự nhiên và
rừng trồng ngập mặn được tính toán bằng phần mềm MapInfo 7.5 lần lượt là: 101,7 ha và
415,8 ha. Như vậy, so với kết quả diện tích rừng theo báo cáo hiện trạng rừng của tỉnh Bà
Rịa – Vũng Tàu năm 2009 là không chênh lệch nhiều.
4.1.2. Thành phần và đặc điểm cây ngập mặn chủ yếu
4.1.2.1. Thành phần cây ngập mặn chủ yếu
Theo nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng (1993) thì trong các hệ sinh thái ở rừng
ngập mặn Việt Nam có tới 77 loài cây ngập mặn khác nhau thuộc 2 nhóm đó là:
+ nhóm cây ngập mặn “thực thụ”: Nhóm này có 36 loài cây ngập mặn thuộc 20 chi của 14
họ (năm 1999 có bổ sung thêm một loài)

Minh) tạo thành một quần thể rừng ngập mặn rộng hàng trăm km
P
2
P. Rừng ngập mặn Cần Giờ
có diện tích là 24,592 ha bao gồm 33 loài cây rừng ngập mặn thực thụ thuộc 36 chi, 24 họ
trong đó có các loài chủ yếu sau: Bần trắng, Mắm trắng, Mắm đen, Đước đôi, Giá, Dừa
nước, Chà là.[21]
Cách trung tâm thành phố Vũng Tàu khoảng 180 km về phía đông là hệ thống
rừng ngập mặn của Vườn Quốc gia Côn Đảo thuộc huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng

Tàu. Rừng ngập mặn Côn Đảo có diện tích không nhiều khoảng 30 ha nhưng là rừng
nguyên sinh chưa bị tác động bởi con người bao gồm 23 loài cây ngập mặn thực sự (thuộc
11 họ) và 18 loài cây gia nhập rừng ngập mặn (thuộc 16 họ), trong đó các cây ngập mặn
chiếm ưu thế là: Đước đôi, Sú đỏ, Dà vôi, Vẹt dù, Đâng, Đưng.[13]
Về cơ bản đặc điểm thành phần loài của rừng ngập mặn xã Long Sơn gần với
rừng ngập mặn Cần Giờ hơn so với rừng ngập mặn Côn Đảo. Tuy nhiên theo kết quả điều
tra thì diện tích rừng ngập mặn của Long Sơn nhỏ hơn và số loài ít hơn so với rừng ngập
mặn Cần Giờ. Chúng tôi đã xác định rừng ngập mặn xã Long Sơn có 10 loài cây ngập mặn
thực thụ thuộc 8 chi, 5 họ. (Bảng 4.2)
Aizoaceae
1. Sesuvium portulacastrum L.
Họ Rau đắng đất
Sam biển, Hải châu
Arecaceae
2. Phoenix paludosa Roxb.
3. Nypa fruticans Wurmb.
Họ Cau Dừa
Dừa nước, Dừa lá
Chà là
Avicennniaceae

Long Sơn. Qua kết quả điều tra, hầu như các khu vực ngập mặn trong xã đều có Đước.
+ Quần xã Đước (R. apculata), Dà vôi (Ceriops tagal) và Mắm trắng (Avicennia
alba) phân bố trên các bãi bồi có độ ngập nước sâu trung bình khi triều cường (khu vực cầu
Long Sơn, thôn 9) (Hình 4.2, 4.3).
+ Quần xã Đước (R. apculata), Mắm đen (Avicennia officinalis), Dà quánh (Ceriops
decandra) phân bố trên các bãi bồi khi ngập triều cao (thôn Rạch Giá, thôn Bến Điệp, thôn
2, thôn 4).
+ Quần xã Chà là (Phoenix paludosa), Sam biển (Sesuvium portulacastrum) phân bố
trên các bãi bồi chỉ ngập nước khi có nước triều cao và cao bất thường trong năm (phân bố
rải rác trong các thôn như thôn 6, thôn 8, thôn 10).
Ở khu vực nước lợ cửa sông của vùng này thường gặp các quần thể chủ yếu sau:
+ Quần thể Bần chua (Sonneratia caseolaris) là quần thể cây ngập mặn tiên phong cố
định bãi bồi vùng cửa sông, nước lợ, ngập sâu (khu vực cầu Long Sơn, rừng Sác).
+ Quần thể Dừa nước (Nypa fruticans) phân bố trên các bãi bồi vùng nước lợ cửa
sông được ngập nước khi triều cao trung bình (phân bố rải rác trong các thôn như thôn 1,
thôn 6, thôn 8).

4.1.2.2. Đặc điểm của các loài cây ngập mặn chủ yếu
* Đước đôi (Rhizophora apiculuta Bl.)
Hình 4.2, 4.3: Một góc rừng ngập mặn nhìn từ khu vực cầu Long Sơn
và thôn 9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status