RỪNG NGẬP MẶN TẠI CỬA SÔNG GIANH TỈNH QUẢNG BÌNH VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT NGẬP NƯỚC potx - Pdf 12

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Tập 75A, Số 6, (2012), 187-195

187
RỪNG NGẬP MẶN TẠI CỬA SÔNG GIANH TỈNH QUẢNG BÌNH
VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT NGẬP NƯỚC
Dương Viết Tình, Nguyễn Trung Thành
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế

Tóm tắt. Rừng ngập mặn tại cửa sông Gianh có diện tích là 22,1 ha, phân bố tại vùng cửa
sông và các bãi ngập triều cao với thành phần gồm 23 loài của 17 họ thực vật. Các loài chủ
yếu như Trang, Giá, Đước, Vẹt dù chiếm ưu thế về tổ thành. Các nhân tố sinh thái như độ
mặn nước, chế độ thủy triều và thể nền có ảnh hưởng đến sự phân bố loài và khả năng sinh
trưởng của rừng ngập mặn tại cửa sông Gianh. Rừng ngập mặn vùng cửa sông có vai trò
quan trọng trong việc bảo vệ hệ thống đê điều và đóng góp đáng kể cho sinh kế của cộng
đồng. Việc bảo vệ và phục hồi tài nguyên RNM sẽ cải thiện đáng kể cho đời sống của người
dân trong khu vực và sẽ góp phần ứng phó biến đổi khí hậu cho vùng ven biển miền Trung.

1. Đặt vấn đề
Rừng ngập mặn (RNM) là dạng cấu trúc thực vật đặc trưng của vùng ven biển
nhiệt đới và cận nhiệt đới. Vai trò của RNM được khẳng định với nhiều các sản phẩm
cung cấp cho cộng đồng bao gồm các vật liệu xây dựng, nhiên liệu, thức ăn… RNM còn
là nơi sinh sống của nhiều loài hải sản, chim và nhiều động vật khác. Ngoài những giá
trị về kinh tế và đa dạng sinh học thì RNM còn giữ một vai trò quan trọng trong việc
bảo vệ bờ biển, bờ sông, điều hòa khí hậu, hạn chế xói lở, ổn định đất phù sa mới bồi,
hạn chế sự xâm mặn, bảo vệ đê điều, nước biển dâng. Ðồng thời nó cũng có vai trò đặc
biệt trong việc ứng phó biến đổi khí hậu (BÐKH). Ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu về
RNM tuy nhiên dữ liệu hầu hết tập trung ở phía Bắc và phía Nam. Khu vực ven biển
miền Trung nơi tài nguyên RNM ít được chú trọng nghiên cứu, mặc dù hệ thống RNM

phi tham số
5. Kết quả và thảo luận
5.1. Diện tích và phân bố rừng ngập mặn
Kết quả điều tra nhận thấy hiện trạng rừng ngập mặn phân bố dọc theo các bãi
bồi hai bên bờ sông theo hướng lên thượng lưu của sông Gianh. RNM tập trung chủ yếu
ở phía ngoài đê và vùng không có đê (xem bản đồ hình 1). Tổng diện tích RNM tại khu
vực cửa sông Gianh là 22,1 ha, trong đó huyện Quảng Trạch có 20,9 ha và Bố Trạch là
1,2 ha. Diện tích tập trung dọc theo phía ngoài đê là 14,81 ha (chiếm 67%) và ở những
vùng không có đê là 7,29 ha (chiếm 33%).
Những diện tích RNM còn phát triển tốt hiện nay là rừng trồng phục hồi với tổ
thành cây ngập mặn điển hình ở ngoài đê. RNM qua quá trình thích nghi đã có sự phân
hóa và phân bố theo vùng tạo thành các tiểu vùng có đặc trưng nhóm loài khác nhau.

DƯƠNG VIẾT TÌNH, NGUYỄN TRUNG THÀNH 189

Hình 1. Bản đồ phân bố rừng ngập mặn tại cửa sông Gianh
5.2. Thành phần loài cây rừng ngập mặn
Hệ thực vật ngập mặn, ở đây có 23 loài của 17 họ thực vật. Họ Đước
(Rhizophoraceae) có số loài nhiều nhất (3 loài), họ Lúa (Poaceae) 2 loài và họ Đậu
(Fabaceae) có 2 loài còn các họ khác chiếm tỷ lệ ít hơn (1 loài). Trong tổng số loài
điều tra có 12 loài thực vật chính thức, chiếm 31,4% tổng số cây ngập mặn thực thụ ở
Việt Nam và 11 loài thực vật tham gia RNM. Điều này cho thấy hệ thực vật ở cửa sông
Gianh có tính đa dạng thành phần loài và mang đầy đủ tính đặc trưng của các loài thực
vật ngập mặn.
Bảng 1. Công thức tổ thành ở một số vị trí điều tra vùng RNM
Vị trí
Khoảng
cách so
cửa sông
(km)

chết ở một số vùng như Quảng Phong, Quảng Văn năm 2007. Như vậy nền nhiệt độ ở
sông Gianh thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây. Tuy nhiên, sự biến thiên
nhiệt độ trong năm gây nên sự bất lợi cho cây.
Kết quả nghiên cứu về lượng mưa hằng năm vào khoảng 2.976mm, đây là điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây ngập mặn trong khu vực. Tuy nhiên, khi nghiên
cứu về mực nước trung bình tháng tại sông Gianh nhận thấy mực nước trung bình có sự
thay đổi, đặc biệt là vào mùa mưa.
Biểu đồ mực nước trung bình tháng trạm sông Gianh (2006 - 2009)
-1.50
-1.00
-0.50
0.00
0.50
1.00
1.50
2.00
Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12
Tháng
Mực nước (m)
Hmax
Hmin

Biểu đồ 1. Biểu đồ mực nước TB tháng trạm sông Gianh (2006 – 2009)
(Nguồn: Đoạn QLĐS Quảng Bình, 2010)
DƯƠNG VIẾT TÌNH, NGUYỄN TRUNG THÀNH 191
Theo biểu đồ mực nước trung bình tháng tại trạm sông Gianh trong 4 năm (2006
- 2009) ta có thể thấy rằng mực nước sông có sự dâng cao về mùa mưa, trung bình vào
các tháng 9, 10, 11 cao hơn 1m và đỉnh điểm cao tới 1,89m (tháng 10/2009).
5.4. Đa dạng thảm thực vật khu vực cửa sông Gianh
Thực vật rừng ngập mặn sông Gianh ngoài các loài cây ngập mặn chính thức

Vị trí Chiều dài đê sông
Huyện Xã Tổng Có rừng
Chưa có
rừng
Quảng Trạch
Quảng Phúc 3,2 1,3 1,9
Quảng Thuận 2,3 1,1 1,2
Quảng Phong 3,1 1,2 1,9
Quảng Hải 5,6 2,3 3,3
Quảng Văn 2,9 1,7 1,2
Quảng Lộc 4,5 0,6 3,9
Quảng Tân 2,0 - 2,0

23,6 8,2 15,4
Bố Trạch
Thanh Trạch 1,8 - 1,8
Bắc Trạch 3,3 - 3,3
Hạ Trạch 2,1 0,2 1,9
Mỹ Trạch 3,1 0,7 2,4

10,3 0,9 9,4
Tổng 33,9 9,1 24,8
(Nguồn: Số liệu điều tra, 2009)
5.6. Sự suy giảm tài nguyên và ảnh hưởng đối với người dân
Tổng diện tích rừng mất đi do nuôi trồng thủy sản (NTTS) là 9,3 ha (chiếm 30%
diện tích thay đổi). Diện tích rừng mất đi nhiều nhất ở xã Quảng Phong (5,3 ha), Quảng
Phúc (3,1 ha). Diện tích RNM được trồng năm 2009 trên toàn khu vực là 25 ha với tỷ lệ
sống là 80%).
Bảng 4. Sự suy giảm diện tích rừng ở một số xã vùng cửa sông
Địa điểm Năm Diện tích thay đổi (ha) Hiện trạng

khoảng 0,4 – 0,7m đã tạo sự phân định vùng phân bố rõ nét cho các loài cây rừng ngập
mặn theo hướng Đông Tây và Bắc Nam.
4.3. Rừng ngập mặn vùng cửa sông có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ hệ
thống đê điều và đóng góp đáng kể cho sinh kế của cộng đồng. Việc bảo vệ và tái phục
hồi tài nguyên RNM sẽ cải thiện đáng kể cho đời sống của người dân trong khu vực.
4.4. Phục hồi và phát triển RNM ở các bãi bồi vùng cửa sông, trồng các loài cây:
Vẹt dù, Trang, Bần, Sú… Với các phương thức trồng rừng hỗn loài hay thuần loài.
Quy hoạch vùng đất ngập nước 2 bên bờ sông Gianh cho trồng rừng và NTTS
theo hướng bền vững dựa vào sự tham gia của cộng đồng. Đặc biệt lập kế hoạch trồng
lại rừng dọc các tuyến đê chưa có rừng ở vùng hạ nguồn cửa sông Gianh nhằm góp
194 Rừng ngập mặn tại cửa sông Gianh tỉnh Quảng Bình…
phần ứng phó với biến đổi khí hậu. Quy hoạch sử dụng đất và giao RNM còn lại cho
các tổ nhóm cộng đồng sống liền kề để tham gia quản lý rừng và hưởng lợi các lâm sản
ngoài gỗ trong rừng ngập mặn.
Một số đề nghị cho hướng phát triển rừng ngập mặn như sau:
- Phục hồi và phát triển RNM ở các bãi bồi vùng cửa sông, trồng các loài cây: Vẹt
dù, Trang, Bần, Sú… Với các phương thức trồng rừng hỗn loài hay thuần loài. Mật độ
có thể lựa chọn là 1x1m với các bãi triều cao và 0,7x 0,7m đối với các bãi triều thấp.
- Quy hoạch vùng đất ngập nước 2 bên bờ sông Gianh cho trồng rừng và NTTS
theo hướng bền vững dựa vào sự tham gia của cộng đồng. Đặc biệt lập kế hoạch trồng
lại rừng dọc các tuyến đê chưa có rừng ở vùng hạ nguồn cửa sông Gianh.
- Quy hoạch sử dụng đất và giao RNM còn lại cho các tổ nhóm cộng đồng sống
liền kề để tham gia quản lý rừng và hưởng lợi các lâm sản ngoài gỗ trong RNM.
- Vai trò của UBND huyện và xã là rất quan trọng trong việc hướng dẫn cộng
đồng bảo vệ và phát triển tài nguyên RNM tại địa phương.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thông tư Quy định tiêu chí xác định và phân
loại rừng Số 34/2009/TT-BNNPTNT, 2009.
[2]. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tóm tắt chính sách Xây dựng khả năng phục hồi các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status