KINH TẾ BIỂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG - Pdf 34

KINH TẾ BIỂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Phạm Ngọc Trâm(*)
1. Đặt vấn đề
Đề tài phát triển kinh tế biển ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một
nội dung luôn mang tính thời sự. Vì đây là khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan
trọng về kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái của đất nước, lại là
địa bàn nhạy cảm, đòi hỏi cần tập trung đảm bảo quốc phòng, an ninh trước mắt và lâu
dài.
Ngay từ khi đổi mới, năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định tại Nghị
quyết Đại hội VI: “Ngư trường vùng biển Tây Nam nước ta là ngư trường trọng điểm, có
ý nghĩa lớn về kinh tế và quốc phòng, an ninh” (1). Từ chủ trương quan trọng ấy, các tỉnh
thành vùng biển ĐBSCL: Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Tiền Giang, Sóc
Trăng… đã đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng cụm công
nghiệp ven biển, cải thiện môi trường ven biển phục vụ phát triển kinh tế - xã hội mang
tính bền vững.
Mặc dù, nền kinh tế biển ĐBSCL có nhiều lợi thế quan trọng, nhưng việc khai
thác trong những năm vừa qua chỉ dừng lại ở mức khai thác tài nguyên thô, dựa vào trình
độ kỹ thuật, công nghệ thấp. Như một sự tiếp nối tư duy phát triển truyền thống, việc khai
thác kinh tế biển vẫn theo lối “con cò lặn lội bờ sông”, “đánh bắt ven bờ”, không dám
vươn ra biển khơi, không mang tư tưởng tìm kiếm và chinh phục đại dương.
Do đó, để nền kinh tế biển ĐBSCL phát triển trong những thập niên tới, cần có
những giải pháp và định hướng chiến lược phát triển bền vững.
2. Vùng biển đồng bằng sông Cửu Long - Vị thế và tài nguyên
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm trong tiểu vùng sông Mekong, ba mặt
tiếp giáp biển, qua địa bàn các tỉnh: Tiền Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bến
Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang. Đây là khu vực tiếp giáp với biển của các nước
Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia. Ngoài ra, còn nằm trong khu vực
có nhiều đường giao thông hàng hải quốc tế quan trọng, nối Nam Á với Đông Á, châu Úc
và các quần đảo trong Thái Bình Dương.
Trên vùng biển ĐBSCL với diện tích hơn 100.000 km 2 có hàng trăm hòn đảo lớn

là cơ sở để xác định đường biên giới quốc gia trên biển và vùng chồng lấn với các nước
láng giềng như Hòn Đốc (quần đảo Hải Tặc), phía bắc đảo Phú Quốc và đảo Thổ Chu có
vai trò phân định đường biên giới giữa Việt Nam và Campuchia. Quần đảo Thổ Chu cũng
góp phần xác định vùng chồng lấn trên thềm lục địa giữa Việt Nam với Thái Lan,
Malaysia, Indonesia. Quần đảo Thổ Chu có Hòn Nhạn chính là điểm A1 (9 0 15.0’ vĩ độ
Bắc, 103027.0’ kinh độ Đông) trong 11 điểm về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng
lãnh hải Việt Nam. Điểm A2, tại hòn Đá Lẻ ở cực Nam Hòn Khoai, tỉnh Cà Mau
(08022.8’ vĩ độ Bắc, 104052.4’ kinh độ Đông) .
Hệ thống đảo biển vùng ĐBSCL là một tài sản vô giá chứa đựng nhiều nguồn tài
nguyên để phát triển kinh tế biển, đồng thời tạo được vị thế về chính trị và quốc phòng rất
to lớn. Kinh tế biển là nét nổi bật trong nền kinh tế ĐBSCL từ xưa tới nay. Với thềm lục
địa rộng mênh mông bao quanh ba mặt, vùng biển ĐBSCL chứa đựng một lượng tài
nguyên biển vô cùng phong phú, gồm thủy hải sản, và các loại khoáng sản... ước tính lên
tới 1.400.000 tấn thủy sản, với khoảng 600 loài khác nhau. Trong đó, vùng biển Rạch Giá
– Hà Tiên có trữ lượng 470.000 tấn, đã nổi tiếng là những ngư trường lớn của cả nước.
Đây chính là môi trường thuận lợi cho sự xuất hiện các làng biển của cộng đồng cư dân
ven biển đánh bắt gần bờ có từ xa xưa, kiếm sống với nhiều ngành nghề biển khác nhau:
nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản, làm muối… Sản phẩm muối của các tỉnh thuộc khu vực
bán đảo Cà Mau có chất lượng cao, được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng. Chính hoạt
động sản xuất muối đã mang lại cho diêm dân một cuộc sống tương đối ổn định từ bao
đời nay.
Thềm lục địa nước ta nói chung và vùng biển ĐBSCL nói riêng chứa đựng nhiều
tiềm năng, nhất là dầu mỏ với trữ lượng lớn, dự báo dao động trong khoảng 200 - 500
triệu tấn dầu quy đổi(2). Đây là loại hình kinh tế có sức thu hút mạnh mẽ sự đầu tư của các
nước trên thế giới trong những năm gần đây.
3. Tình hình phát triển kinh tế biển ở ĐBSCL thời kỳ đổi mới
Tiềm năng tài nguyên biển và vùng ven biển của nước ta nói chung, ở ĐBSCL, nói
riêng, có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển của vùng, đất nước. Vấn đề
đặt ra là làm sao để đánh thức tiềm năng to lớn đó để kinh tế biển ĐBSCL đóng vai trò
2()

biển, đảo ĐBSCL, Đảng ta rất chú trọng, đã đề ra những chủ trương rất cụ thể: “Đẩy
mạnh thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam, để đến năm 1990 đạt sản
lượng dầu thô đáng kể”(6).
Trong 27 năm đổi mới (1986 - 2013), các văn kiện Đại hội của Đảng đều xác định:
“Vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh, quốc phòng, có nhiều
lợi thế phát triển và là cửa mở lớn của cả nước để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu
tư nước ngoài. Khai thác tối đa tiềm năng và các lợi thế của vùng biển, ven biển, kết hợp
với an ninh, quốc phòng, tạo thế và lực để phát triển mạnh kinh tế – xã hội, bảo vệ và làm
chủ vùng biển của Tổ quốc”(7). “Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch,
kế hoạch phát triển kinh tế biển. Đẩy mạnh nuôi, trồng, khai thác, chế biến hải sản; thăm
dò, khai thác và chế biến dầu khí; phát triển đóng tàu thuyền và vận tải biển; mở mang du
lịch; bảo vệ môi trường; tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển. Phát triển tổng hợp kinh
3()

Báo cáo Đại hội VI - http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang
Báo cáo Đại hội VI - http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang
5()
Báo cáo Đại hội VI - http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang
6()
Báo cáo Đại hội VI - http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang
7()
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội – 1996, tr. 211
4()

3


tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành
vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác. Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để
tiến ra biển khơi. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển” (8).

diện, thống nhất, đúng đắn và phù hợp với tình hình hiện nay, tạo niềm tin vững chắc, để
các tỉnh thành vùng biển ĐBSCL tiếp tục hành động chủ động và phát triển mạnh mẽ
kinh tế biển.
Trên cơ sở chủ trương về phát triển kinh tế biển của Trung ương, các tỉnh thành
8()

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2001, tr. 181
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2006, tr. 225
10()
Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2007, tr. 76
9()

4


vùng biển ĐBSCL đã chủ động xây dựng kế hoạch, trực tiếp triển khai chương trình hành
động cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, toàn dân và đã đạt được những kết quả
quan trọng. Kinh tế biển, ven biển của các tỉnh: Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, Bến
Tre… được quan tâm đầu tư, phát triển theo hướng khai thác có hiệu quả nguồn tài
nguyên biển kết hợp phát triển lâm nghiệp; đẩy mạnh công nghiệp chế biến, xuất khẩu
thuỷ sản gắn phát triển nuôi trồng với nâng cao hiệu quả khai thác, đánh bắt; tăng nhanh
các ngành dịch vụ du lịch; kết hợp phát triển kinh tế biển bền vững với đảm bảo an ninh
quốc phòng vùng biển; xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo thế đứng ổn định, vững chắc, sẵn
sàng đối phó với các tình huống phức tạp xảy ra trên biển; xây dựng hệ thống nhà ở,
tường, kè chống xói lở trên các đảo thuộc quần đảo; quy hoạch, triển khai xây dựng cụm
công nghiệp ven biển; công tác quản lý Nhà nước về biển và công tác Cải cách hành
chính phục vụ phát triển kinh tế cảng và du lịch được quan tâm đẩy mạnh; thiết lập các
dự án, công trình nâng cao chất lượng môi trường ven biển, cải thiện môi trường ven biển
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội mang tính bền vững.
Các tỉnh vùng biển ĐBSCL đều xác định phát triển kinh tế biển là mục tiêu trọng

Hà Tiên. Xây dựng trạm cấp nước Hà Tiên, Ba Hòn, Chùa Hang có công suất từ 200-500
m3/ngày, Tắc Cậu (Châu Thành) 1.000 m 3/ngày. Xây dựng hồ chứa và kinh dẫn nước tại
Hà Tiên và Phú Quốc. Tính đến đầu năm 2013, tỉnh đã hoàn thiện hệ thống cấp điện, cấp
nước cho các xã ven biển - công suất cấp nước từ 100 - 150 m 3/ngày. Hệ thống trường,
trạm của các xã ven biển và hải đảo trong tỉnh Kiên Giang được quan tâm đầu tư xây
dựng. Các tuyến đường giao thông nông thôn ở vùng ven biển và các đảo Phú Quốc, Hòn
Nghệ, Lại Sơn, Hòn Tre… được nâng cấp, bê tông hóa, tạo sự thông thoáng, thuận lợi
cho việc đi lại của nhân dân, phục vụ tốt việc phát triển kinh tế, thu hút khách du lịch.
Tỉnh đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đầu tư phát triển kinh tế biển, nhất là các dự
án phát triển giao thông, thủy lợi, cảng biển, khu trú bão, điện, nước sạch, nuôi trồng thủy
sản, chế biến thủy sản, khu du lịch, dịch vụ.
Hiện nay, Kiên Giang tích cực phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ và các bộ,
ngành Trung ương để hoàn thành việc xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù phát triển
đảo Phú Quốc. Đồng thời, tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng biển, ven biển,
hải đảo, nhất là đầu tư xây dựng Phú Quốc thành trung tâm du lịch sinh thái chất lượng
cao theo Quyết định 178-QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Nhìn chung, Kiên Giang đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong mục tiêu của chiến
lược phát triển bền vững kinh tế biển, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển nền
kinh tế biển ĐBSCL.
Cà Mau là tỉnh cuối trời của Tổ quốc và là tỉnh duy nhất của cả nước có ba mặt
Đông – Tây – Nam tiếp giáp biển với chiều dài 254 km, chiếm 34,5% chiều dài bờ biển
toàn vùng ĐBSCL, chiếm 7,8% bờ biển của cả nước. Vùng biển nơi cuối đất này là một
trong bốn ngư trường lớn nhất của nước ta, rộng trên 71..000 km 2, có tiềm năng, trữ
lượng lớn về dầu khí. Trên địa bàn tỉnh Cà Mau đã hình thành công trình trọng điểm quốc
gia - Trung tâm công nghiệp khí – điện - đạm. Cà Mau đang “tập trung đầu tư phát triển
mạnh về kinh tế biển gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường biển... Phát triển công nghiệp
chế biến thủy sản, nông, lâm sản theo hướng tăng tỷ lệ hàng tinh chế, phát triển công
nghiệp năng lượng trên cơ sở cụm công nghiệp khí – điện – đạm Cà Mau, đồng thời thu
hút phát triển một số ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao”(12).
Trong những năm qua, nhất là từ năm 2008 thực hiện Chiến lược Biển Việt Nam và

Khôi phục nâng cấp sân bay ở đảo Hòn Khoai và thị trấn Năm Căn phục vụ thăm dò khai
thác dầu khí, du lịch và các mục tiêu an ninh, quốc phòng.
Nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, từ năm 2008, Bạc Liêu tập trung xây dựng
cảng cá, bến cá và khu vực neo đậu tàu tránh bão ở các cửa sông lớn. Năm 2012, tỉnh đã
nâng cấp mở rộng cảng cá Gành Hào đạt quy mô cảng cá loại I trong hệ thống cảng biển
Việt Nam, với diện tích xây dựng đến 13 ha; quy mô công suất 1,5 tấn hàng hóa/năm,
tiếp nhận được tàu trọng tải từ 5.000 - 10.000 tấn. Các hạng mục công trình bao gồm: khu
bến tổng hợp thương mại; bến chuyên dùng cơ sở công nghiệp và dịch vụ (thuộc Khu
kinh tế Gành Hào); khu neo đậu tránh bão Gành Hào; cảng cá và khu neo đậu tránh bão
Nhà Mát; khu neo đậu tránh bão và bến cá Cái Cùng. Tổng kinh phí xây dựng các công
trình nêu trên khoảng 780 tỷ đồng. Dự kiến, các công trình này hoàn thành và đưa vào sử
dụng vào năm 2015.
Ngoài ra, tỉnh Bạc Liêu còn đẩy mạnh đầu tư các đội tàu đánh bắt xa bờ với trang
thiết bị hiện đại, đáp ứng được các yêu cầu khai thác thủy sản dài ngày trên biển, có hiệu
quả kinh tế cao và gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia biển đảo. Tỉnh cũng tập
trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn, thủy lợi, điện, thông tin liên
lạc… vùng ven biển phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Địa phương tiếp tục huy
động các nguồn lực, phát huy mọi tiềm năng và lợi thế vủa vùng biển và lãnh thổ ven
biển để xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học, công
nghệ. Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền
quốc gia, đưa tỉnh Bạc Liêu trở thành tỉnh giàu mạnh từ biển, bảo vệ tốt môi trường biển
và vùng ven biển.
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bạc Liêu đang nỗ lực phấn đấu đến năm 2015 hoàn thành
đưa vào sử dụng các công trình, dự án trọng điểm như: cảng biển Gành Hào, tuyến đường
Giá Rai – Gành Hào, Gành Hào – Hộ Phòng, Xóm Lung – Cái Cùng, Giồng Nhãn –
Gành Hào, Cầu Sập – Đê Biển Đông, Cầu Bạc Liêu 4 và đường nối ra đê biển; nâng cấp,
7


mở rộng đường Cao Văn Lầu, Bạch Đằng(13)...

khả năng khai thác là 472.700 tấn; có 33 loài tôm và hơn 2.000 loài cá, trong đó khoảng
130 loài có giá trị kinh tế cao, hoạt động thai khác hải sản diễn ra quanh năm.
Phát huy thế mạnh trong khai thác hải sản, các tỉnh ven biển ở ĐBSCL tăng cường
13()

Trung tâm thông tin dữ liệu biển và hải đảo Việt Nam - http: //vodic.vn
Trần Hoàn Kim (Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh) (2013) Trà Vinh phát triển kinh tế ven biển – Báo Nhân dân />15()
Đỗ Nam (2013) Sóc Trăng đầu tư phát triển kinh tế biển, Báo Nhân dân - />16()
Trữ lượng cá nổi trung bình của cả nước khoảng 3 triệu tấn và khả năng khai thác là 1,4 triệu tấn.
14()

8


đầu tư và tạo cơ chế thuận lợi để bà con ngư dân đóng mới tàu thuyền có công suất lớn,
mua sắm ngư - lưới cụ đánh bắt xa bờ. Hoạt động khai thác hải sản ở đây đã giải quyết
việc làm và thu nhập ổn định cho hàng chục ngàn lao động vùng biển, góp phần xóa đói
giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của ngư dân, phát triển bền vững, góp
phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế-xã hội của vùng. Riêng tỉnh Bạc Liêu có đội tàu
đánh bắt khai thác hải sản 1.155 chiếc, với tổng công suất hơn 126.500 CV, được trang bị
phương tiện, dụng cụ tương đối đầy đủ để đánh bắt xa bờ và di chuyển ngư trường khai
thác theo mùa vụ. Hoạt động khai thác hải sản ở Kiên Giang trong những năm gần đây
luôn phát triển mạnh. Tính đến tháng 6/2013, toàn tỉnh có 12.425 phương tiện (tăng 1,7
lần so năm 2007) trong đó tàu đánh bắt xa bờ 3.500 chiếc công suất bình quân 340,19
CV/chiếc.
Bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động khai thác hải sản ở đây cũng bộc lộ một số
bất cập như sử dụng xung điện, chất nổ, lưới mắt nhỏ hơn quy định để khai thác hải
sản… Trong đợt phối hợp kiểm tra liên tỉnh ven biển ĐBSCL năm 2009 của Thanh tra
Thủy sản và Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc các Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn thực hiện trên tổng số 900 phương tiện, đã phát hiện có 16 trường

bờ biển, trong đó có những bãi bồi nuôi nghêu kéo dài hàng chục cây số, như bãi nghêu
huyện Bình Đại, hoặc ven các cửa sông Cổ Chiên, Hàm Luông. Tiền Giang có khoảng
15.000 ha đất bãi bồi, có lợi thế rất lớn về nuôi nghêu, tập trung ở huyện biển Gò Công
Đông.
Hàng chục năm qua, nhân dân vùng ven biển Tiền Giang, Bến Tre đã sớm khai thác
các bãi bồi ven biển đưa vào nuôi nghêu, làm giàu cho bà con sống trên vùng đất nhiễm
mặn, có một thời cuộc sống hết sức khó khăn. Đây còn là vùng nguyên liệu quan trọng
phục vụ ngành chế biến thủy sản xuất khẩu của ĐBSCL. Chỉ riêng nguồn lợi từ chế biến
nghêu, mỗi năm bà con tại đây thu lợi vài trăm tỉ đồng.
Nhằm cụ thể hóa chủ trương nuôi trồng thủy hải sản bền vững, gần đây, các tỉnh
ven biển ĐBSCL ngày càng đa dạng hóa vật nuôi, khuếch trương mô hình nuôi luân vụ
tôm sú với cá kèo hoặc tôm càng xanh trên ao tôm sú. Mô hình này tỏ rõ tính ưu việt nhờ
giải quyết được ô nhiễm môi trường, khắc phục mầm bệnh đồng thời cho hiệu quả cao.
Đây là hướng phát triển bền vững trong nỗ lực xóa đói giảm nghèo và giúp nông dân làm
giàu nhanh chóng.
Ngoài ra, ở các eo, vịnh và đảo biển ĐBSCL nhờ môi trường và nguồn nước trong
sạch, khí hậu ôn hòa, nên người dân trên các đảo và vùng ven biển đang tập trung phát
triển mạnh nghề nuôi các loại cá lồng bè trên biển. Trong đó, loại cá mú sao là loại cá
“hảo hạng” nhất, mang lại giá trị kinh tế rất cao. Bà con ngư dân bắt cá mú sao và mú đen
(cá nhỏ) đưa vào lồng bè nuôi chỉ trong 10 - 12 tháng. Cá mú là một loại thực phẩm cao
cấp, một đặc sản có giá trị xuất khẩu cao và đang được phát triển nuôi rầm rộ trên vùng
biển ĐBSCL, nhất là ở vùng biển Kiên Giang.
Phần lớn các tỉnh ven biển ĐBSCL xác định phát triển du lịch biển đảo và du lịch
sinh thái ven biển là ngành kinh tế quan trọng. Trong đó, tập trung vào du lịch sinh thái
rừng ngập mặn, rừng tràm, các cồn cửa sông, bãi ven biển và du lịch trên các cụm đảo
gần bờ. Kết hợp khai thác tài nguyên rừng với phát triển nuôi thủy hải sản và phát triển
du lịch sinh thái.
Hiện nay, dải rừng ngập mặn vùng hệ thống các cửa sông Cửu Long và ven biển kế
cận, từ Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên, Cửa Cung Hầu,
Cửa Định An, Cửa Tranh Đề, Cửa Mỹ Thạnh… từ lâu đời vốn đã từng là “Lá chắn thần

lũ, thiên tai, biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Đầu tư hoàn chỉnh hệ thống giao thông
ra biên giới, hệ thống đồn trạm biên phòng và các khu vực phòng thủ, các khu dân cư và
hạ tầng kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ biên giới, hải đảo…”(17)
Trên các diễn đàn khoa học gần đây, kinh tế biển(18) được xác định có 9 lĩnh vực: (1)
Dầu khí, khoáng sản, năng lượng (2) Thuỷ, hải sản (3) Vận tải biển (4) Công trình biển
(5) Du lịch (6) Công nghiệp chế tạo (7) Dịch vụ biển (8) Nghiên cứu khoa học biển, giáo
dục – đào tạo về biển (9) Phòng thủ quốc phòng – an ninh. Với quan điểm Kinh tế biển
xanh phải gắn phát triển kinh tế biển với yêu cầu phát triển bền vững, đảm bảo môi
trường, ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Do đó để phát triển bền vững kinh
tế biển ĐBSCL đến năm 2020, trong thời gian tới, chúng ta cần tiến hành đồng bộ nhiều
giải pháp, trong đó cần tập trung vào các giải pháp sau:
Thứ nhất, thực hiện tốt chính sách liên kết
Để phát triển bền vững nền kinh tế biển ở ĐBSCL, trước hết phải thực hiện tốt
chính sách liên kết giữa các tỉnh, thành trong vùng và liên vùng trong chiến lược phát
triển chung của cả nước. Việc liên kết cần được tổ chức theo cơ chế, mô hình liên kết
hiệu quả, từ đầu tư các công trình trọng điểm vùng như cảng biển, khu kinh tế ven biển,
phát triển kinh tế biển, du lịch biển đảo đến kết nối các công trình đầu tư và phát triển
kinh tế biển của các tỉnh, thành, tránh đầu tư dàn trãi, lãng phí.
Thứ hai, phát triển kết cấu hạ tầng biển, phát triển mạnh giao thông vận tải biển để
đáp ứng nhu cầu xuất, nhập khẩu hàng hoá
17()

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2020, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
tại Quyết định số 939/QĐ-TTg ngày 19/7/2012.
18()
Diễn đàn kinh tế biển Việt Nam lần thứ 4 (2013) diễn ra tại Hà Tĩnh

11



Môi trường biển là mặt nước ven bờ, lãnh hải, vùng kinh tế đặc quyền - những vùng
biển Việt Nam có chủ quyền. Môi trường biển là một chức năng gồm cả công nghiệp và
địa lý. Do đó, phát triển kinh tế biển ở ĐBSCL phải gắn liền với bảo vệ môi trường sinh
thái biển đảo. Xây dựng, phát triển và bảo vệ nghiêm ngặt hệ thống rừng ngập mặn
phòng hộ ven biển - cửa sông Cửu Long, để hệ thống rừng này thực sự là lá chắn sinh
học của tiến trình phát triển bền vững toàn vùng ĐBSCL.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
19()

Kinh tế biển bao gồm 9 lĩnh vực: (1) Dầu khí, khoáng sản, năng lượng (2) Thuỷ, hải sản (3) Vận tải biển (4)
Công trình biển (5) Du lịch (6) Công nghiệp chế tạo (7) Dịch và biển (8) Nghiên cứu khoa học biển, giáo dục – đào
tạo về biển (9) Phòng thủ quốc phòng – an ninh
20()
Kết luận số 60-KL/TW ngày 16-4-2013 của Bộ Chính trị về kết quả sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội ghị
lần thứ tư BCH Trung ương Đảng khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

12


1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 21/NQTW, ngày 20/1/2003 về phương hướng, nhiệm vụ,
giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh - quốc phòng vùng ĐBSCL
thời kỳ 2001 - 2010.
2. Bộ Chính trị (2013) Kết luận số 60-KL/TW ngày 16-4-2013 của Bộ Chính trị về kết
quả sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội ghị lần thứ tư BCH Trung ương Đảng
khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo số 2320/BC-BKHVĐT ngày 06/4/2012 về tình hình
phát triển và Công tác điều phối phát triển các vùng kinh tế trong điểm giai đoạn
2012 – 2015.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1976) Báo cáo Đại hội VI http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,

kết cấu hạ tầng biển, phát triển mạnh giao thông vận tải biển để đáp ứng nhu cầu xuất,
nhập khẩu hàng hoá; tập trung phát triển du lịch đảo và du lịch ven biển; tăng cường
khai thác và nuôi trồng hải sản, đẩy mạnh phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp;
phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái biển đảo.

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status