Hình tượng người lính sau chiến tranh qua các tiểu thuyết của Chu Lai, Lê Lựu, Bảo Ninh - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

NGUYỄN NGỌC HƯNG
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH SAU CHIẾN TRANH QUA
CÁC TIỂU THUYẾT CỦA CHU LAI, LÊ LỰU, BẢO
NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32 Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN VĂN NAM

22
2. Quá khứ ám ảnh………………………………………………………
31
3. Những đổ vỡ, mất mát trong tình yêu và hạnh phúc gia đình…………
37
CHƢƠNG 2: NGƢỜI LÍNH VÀ NHỮNG PHẨM CHẤT TỐT ĐẸP…
43
1. Trân trọng quá khứ……………………………………………………
43
2. Băn khoăn, trăn trở về những thay đổi của con ngƣời và xã hội sau
chiến trang………………………………………………………………

47
3. Vƣợt lên để chiến thắng hoàn cảnh, tự đấu ttranh để hoàn thiện mình
53
CHƢƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƢỢNG……………
61
1. Nghệ thuật miêu tả………………………… ……………………….
62
1.1 Nghệ thuật tổ chức điểm nhìn……………………………………
62
1.2 Miêu tả tâm lý nhân vật………………………………………….
65
2. Không gian và thời gian nghệ thuật…………………………………
69
2.1 Không gian nghệ thuật………… ………………………………
69
2.1.1 Không gian đƣợc định vị từ điểm đến diện……………………
70
2.1.2 Không gian đƣợc định vị theo trục thời gian…………………

từ lâu đã được xem như là đề tài có tính truyền thống. Ra đời, phát triển trong
môi trường, bối cảnh lịch sử dân tộc suốt một nghìn năm giặc phương Bắc
xâm lăng, cả trăm năm dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và đế quốc
Mĩ, văn học Việt Nam là tấm gương phản ánh trung thành và chân thực hiện
thực cuộc sống của đất nước và con người trong những cuộc trường chinh
dựng nước và giữ nước. Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam cũng từng
bước trưởng thành qua mỗi chặng đường phát triển của văn học dân tộc. Ở
mỗi chặng đường, đề tài chiến tranh lại được tiếp cận và phản ánh từ những
góc độ khác nhau, theo những cảm hứng khác nhau. Đặc biệt, sau khi hoà
bình và thống nhất đất nước (từ tháng 4 năm 1975), văn học vẫn không thôi
viết về chiến tranh và càng hăng hái trong nhiệm vụ phản ánh đời sống thời
hậu chiến. Lúc này, người viết đã có những “độ lùi” cần thiết để nhìn nhận về
cuộc chiến, để thâm nhập sâu hơn vào đời sống tinh thần của người lính, vì
vậy mà chiến tranh đã trở thành “siêu đề tài, người lính trở thành siêu nhân
vật, càng khám phá càng thấy những độ rung không mòn nhẵn”[57;18].
Thực chất, văn học “hậu chiến” là một khái niệm ước lệ chỉ một giai
đoạn văn học ngay sau chiến tranh mà cảm hứng chính của nó vẫn là suy ngẫm
về chiến tranh trong hoàn cảnh mới. Văn học của những con người vừa bước ra
khỏi, còn bị chi phối nặng nề bởi quán tính cuộc chiến. Từ rất sớm, trong bài
Viết về chiến tranh (1978), Nguyễn Minh Châu đã đặt ra câu hỏi cho hướng đi
của tiểu thuyết chiến tranh sau thời chiến. Khi “tất cả những vấn đề quy luật
LuËn v¨n Th¹c sÜ NguyÔn Ngäc
H-ng
2
của chiến tranh đã phát triển trọn vẹn, những số phận và tính cách nhân vật
cũng đã phơi bày trọn vẹn”, khi trong hàng chục cuốn hồi kí của các tướng lĩnh
“có rất nhiều sự kiện, nhiều bối cảnh lịch sử được kể lại một cách hết sức cụ

khụng ch bng nhón quan lch s - dõn tc m cũn nh nhng s phn cỏ
nhõn, trong mi tng quan nhiu chiu thi gian, nhiu phm vi sng khỏc
nhau. Xuõn Thiu, mt nh vn tng khoỏc ỏo lớnh tri qua hai cuc chin
tranh ó rỳt ra nhng suy ngm thm thớa: m vang chin tranh khụng ch l
ni nh v quỏ kh cha xa, m ch yu s tỏc ng ca chin tranh hn sõu
vo i sng v s phn tng con ngi cho mói n bõy gi, v cha bit
bao gi mi cú th vớ bng nhng con súng ln tn trờn mt h sau cn
bóo [107;25].
Vn ng i mi ca vn hc Vit Nam sau 1975 chng ng i
mi mnh m k t sau 1986 l s lờn ngụi ca vn xuụi vi t duy tiu
thuyt hin i. S i thoi ca vn hc i mi vi vn hc s thi trong thi
kỡ i mi c bc l thnh khuynh hng phn s thi, t ý thc t ci
trúi ho nhp vi dũng chy chung ca vn hc nhõn loi. Cỏi nhỡn mi
v chin tranh, v ngi lớnh trc ht xut phỏt t bi cnh cỏch tõn sụi ni
y. T õy, nhng cõu chuyn ca i sng thng ngy trn vo vn hc, to
nờn nhiu li r, khụng ch l nhng cỏi thuc v chin tranh.
Chỳng tụi c bit n tng vi cỏc sỏng tỏc ca Chu Lai, Lờ Lu, Bo
Ninh. C ba tỏc gi u l nh vn quõn i v ú cng l ba ụng ln ca
vn hc Vit Nam sau 1975. Bờn cnh vic khai thỏc nhng ti mi ca
cuc sng hũa bỡnh, cỏc nh vn vn trung thnh vi ti ngi lớnh. Cỏc
sỏng tỏc cho ta thy cỏi nhỡn au ỏu gn nh xuyờn sut, to cho ngi c
rt nhiu ỏm nh v hỡnh tng ngi lớnh sau cuc chin. ng thi ta cng
thy c s nhy cm ca cỏc nh vn trc nhng bin ng ca thi i
cho ra i nhng tỏc phm th hin s bỏm sỏt tng bc i ca i sng,
úng gúp nhiu ting núi ln cho vn hc.
Lý do chn ti ny l chỳng tụi mun thụng qua cỏc tiu thuyt
vit v chin tranh v ngi lớnh ca ba nh vn trờn mt ln na cú cỏi
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Ngọc
H-ng


LuËn v¨n Th¹c sÜ NguyÔn Ngäc
H-ng
5
đại diện cho sự đổi mới văn học” (trả lời phỏng vấn trong Lễ tưởng niệm và
hội thảo về Nguyễn Minh Châu, Văn nghệ Quân đội số 3/1994). Nhà văn
Nguyễn Quang Thân lại cho rằng “chưa bao giờ văn xuôi phát triển mạnh như
bây giờ” và “chưa bao giờ nhà văn được thành thật như bây giờ” [114;86].
Bàn về văn học từ 1975 đến 1990, GS. Hoàng Ngọc Hiến nhận xét: “Điều đặc
biệt quan trọng là trong mười lăm năm qua, kinh nghiệm văn học của người
sáng tác cũng như công chúng văn học là một sự kinh nghiệm bừng tỉnh, rõ
ràng là có một sự thay đổi trong thị hiếu và nhu cầu văn học ”[112;28]. Tính
chất bước ngoặt của văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng sau 1975 được
đánh giá gắn với những vấn đề cụ thể hơn trong các bài viết của Nguyên
Ngọc, Bích Thu, Vũ Tuấn Anh, Mai Hương Nhà văn Nguyên Ngọc cho
rằng văn học đã cố gắng rút khỏi đề tài số phận chung của cả cộng đồng dân
tộc, đi đến hiện thực ngổn ngang, khai thác sâu hơn vào số phận của từng cá
nhân trong đó có người lính thời hậu chiến và vì thế mà phạm vi quan tâm của
văn học ngày càng rộng lớn, phong phú.
Nguyễn Minh Châu, người đã có được những thành công nổi bật ở thể
loại tiểu thuyết sử thi trước 1975 cũng đồng thời là người nhạy bén với xu thế
đổi mới và mạnh bạo với những thể nghiệm văn xuôi hiện đại. Dưới góc độ lý
luận phê bình, ông cũng là một trong những người có công đầu trong thời
điểm chuyển mình có tính chất bước ngoặt khi đưa ra vấn đề nóng bỏng, đầy
tính thời sự của nhu cầu đổi mới. Trong bài viết Viết về chiến tranh [15;7],
sau khi đưa ra những nhận định về đặc điểm cơ bản của văn học 1945 – 1975
trong việc khai thác hiện thực chiến tranh và hình tượng người lính, chỉ ra sự
hạn chế của các tác phẩm viết về chiến tranh giai đoạn này là “một chiều, theo

thương, mất mát, hi sinh trên chiến trường, ít quan tâm đến số phận con người
mà tập trung quan tâm đến số phận đất nước. Sau chiến tranh, văn học viết về
đề tài này mới có “xu hướng viết về sự thật của đời sống, viết về những khó
khăn, ác liệt, những sai lầm, vấp ngã, thiếu sót của người lính trong chiến
tranh cũng như trước sự cám dỗ của cuộc sống đời thường”; hiện thực chiến
LuËn v¨n Th¹c sÜ NguyÔn Ngäc
H-ng
7
tranh đã đựơc nhìn nhận qua thế giới nội tâm, những số phận cá nhân con
người.
Ở một tầng bậc khác, nhà văn Hồ Phương xem quá trình vận động của
văn học về chiến tranh sau 1975 như là “sự trở về của nguyên lí: Văn học là
nhân học. Theo ông, văn học sau 1975 chủ yếu là khám phá và biểu hiện tâm
hồn, tính cách, sức sống của con người qua những số phận rất khác nhau
trong muôn vàn sự kiện xảy ra trong cuộc sống”; và “Để đi sâu vào số phận
con người, không ít tác giả đã đi sâu viết về các bi kịch cá nhân nằm trong bi
kịch chung của dân tộc trong cuộc chiến. Qua những bi kịch ấy, tính cách và
bản ngã của con người đã được bộc lộ rõ”, “càng đi sâu vào con người, văn
học ta càng gần tới bản chất cuộc sống, do đó tính nhân văn cũng cao hơn”.
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cũng đã tổng kết trong Mấy ghi nhận về sự
đổi mới của tư duy nghệ thuật và hình tượng con người trong văn học ta
thập kỉ qua rằng: “Nhìn chung có thể khẳng định được là nền văn học nước ta
sau năm 1975 đánh dấu sự biến đổi đáng kể của tư duy văn học và đang ở vào
thời kì mới, thời kì hứa hẹn một sự khám phá và tái hiện hình tượng con
người nhiều mặt trong tất cả chiều sâu phong phú của nó Một trong những
tên tuổi không thể không kể đến đó là Bảo Ninh ”. Quả thực ở giai đoạn sau
năm 1975, sự xuất hiện của nhà văn Bảo Ninh đã như một luồng gió mới

Lại Nguyên Ân… bình luận về các sáng tác của ông dưới mọi góc độ từ ngôn
ngữ, hình ảnh, nhân vật đến kết cấu cốt truyện, giá trị nội dung, tư tưởng. Với
những tác phẩm khác đặc biệt là các công trình khóa luận tốt nghiệp của sinh
viên và luận văn thạc sĩ học viên cao học thì các tác phẩm của Bảo Ninh lại
được tiếp cận một cách sâu sắc, tỉ mỉ hơn từ những điểm nhìn khác nhau về
nghệ thuật lựa chọn, xây dựng tính cách nhân vật, cách thức sử dụng ngôn
ngữ, biểu tượng, phương pháp điển hình hóa đối tượng, nhân vật người kể
chuyện Tuy nhiên có một khía cạnh mà tất cả những công trình, tác phẩm
nghiên cứu về Bảo Ninh chưa đề cập một cách tập trung, có chiều sâu về hình
tượng người lính sau chiến tranh mà chúng tôi sẽ khai thác ở trong luận văn
này.
LuËn v¨n Th¹c sÜ NguyÔn Ngäc
H-ng
9
Chu Lai và Lê Lựu là hai nhà văn cùng thế hệ và đều thành công nhờ
những tác phẩm tiểu thuyết viết về hình tượng người lính trong và sau chiến
tranh. Có thể nói rằng các tác phẩm của hai tác giả này đã giúp bạn đọc khám
phá được rất nhiều về cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc với những khía
cạnh, góc nhìn khá toàn diện và đầy đủ. Bằng một loạt các sáng tác của mình
từ sau ngày đất nước giải phóng, tên tuổi của hai nhà văn Chu Lai và Lê Lựu
đã được khẳng định và có vị trí quan trọng trên văn đàn. Qua tìm hiểu, chúng
tôi thấy rằng, đa phần những bài nghiên cứu, những ý kiến đánh giá tác phẩm
của Chu Lai và Lê Lựu là những bài đăng trên các báo, tạp chí cũng như các
chương trình phát thanh, truyền hình mà chưa có một công trình quy mô hoặc
một cuốn sách chuyên khảo riêng biệt. Những bài báo phê bình này đều có
dung lượng ngắn, đa phần là những bài phỏng vấn trực tiếp nhà văn về vấn đề
nhân vật, hoàn cảnh ra đời cũng như thông điệp mà tác giả gửi gắm qua tác

tích, tổng hợp cũng được kết hợp sử dụng.
5. Mục đích, đóng góp của luận văn.
- Có được những hình dung cơ bản và toàn diện nhất về đặc điểm hình
tượng người lính qua ba tác phẩm.
- Thấy được những nét cơ bản trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác
giả.
- Luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo trong thực tiễn nghiên cứu
về văn xuôi đương đại Việt Nam nói chung và văn học Việt Nam sau 1975
nói riêng.
6. Kết cấu của luận văn:
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
triển khai nội dung thành 3 chương:
Chương 1: Người lính và bi kịch ngày trở về.
Chương 2: Người lính với những phẩm chất tốt đẹp.
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng hình tượng.
LuËn v¨n Th¹c sÜ NguyÔn Ngäc
H-ng
11

lớnh ó c th hin vi nhng tiờu chớ khỏc trc. im ny khụng nm
ngoi nhng vn ng i mi trong quan nim ngh thut v cuc sng v
con ngi ca vn hc Vit Nam thi kỡ i mi. Mt iu hin nhiờn l, khi
tớnh chõn tht ca hỡnh tng khụng cũn ch ly vic quy chiu lch s lm
im ta thỡ ni dung phn ỏnh cng s xut hin nhng vn mi. Tớnh lch
s ca cỏc tiu thuyt núi chung v ca nhng tiu thuyt vit v chin tranh
v ngi lớnh núi riờng l lch s ca cỏi hin ti, l nhng vn nhõn sinh
c soi chiu qua nhiu chiu tng quan gia quỏ kh v hin ti trong
khỏt vng ngh thut v cỏi hin tn v cỏi s din ra.
Bo Ninh tờn tht l Hong u Phng, sinh nm 1952 ti huyn Din
Chõu, tnh Ngh An, quờ xó Bo Ninh, huyn Qung Ninh, tnh Qung
Bỡnh. ễng vo b i nm 1969. Thi chin tranh, Bo Ninh chin u mt
trn B3 Tõy Nguyờn, ti tiu on 5, trung on 24, s on 10. Nm 1975,
ụng gii ng. T 1976 - 1981 hc i hc H Ni, sau ú lm vic Vin
Khoa hc Vit Nam. T 1984 - 1986 hc khoỏ 2 Trng vit vn Nguyn Du.
Lm vic ti bỏo Vn ngh Tr. L hi viờn Hi Nh vn Vit Nam t 1997.
LuËn v¨n Th¹c sÜ NguyÔn Ngäc
H-ng
13
Tên tuổi của Bảo Ninh đã được biết đến qua các tác phẩm: Bí ẩn của làn
nước Bội phản, Cái búng, Hà Nội lúc không giờ, Khắc dấu mạn thuyền,
Mắc cạn, Mây trắng còn bay,Truyện ngắn,Nỗi Buồn Chiến Tranh, Rửa tay
gác kiếm, Thách đấu Thời của xe Máy, Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng,
Vô cùng xưa cũ…trong đó đặc biệt phải kể đến là tiểu thuyết Nỗi buồn chiến
tranh.
Không thực sự tạo nên những tranh luận “dữ dội” và dai dẳng, nhưng
sự xuất hiện của Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh (lần in đầu năm 1987 có

công như thế. Sự hời hợt, cầm chừng, giả tạo, không thể có văn chương đích
thực. Bảo Ninh đã đóng góp trước hết một quan niệm về nhân cách, bản lĩnh
của người cầm bút và bản chất của hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Viết về
chiến tranh là viết về con người, không thể để các sự kiện “đè bẹp” con
người. Hiện thực chiến tranh không phải là mục đích tái hiện mà chỉ là đường
viền làm nổi rõ số phận con người. Nhìn chiến tranh từ góc độ số phận con
người và thể hiện chiến tranh qua tâm trạng của con người, Bảo Ninh đã đi
đến đáy cùng của hiện thực chiến tranh. Chiến tranh không chỉ là bom đạn,
chết chóc, nghiệt ngã, tan nát mà đáng buồn hơn chiến tranh còn hủy diệt
nhân tính, nhân tình. Bởi thế, khi chiến tranh kết thúc “Chính nghĩa đã thắng,
lòng nhân đã thắng nhưng cái ác, sự chết chóc và bạo lực phi nhân cũng đã
thắng”. Hòa bình đến, những người sống sót trở về luôn cảm nhận mình như
“bị mắc kẹt giữa cuộc đời”, càng ngày càng thấm thía hơn nỗi buồn chiến
tranh, “nỗi buồn được sống sót”. Những lời cảnh tỉnh “hãy coi chừng mà xem
lại nhân tính”, “những tổn thất, những mất mát có thể bù đắp, các vết thương
sẽ lành, đau khổ sẽ hóa thạch nhưng nỗi buồn về cuộc chiến tranh thì càng
ngày càng thấm thía hơn, sẽ không bao giờ nguôi”… luôn là những thông
điệp nghệ thuật đầy ám ảnh, đậm đặc trên từng trang Nỗi buồn chiến tranh.
Bảo Ninh đã mang đến cho văn học “nỗi buồn” với những giá trị nhân văn
sâu sắc - một trong những điều “cấm kỵ” của văn chương trước đó - và mở ra
một ngả rẽ cho văn học viết về chiến tranh. Quả là sau Nỗi buồn chiến tranh,
người ta sẽ không thể viết về chiến tranh như trước được nữa Cùng với
LuËn v¨n Th¹c sÜ NguyÔn Ngäc
H-ng
15
những đổi mới trong cảm hứng nhân văn, Bảo Ninh cũng có những đóng góp
quan trọng vào tư duy thể loại tiểu thuyết. Quan niệm mới về hiện thực, về

16
bng, n my d vóng, Vũng trũn bi bc, Cuc i di lm nhng tỏc
phm v ngi lớnh to nờn sc hỳt i vi ngi c bng chớnh ti nng,
tõm huyt v cỏ tớnh ca mỡnh. Vi Chu Lai, vit v ngi lớnh ó tr thnh
ni cõu thỳc t nhiờn. Ngay nhng thi khc m ting ng ca d dy ln
ỏt ting gi ca vn chng, anh vn ghỡ vo bn m vit. ú l quóng thi
gian vt vó, ngy no cng t chin u vi mỡnh. Nhng ngy thỏng vt vó
y ó giỳp anh cú c nhng tỏc phm mang y cht hiờn thc. Hin thc
trong nhng tiu thuyt ca Chu Lai thng c y n tn cựng ca s
trn tri v tn khc, bờn cnh nhng trang vit v nhng mi tỡnh ngi lớnh
lóng mn nh nhng bi th. Khụng ch th, Chu Lai cng gt hỏi c
nhng thnh cụng nht nh khi th hin cỏi nhỡn sc so ca mỡnh v cuc
sng hụm nay. Anh cho rng: Cm giỏc cụ n cng nhiu, sc suy t cng
mnh. Khi chp nhn mt s cụ n hu hiu, ngt ngo, nhng con ch vit
ra s nh nhng git sỏng neo tõm hn vo cuc i. Tui tr ca Chu Lai
m trong khụng khớ ho hựng ca cuc khỏng chin chng M. Chu Lai th
sinh gy gũ, gia nhp quõn i, sau ú tr thnh mt chin s c cụng.
Nhng cnh tng ph n b ch git hi, hỡnh nh khuụn mt, bp chõn
nhng cụ gỏi giao liờn xinh p c xanh dn theo mu lỏ rng hn sõu trong
tõm thc anh. Chu Lai núi: Chin tranh khc lit ó lm tan loóng mi th
cm xỳc, xoỏ b ranh gii thi gian, khụng gian, cỏi cũn li duy nht l bn
nng t v. Tr v t chin trng, cm giỏc u tiờn l s ht hng, vỡ
nhng nm tui tr dng nh b ỏnh tt li sau lng Anh ó tng tõm
s: Vn hc v ngi lớnh v chin tranh cỏch mng l mt dũng chy bn
b, thy chung, cú lỳc n i, cú lỳc tri lờn, cú lỳc gp thỏc ghnh thỡ tung bt
nhng ri nú vn tip tc lao v phớa trc nh mt cm hng vnh cu ca
dõn tc. Bi lch s Vit Nam l lch s trn mc, con ngi Vit Nam dự
khụng mun cng l con ngi trn mc nờn du vt chin tranh vn in hn
LuËn v¨n Th¹c sÜ NguyÔn Ngäc
H-ng

giải nhì (không có giải nhất) cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ 1967 - 1968,
LuËn v¨n Th¹c sÜ NguyÔn Ngäc
H-ng
18
Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1986) với tiểu thuyết Thời xa vắng.
Chính Thời xa vắng đã làm nên tên tuổi của Lê Lựu nhưng có lẽ ít người biết
được rằng nhân vật chính trong tiểu thuyết ấy, Giang Minh Sài lại là hình mẫu
của cuộc đời tác giả.
Sinh ra ở một làng quê thuộc đồng bằng Bắc Bộ quanh năm ngụp lặn
trong nghèo đói (mà cái đói, cái nghèo thường làm cho con người ta trở nên
mặc cảm, tự ty), năm lên 10 tuổi, cậu bé ấy được gia đình lấy cho một cô vợ,
cốt yếu là để có thêm người làm. Đó là một cô gái khỏe mạnh ở làng bên, lớn
hơn cậu hàng chục tuổi. Đến bữa cơm, nếu cô vợ ngồi đầu nồi là cậu ngoảnh
mặt đi, kiên quyết không đưa bát cho vợ xới cơm. Cậu cũng kiên quyết không
ngủ chung giường với cô ta một lần nào. Rồi cậu tình nguyện xin đi bộ đội,
với suy nghĩ làm sao để không phải sống với vợ nữa. Nhưng càng cố giãy
giụa thì lại càng bị trói chặt, càng cố vùng vẫy để đến với người mình yêu thì
tình yêu lại càng tuột khỏi tầm tay. Đơn vị đã thuyết phục cậu phải “yêu”
chính người vợ mình thì mới kết nạp Đảng. Nhưng dù hai người cố “gá”
đến mấy, cuối cùng họ cũng phải đi đến quyết định chấm dứt những ngày
tháng dài dằng dặc sống trong những ràng buộc, định kiến. Hòa bình, chàng
lính ấy về công tác tại thành phố, lấy một cô vợ thành phố. Nhưng trong cuộc
sống mới, anh vẫn luôn cảm thấy bơ vơ, lạc lõng giữa phố phường Đó
không chỉ là hành trình của nhân vật Giang Minh Sài trong tiểu thuyết Thời
xa vắng mà còn là “hành trình” của nhà văn Lê Lựu trên con đường từ làng
quê ra thành phố. Thời xa vắng chính là những dòng tự sự gan ruột, những
con chữ được chắt ra từ máu thịt, từ nước mắt và nụ cười hiền đến ngơ ngẩn

sống ấy được mọi người chấp nhận. Nhưng sau 30 năm chiến tranh, cuộc
sống quay trở lại nhịp điệu bình thường với những đòi hỏi, khát vọng riêng tư.
Trong số những người mà sự chuyển biến không kịp với yêu cầu thực tế này,
Giang Minh Sài là một nhân vật tiêu biểu. Nhiều người kể rằng, nhà văn Lê
Lựu thuộc từng trang tiểu thuyết mà ông viết ra. Điều đó cũng chứng tỏ rằng,
ông có sự gắn bó mật thiết với những trang viết của mình, bởi trong đó rất có
LuËn v¨n Th¹c sÜ NguyÔn Ngäc
H-ng
20
nhiều trang ông đã “sống”, đã bộc bạch lòng mình với độc giả, đã dũng cảm
đối diện với lòng mình. CHƢƠNG 1
NGƢỜI LÍNH VÀ BI KỊCH NGÀY TRỞ VỀ
Chiến trường im tiếng súng, trở về với cuộc sống đời thường, với cái
hàng ngày, người lính đã gặp không ít khó khăn, thách thức, hiểm hoạ và họ
cũng đã từng thất bại trên tất cả các phương diện của đời sống. Một sắc thái
mới xuất hiện trong tuyến hình tượng người lính suốt 30 năm văn học kháng
chiến vốn luôn là anh hùng, là chói lọi màu sắc cao cả: sắc thái bi kịch. Đó
trước hết là màu sắc có thật ở tuyến nhân vật người lính thời hậu chiến mà
nếu trung thành với đời sống khách quan, văn học không thể không nhận thấy
và mô tả. Đó cũng là kết quả của một sự từ chối cách nhìn, cách hiểu và phản
ánh cuộc sống đơn giản, một chiều đến lúc này đã trở thành căn nguyên của

thành quả to lớn: giải phóng hoàn toàn miền Nam, bảo vệ vững chắc chế độ
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, thống nhất đất nước. Đất nước hoà bình, cả
nước tập trung khắc phục những hậu quả nặng nề do cuộc chiến tranh để lại
và tiếp tục phải đương đầu với những thử thách mới. Tất cả những vấn đề đó
đều được ánh xạ rất rõ nét trong các tác phẩm văn học. Chính bản thân cuộc
sống mới sau ngày hòa bình với bộn bề những vấn đề bức xúc đã có một sự
chi phối, hấp dẫn đối với văn học. Bên cạnh mảng nội dung theo cảm hứng
của văn học kháng chiến, trong các tác phẩm văn học được sáng tác ở gai
đoạn sau năm 1975 đã có những nét mới trên phương diện nội dung phản ánh.
LuËn v¨n Th¹c sÜ NguyÔn Ngäc
H-ng
22
Các tác phẩm: Miền cháy - 1977 (Nguyễn Minh Châu), Kí sự miền đất lửa -
1978 (Nguyễn Sinh và Vũ Kì Lân ), Năm 1975 họ đã sống như thế - 1978
(Nguyễn Trí Huân), Đất trắng - 1979 (Nguyễn Trọng Oánh), Họ cùng thời
với những ai - 1981 (Thái Bá Lợi), Những người đi từ trong rừng ra - 1982
(Nguyễn Minh Châu) phản ánh những mất mát trong sự khốc liệt của chiến
tranh, đồng thời bước đầu đề cập đến những vấn đề tiêu cực nảy sinh trong
nội bộ cách mạng. Qua các tác phẩm này, bức tranh xã hội hậu chiến đã từng
bước được khắc hoạ ở những phương diện của văn học thời bình. Chất hiện
thực đời thường theo khuynh hướng thế sự - đời tư đến giai đoạn này được
các nhà văn khai thác nhiều hơn. Xuất phát từ một quan điểm hiện thực mới,
các nhà văn đã phát huy thế mạnh của thể loại này trong việc mở rộng diện
phản ánh, áp sát mảng hiện thực vô cùng phong phú của cuộc sống để cất lên
tiếng nói đầy tinh thần nhân văn. Đằng sau chất trữ tình - sử thi mang tính
truyền thống của văn học kháng chiến là dấu ấn của những suy tư, trăn trở,
những dằn vặt và xung đột nội tâm của nhiều con người, nhiều nhân vật mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status