ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ VÂN HẠNH
HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH
NIÊN
TRONG ĐIỀU KIỆN CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC
CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 62 31 30 01 LUẬN ÁN TIẾN SỸ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS ĐẶNG CẢNH KHANH HÀ NỘI - 2008
MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu và những đóng góp mới của luận án 3
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 11
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 12
Giả thuyết nghiên cứu 13
Cách tiếp cận đề tài và phƣơng pháp nghiên cứu 13
Kết cấu luận án 17
Khung lý thuyết 18
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 19
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 19
1.1. Cơ sở lý luận 19
1.1.1 Hệ khái niệm 19
1.1.1.1. Khái niệm thanh niên 19
1.1.1.2. Khái niệm đào tạo nghề 21
1.1.1.3 Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá 24
1.1.2. Các hƣớng tiếp cận lý thuyết 25
1.1.2.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng 25
1.1.2.2 Lý thuyết xã hội hoá 30
3.1.6 Chất lƣợng, hiệu quả đào tạo nghề 140
3.1.7 Hệ thống văn bằng chứng chỉ của hệ thống đào tạo nghề 149
3.1.8 Hoạt động quản lý nhà nƣớc đối với đào tạo nghề 156
3.2 Một số dự báo về sự phát triển của hoạt động đào tạo nghề cho thanh
niên ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay 164
3.3 Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động đào tạo nghề
cho thanh niên 169
PHẦN KẾT LUẬN 179
Kết luận 179
Khuyến nghị 181
Danh mục các công trình khoa học đã công bố 186
Tài liệu tham khảo 187
Phụ lục
Danh sách phỏng vấn sâu
Biên bản phỏng vấn sâu
Bảng hỏi
Danh sách hội đồng chấm luận án cấp nhà nƣớc
Quyết nghị của hội đồng chấm luận án cấp nhà nƣớc
Nhận xét của các phản biện
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CĐ-ĐH : Cao đẳng, đại học
CĐSPKT : Cao đẳng sƣ phạm kỹ thuật
CNH-HĐH : Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
CNKT : Công nhân kỹ thuật
CNLN : Công nhân lành nghề
CTQG : Chính trị quốc gia
ĐH : Đại học
ĐH SPKT : Đại học Sƣ phạm kỹ thuật
ĐTN : Đào tạo nghề
1.16 Bảng 3.3: Trung tâm dạy nghề phân theo vùng miền
1.17 Bảng 3.4: Quy mô tuyển sinh các trƣờng nghề 1998 – 2004
1.18 Bảng 3.5: Nghiệp vụ sƣ phạm của giáo viên dạy nghề
1.19 Bảng 3.6: Trình độ tay nghề của giáo viên dạy thực hành tại các trƣờng nghề
1.20 Bảng 3.7: Số lƣợng và tuổi đời giảng viên tại 3 trƣờng CĐSPKT
1.21 Bảng 3.8: Trình độ chuyên môn kỹ thuật và trình độ tay nghề của giảng viên
tại 3 trƣờng CĐSPKT
1.22 Bảng 3.9: Đánh giá điểm thi lý thuyết của học sinh trƣờng nghề
1.23 Bảng 3.10: Đánh giá điểm thi thực hành của học sinh trƣờng nghề
1.24 Bảng 3.11: Số học sinh học nghề lƣu ban, bỏ học
1.25 Bảng 3.12: Kết quả thi tốt nghiệp của học sinh học nghề
1.26 Bảng 3.13: Cán bộ quản lý tại các trƣờng nghề
1.27 Bảng 3.14: Cán bộ quản lý tại các trung tâm dạy nghề
2. Danh mục biểu
Biểu 1.1: Cơ cấu hệ thống đào tạo nghề Australia
Biểu 2.1: Thanh thiếu niên học nghề phân theo giới tính, nhóm tuổi và thành thị –
nông thôn
Biểu 2.2: Đánh giá của học sinh THPT về nhận định “Đại học là con đƣờng duy
nhất để thành công”
Biểu 3.1: Mức đầu tƣ của nhà nƣớc cho các dự án đào tạo nghề
Biểu 3.2: Trình độ học vấn của giáo viên dạy nghề
Biểu 3.3: Tỷ lệ giáo viên dạy nghề có trình độ tin học
Biểu 3.4: Tỷ lệ giáo viên dạy nghề có trình độ ngoại ngữ
Biểu 3.5: Tỷ lệ giáo viên dạy nghề đạt chuẩn
2.11.Biểu 3.6: Khả năng lƣu giữ thông tin qua các phƣơng pháp học tập
3. Danh mục hộp
Hộp 3.1: So sánh hai quan điểm giáo dục
Hộp 3.2: Kinh nghiệm quốc tế về hệ thống đào tạo nghề
Hộp 3.3: Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực đào tạo nghề
quan tâm: đào tạo chƣa gắn với chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội
và nhu cầu thực tế của thị trƣờng lao động, dẫn đến tình trạng mất cân
đối trong cơ cấu ngành nghề, đào tạo không có địa chỉ rõ ràng, ngƣời
đƣợc đào tạo không kiếm đƣợc việc làm khi tốt nghiệp; nội dung và
phƣơng thức đào tạo còn chƣa thống nhất, đồng bộ; công tác quản lý
còn lỏng lẻo, thiếu những văn bản, những quy định cần thiết cho hoạt
động quản lý, chất lƣợng đào tạo chƣa cao Tất cả những điều đó đã
tạo nên một bức tranh hỗn độn về thực trạng những hoạt động ĐTN
cho thanh niên hiện nay. Phát biểu tại Hội nghị Đào tạo nghề, việc
làm và xuất khẩu lao động toàn quốc năm 2007 (10-11/5/2007), Thủ
tƣớng Chính phủ nhận xét:
Nhận thức về công tác dạy nghề, giải quyết việc làm ở các
ngành, các cấp, các địa phƣơng và trong xã hội còn bất cập và chƣa
đƣợc quan tâm đúng mức, đầu tƣ còn hạn chế, tuyên truyền về công
tác dạy nghề, học nghề còn yếu. Hệ thống dạy nghề còn mất cân đối,
nhiều nơi phát triển chậm, nhất là dạy nghề dài hạn; cơ cấu ngành
nghề đào tạo chƣa sát với nhu cầu thị trƣờng lao động, thiếu lao động
kỹ thuật cao, chất lƣợng dạy nghề nhìn chung còn thấp chƣa đáp ứng
yêu cầu phát triển ngày càng cao của sự nghiệp CNH-HĐH và hội
nhập kinh tế quốc tế [99]
Đào tạo nghề là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc xây dựng
một nguồn nhân lực có kỹ năng, tay nghề cao - đòi hỏi cơ bản của quá
trình tiến hành CNH - HĐH. Các nhà nghiên cứu giáo dục đã chỉ ra
rằng ứng với mỗi giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội, các quốc gia
trên thế giới cần có mục tiêu ƣu tiên cho phát triển giáo dục và đào
tạo. Đối với những nƣớc đang phát triển nhƣ nƣớc ta hiện nay, thiết
chế cần đƣợc ƣu tiên hàng đầu là ĐTN [103]. Trong khi đó, hệ thống
ĐTN của chúng ta hiện nay lại chƣa phù hợp, chƣa đáp ứng đƣợc
những đòi hỏi của một nền kinh tế tri thức, kinh tế của thời đại hậu
công nghiệp. Để có thể xây dựng đƣợc một nguồn nhân lực chất lƣợng
Về những quan điểm mang tính định hướng đối với hoạt động
ĐTN, chúng ta có những ấn phẩm khoa học của các chuyên gia, các
nhà quản lý trong lĩnh vực ĐTN cũng nhƣ của những nhà khoa học có
quan tâm nghiên cứu lĩnh vực này. Bộ trƣởng Bộ LĐTB&XH Nguyễn
Thị Hằng trong bài viết "Phát huy trí tuệ và tay nghề của nguồn lực
con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước"
đăng trên đặc san Đào tạo nghề của Tổng cục Dạy nghề năm 2002 đã
viết "Chƣa khi nào đất nƣớc cần nhiều lao động có trí tuệ và tay nghề,
cần nhiều nhân tài nhƣ hiện nay. Bởi vậy, ngay từ bây giờ, cần phải
tập trung vào đào tạo, tăng nhanh bộ phận lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao, nhất là những chuyên gia kỹ thuật và đội ngũ công
nhân bậc cao, có thể lực và phẩm chất tốt để đi ngay vào kinh tế tri
thức; đồng thời phát triển và nhanh chóng phổ cập nghề cho số đông
lao động phổ thông, nhất là ở nông thôn và cho thanh niên nhằm
chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng cƣờng cơ hội
và khả năng lựa chọn việc làm, tự tạo việc làm đảm bảo cuộc sống."
Cũng trong đặc san này, bài viết của GS.TS Vũ Đình Cự - phó chủ
tịch Quốc hội - "Tiếp tục đổi mới tư duy trong đào tạo nghề" cũng đƣa
ra quan điểm "ở nƣớc ta, trong những năm đầu thế kỷ XXI, chiến lƣợc
ĐTN phải đƣợc đặt lên hàng đầu Thời đại đặt ra cho sự nghiệp ĐTN
ở nƣớc ta nhiều vấn đề mới, do đó cần phải có thêm nhiều đổi mới
trong tƣ duy và tổ chức thực hiện cho nhiệm vụ cao cả này". GS.VS
Phạm Minh Hạc - một nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực khoa học
giáo dục - qua một số các ấn phẩm của mình nhƣ "Về phát triển toàn
diện con người thời kỳ CNH - HĐH"; "Giáo dục Việt Nam trước
ngưỡng cửa thế kỷ XXI"; "Đào tạo nghề góp phần phát triển nguồn
nhân lực đất nước trong thế kỷ XXI"; "Về giáo dục" lại khẳng định
"Để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế - xã hội, vai trò cực kỳ to lớn, có thể
nói là quyết định, thuộc về nguồn nhân lực, cụ thể là đào tạo, bồi
dƣỡng, quản lý nguồn nhân lực. Vì vậy, trong thời gian tới, cùng với
CNH - HĐH vì nguồn nhân lực của chúng ta đang hết sức hạn chế về
mặt chất lƣợng, chúng ta đang có một khoảng cách khá xa về mặt tri
thức và công nghệ so với nhiều nƣớc trong khu vực và trên thế giới.
Cụ thể là, trong lĩnh vực ĐTN, chúng ta còn phải đối mặt với nhiều
bất cập nhƣ trang thiết bị đào tạo còn thiếu và lạc hậu, đội ngũ giáo
viên vừa thiếu vừa yếu, nội dung chƣơng trình còn chậm đổi mới,
phƣơng pháp đào tạo còn theo hƣớng thụ động Những điều này đã
ảnh hƣởng rất lớn tới chất lƣợng đội ngũ lao động kỹ thuật của nƣớc
ta với quy mô nhỏ, cơ cấu trình độ và ngành nghề đào tạo còn nhiều
bất hợp lý, đặc biệt là chất lƣợng đào tạo còn rất hạn chế, ít có khả
năng thích ứng và cạnh tranh trên thị trƣờng lao động. Đây cũng là
điều mà tác giả Lê Văn Nhã trong luận án tiến sỹ chuyên ngành kinh
tế học với tiêu đề "Đổi mới vịêc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng công
nhân kỹ thuật, cán bộ có trình độ trung học chuyên nghiệp để nâng
cao năng suất lao động ở Việt Nam" đã đƣa ra sau khi phân tích thực
trạng đội ngũ công nhân lao động kỹ thuật của chúng ta. Từ đó, tác giả
này đi tìm những cơ sở lý luận chứng minh cho nhu cầu tất yếu khách
quan của việc đổi mới hoạt động đào tạo và bồi dƣỡng cũng nhƣ sử
dụng CNKT và cán bộ THCN và chỉ ra những chỉ tiêu cụ thể cho việc
đánh giá hiệu quả của việc đào tạo, bồi dƣỡng và sử dụng này. Tác giả
Nguyễn Đức Thuần trong cuốn "Nhân lực trẻ đào tạo và triển vọng"
cũng thừa nhận khâu yếu kém nhất trong hệ thống giáo dục nƣớc ta
hiện nay chính là dạy nghề và đã chỉ ra hai nguyên nhân cơ bản dẫn
đến sự yếu kém này. Đó là khâu tổ chức quản lý công tác dạy nghề
không ổn định, quản lý buông lỏng, phân tán và chồng chéo và nhận
thức chƣa đúng đắn của xã hội về vị trí của ĐTN. Còn tác giả Lê Khắc
Đoá trong luận án tiến sỹ của mình với nhan đề "Hoàn thiện hệ thống
dạy nghề Việt Nam" thì lại cho rằng lý do của thực trạng đáng quan
ngại của hệ thống dạy nghề là do chúng ta có một chính sách đào tạo
thiếu thống nhất, một phƣơng pháp kế hoạch hoá hình thức hành chính
tới quá trình phát triển nguồn nhân lực cho đất nƣớc. Đi vào nghiên
cứu chuyên sâu hơn, các tác giả của đề tài khoa học độc lập cấp nhà
nƣớc năm 2004 "Nghiên cứu thị trường lao động và định hướng nghề
nghiệp của thanh niên Việt Nam hiện nay" do TS. Nguyễn Hữu Dũng
chủ biên đã phân tích mối quan hệ giữa định hƣớng nghề nghiệp cho
thanh niên và thị trƣờng lao động, đánh giá thực trạng hoạt động
hƣớng nghiệp cho thanh niên nƣớc ta hiện nay, qua đó đề xuất các giải
pháp phát triển thị trƣờng lao động, định hƣớng nghề nghiệp và giải
quyết việc làm cho thanh niên giai đoạn 2006 - 2010. Đề tài đã chỉ ra
rằng yêu cầu của thị trƣờng lao động đối với định hƣớng nghề nghiệp
cho thanh niên liên quan đến bài toán chiến lƣợc phát triển lao động
thanh niên sao cho phù hợp với những đòi hỏi của thời kỳ CNH -
HĐH và hội nhập quốc tế. Theo đó, định hƣớng nghề nghiệp cho
thanh niên phải hƣớng vào đáp ứng yêu cầu của sản xuất, của thị
trƣờng lao động trong điều kiện áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới
với những đòi hỏi mới.
Cuốn "Cẩm nang hướng nghiệp - dạy nghề thành phố Hồ Chí
Minh" dành phần II gồm 35 trang để viết về "Những điều cần biết về
chọn và học nghề" trong đó đã chỉ ra vị trí của công tác hƣớng nghiệp,
những tiêu chí cần thiết để xác định nghề nghiệp phù hợp nhƣ năng
lực, sở thích, điều kiện kinh tế, xu hƣớng thị trƣờng và còn cung cấp
một số ngành nghề đang có nhu cầu tuyển dụng cao trong xã hội, cũng
nhƣ chỉ ra những địa chỉ đào tạo đáng tin cậy đối với những ngành
nghề đó.
Những khía cạnh cụ thể trong quá trình ĐTN cũng đƣợc nhiều
tác giả đề cập tới trong nhiều bài báo, công trình khoa học.
Chẳng hạn nhƣ về vấn đề xã hội hoá hoạt động ĐTN, có "Vấn
đề xã hội hoá trong đào tạo nghề" của Nguyễn Đức Trí và "Một số
vấn đề về thực trạng công tác xã hội hoá dạy nghề hiện nay" của
Nguyễn Tiến Dũng, hay "Liên kết trong đào tạo nghề" của Anh Văn
dạy nghề đáp ứng nhu cầu đào tạo theo ba cấp trình độ" hay "Đào tạo
giáo viên kỹ thuật với quá trình hoàn thiện công tác hướng nghiệp và
dạy nghề cho học sinh phổ thông trong bậc trung học mới" của Trần
Khánh Đức. Điểm nhấn của các công trình này là vai trò quan trọng
của ngƣời giáo viên dạy nghề đối với chất lƣợng hoạt động ĐTN và
thực trạng không sáng sủa về năng lực sƣ phạm kỹ thuật của đội ngũ
giáo viên dạy nghề nƣớc ta.
Rất nhiều công trình khoa học với nhiều cách nhìn, nhiều chiều
cạnh đánh giá đối với lĩnh vực ĐTN đã phần nào khai thác và phân
tích một số khía cạnh khác nhau của vấn đề này, trên cơ sở tham khảo
các công trình đó, đề tài này là sự kế thừa và phát triển nhằm phân tích
một cách có hệ thống dƣới góc độ xã hội học về hoạt động ĐTN cho
thanh niên giai đoạn hiện nay. Hoạt động ĐTN có thể đƣợc nghiên
cứu dƣới rất nhiều góc độ "vấn đề không phải chỉ là nghiên cứu cái gì
mà là nghiên cứu nhƣ thế nào, vận dụng lý thuyết nào, sử dụng
phƣơng pháp tƣ duy nào, áp dụng phƣơng pháp và kỹ thuật nào để thu
thập, xử lý, phân tích thông tin nhằm làm rõ mối quan hệ giữa giáo
dục với xã hội và con ngƣời" [50, tr 77]. Chính ở điểm này đề tài đã
thể hiện những đóng góp mới qua những nỗ lực nhìn nhận hoạt động
ĐTN dƣới góc độ xã hội học, vận dụng các lý thuyết xã hội học vào
việc giải thích những tồn tại trong hệ thống giáo dục, sử dụng các
phƣơng pháp điều tra xã hội học để thu thập và xử lý thông tin Đề
tài có thể đƣợc xem nhƣ một trong những công trình nghiên cứu xã
hội học đầu tiên chuyên sâu về lĩnh vực ĐTN, qua đó góp thêm một
góc nhìn đối với hệ thống ĐTN Việt Nam.
Có một điểm đáng chú ý ở đây là các công trình nghiên cứu quy
mô (sách, luận án tiến sỹ, đề tài khoa học) về ĐTN trong thời gian gần
đây không xuất hiện nhiều. Tra cứu cơ sở dữ liệu của Thƣ viện Quốc
gia Việt Nam – nơi lƣu giữ đầy đủ nhất các ấn phẩm xuất bản trong
nƣớc – với từ khoá "ĐTN" và "dạy nghề" chúng tôi thu đƣợc 61 ấn
nâng cao chất lƣợng hệ thống ĐTN Việt Nam.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc
nghiên cứu hoạt động ĐTN cho thanh niên, Luận án đi sâu tìm hiểu, đánh giá
thực trạng hoạt động ĐTN cho thanh niên ở nƣớc ta hiện nay, từ đó đề xuất
một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của hoạt
động này.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến
hoạt động ĐTN cho thanh niên;
- Phân tích, đánh giá thực trạng, nội dung, phƣơng pháp, chất
lƣợng và hiệu quả của hoạt động ĐTN cho thanh niên ở nƣớc ta hiện
nay;
- Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm hoàn thiện chính
sách, tăng cƣờng sự quản lý của nhà nƣớc, góp phần nâng cao chất
lƣợng và hiệu quả ĐTN, phát triển nguồn nhân lực trẻ.
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động ĐTN cho thanh niên
- Khách thể nghiên cứu: Các cơ sở ĐTN, đội ngũ cán bộ,
giáo viên làm công tác đào tạo, đối tƣợng tuyển sinh của các cơ sở
ĐTN, những ngƣời đƣợc ĐTN và những ngƣời sử dụng các sản phẩm
đào tạo.
- Khách thể khảo sát: Do luận án sử dụng phƣơng pháp cơ
bản là phân tích số liệu thứ cấp, phƣơng pháp điều tra thông qua khảo
sát chỉ đƣợc tiến hành với mục đích thu thập số liệu bổ sung, vì vậy,
khách thể khảo sát ở đây đƣợc giới hạn là học sinh lớp 12 tại địa bàn
khảo sát đã đƣợc lựa chọn.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian: từ tháng 11/2002 – 12/2006
trình hay phƣơng pháp đào tạo), mà quan trọng là phải tìm kiếm các
giải pháp nhằm phát triển đồng bộ cả hệ thống, tạo ra những điều kiện
cơ bản của xã hội để phát triển nhu cầu đào tạo, phát triển các loại
hình đào tạo, cải tiến cách thức quản lý đào tạo.
7. Cách tiếp cận đề tài và phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Cách tiếp cận của đề tài:
Vấn đề “ĐTN cho thanh niên” trong điều kiện xã hội nƣớc ta
hiện nay đang thu hút sự quan tâm không chỉ của các nhà quản lý,
nhất là các nhà quản lý giáo dục, các nhà sử dụng lao động trong các
cơ sở sản xuất kinh doanh, mà còn là sự quan tâm của nhiều ngành
khoa học nhƣ giáo dục học (đặc biệt là giáo dục học hƣớng nghiệp) và
xã hội học (đặc biệt là xã hội học giáo dục).
Nếu nhƣ giáo dục học đặc biệt quan tâm đến đội ngũ giáo viên,
nội dung đào tạo, phƣơng pháp đào tạo, hƣớng tới những chƣơng trình
đào tạo với chất lƣợng cao, thì xã hội học lại đi sâu xem xét mặt xã
hội của vấn đề đào tạo, đặc biệt quan tâm đến những vấn đề nhƣ nhu
cầu đào tạo, tƣơng quan giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng, giữa đào
tạo và sử dụng.
Nếu nhƣ giáo dục học nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để cải tiến
nội dụng chƣơng trình, giáo trình, phƣơng pháp để nâng cao chất
lƣợng đào tạo, thì xã hội học lại đặc biệt quan tâm đến các giải pháp
về hoàn thiện chính sách xã hội, nâng cao vai trò của các lực lƣợng xã
hội trong quản lý và tham gia các quá trình đào tạo, hƣớng tới một
chất lƣợng cao trong đào tạo đồng thời với sự đáp ứng nhu cầu sử
dụng của xã hội.
Đề tài Luận án này đƣợc tiếp cận dƣới góc độ xã hội học, cụ thể
là xã hội học giáo dục (một môn xã hội học chuyên biệt, có sự giao
thoa giữa xã hội học và giáo dục học), trong đó sử dụng các lý thuyết,
phƣơng pháp xã hội học nói chung và đặc biệt là các lý thuyết,
phƣơng pháp xã hội học giáo dục nói riêng để xem xét, giải quyết