Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số dự án trọng điểm tại huyện An Lão, thành phố Hải Phòng - Pdf 26

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN ANH BA ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ
VÀ TÁI ĐỊNH CƢ CỦA MỘT SỐ DỰ ÁN TRỌNG ĐIỂM
TẠI HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Mã số: 60850103
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ HÀ THÀNH

Hà Nội – Năm 2013

3
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
1. Tính cấp thiết của đề tài: 7
2. Mục tiêu nghiên cứu: 8
3. Nhiệm vụ nghiên cứu: 8
4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu: 8
5. Phƣơng pháp nghiên cứu: 9
6. Cơ sở tài liệu để thực hiện Luận văn: 9
7. Cấu trúc của Luận văn: 10
CHƢƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, GIẢI PHÓNG MẶT

thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất 43
1.3.2. Kết quả công tác bồi thường, GPMB và tái định cư trên địa bàn thành phố
Hải Phòng 45
CHƢƠNG 2 – THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT, BỒI THƢỜNG, HỖ
TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƢ CỦA MỘT SỐ DỰ ÁN TRỌNG ĐIỂM TẠI HUYỆN AN
LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG 46
2.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện An Lão 46
2.1.1. Vị trí địa lý 46
2.1.2. Điều kiện tự nhiên 47
2.1.2.1. Địa hình, địa mạo 47
2.1.2.2. Khí hậu, thời tiết 47
2.1.2.3. Thuỷ văn 48
2.1.2.4. Thổ nhƣỡng 48
2.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội 49
2.1.3.1. Tăng trƣởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 49
2.1.3.2. Thực trạng phát triển từng ngành kinh tế 49
2.1.3.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 50
2.1.3.4. Hệ thống đƣờng giao thông 51
2.2. Quá trình chuyển dịch cơ cấu đất đai 53
2.2.1. Biến động đất nông nghiệp 55
2.2.2. Biến động đất phi nông nghiệp 55
2.2.3. Biến động đất chưa sử dụng 56
2.3. Khái quát công tác thu hồi đất giải phóng mặt bằng và kết quả đạt đƣợc tại
huyện An Lão từ năm 2005 đến năm 2010 56
2.4. Công tác bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ của các dự án trọng điểm tại
huyện An Lão, thành phố Hải Phòng 59
2.4.1. Tổng quan về hai dự án trọng điểm 59
2.4.2. Kết quả thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng của dự án xây dựng
đường dẫn cầu Khuể tại xã Mỹ Đức và xã Chiến Thắng 62
2.4.2.1. Phạm vi, giới hạn của dự án 62

3.4.2. Kiện toàn nội dung chính sách về công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC 92
3.4.3. Tăng cường vai trò cộng đồng trong việc tham gia công tác GPMB 93
3.4.4. Nâng cao năng lực cán bộ và hiệu quả làm việc của ban bồi thường, hỗ trợ
và TĐC (Trung tâm phát triển quỹ đất) 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
1. Kết luận 96
2. Kiến nghị: 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 1 103
1. Chính sách bồi thƣờng ở một số tổ chức và nƣớc trên thế giới 103
1.1. Chính sách, bồi thường thiệt hại và tái định cư của các tổ chức tài trợ (WB và
ADB) 103
1.2. Chính sách bồi thường, GPMB ở một số nước trên thế giới 104
6
1.2.1. Trung Quốc 104
1.2.2. Thái Lan 105
1.3. Nhận xét, đánh giá 106
PHỤ LỤC 2 108
2. Những nét khác biệt chủ yếu giữa chính sách thu hồi đất, bồi thƣờng và hỗ trợ tái định cƣ từ
trƣớc và sau khi có Luật đất đai năm 2003 108
2.1. Trước khi có Luật Đất đai 1993 108
2.2. Sau khi ban hành Luật Đất đai 1993 109
2.3. Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai ban hành năm 1998 110
2.4. Luật Đất đai sửa đổi năm 2001 111
2.5. Luật Đất đai năm 2003 111
PHU LỤC 3 114
Danh sách tổng hợp phiếu điều tra về công tác thực hiện chính sách bồi thƣờng
GPMB 114
7
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng công tác bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ của
một số dự án trọng điểm tại huyện An Lão, thành phố Hải Phòng”
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của vấn đề thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ
trợ, tái định cƣ trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
- Đánh giá thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thƣờng hỗ trợ và tái định cƣ của
các dự án thu hồi đất trên địa bàn huyện An Lão, thành phố Hải Phòng và làm rõ
nguyên nhân cƣỡng chế một số hộ không đồng ý nhận tiền bồi thƣờng, để bàn giao mặt
bằng sạch cho chủ đầu tƣ thực hiện dự án. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao
hiệu quả cho công tác giải phóng mặt bằng của một số dự án sử dụng đất trên địa bàn
huyện An Lão nói riêng và cho công tác thu hồi đất, GPMB trên địa bàn thành phố Hải
Phòng nói chung.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến công tác thu hồi đất, bồi
thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ.
- Nghiên cứu tổng quan các chính sách, quy định pháp lý về bồi thƣờng, hỗ trợ,
tái định cƣ của nhà nƣớc từ sau khi có Luật đất đai 2003 đến nay.
- Thu thập, tài liệu số liệu về công tác thu hồi đất, bồi thƣờng, GPMB và tái
định cƣ của một số dự án quan trọng trên địa bàn huyện An Lão.
- Điều tra, khảo sát về giá bồi thƣờng của các dự án, phỏng vấn các hộ có đất bị
thu hồi và nhận hỗ trợ, tái định cƣ trong công tác bồi thƣờng, gia bồi thƣờng, bất cập
trong việc thu hồi đất, xét duyệt tái định cƣ.
- Đánh giá, phân tích thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB, làm rõ những
nguyên nhân, những khó khăn vƣớng mắc trong GPMB của các dự án.
4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu:
Phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu: Đề tài thực hiện nghiên cứu đối
với một số dự án trọng điểm triển khai trên địa bàn huyện An Lão từ năm 2005 đến nay
nhƣ:
9
- Dự án xây dựng đƣờng ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng trên địa bàn xã Quốc

Mở đầu
Chƣơng 1 - Tổng quan về vấn đề thu hồi đất, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
Chƣơng 2 - Thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ của một số dự
án tại huyện An Lão, thành phố Hải Phòng .
Chƣơng 3 - Đánh giá ƣu, nhƣợc điểm của việc thực hiện công tác bồi thƣờng, hỗ trợ và tái
định cƣ của hai dự án nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp.
Kết luận và kiến nghị

11
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG Ở
VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

- Bồi thƣờng bằng tiền để ngƣời dân tự lo chỗ ở
1.1.1.5. Cơ chế thu hồi đất
Điều 5- Luật đất đai năm 2003 quy định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà
nƣớc đại diện chủ sở hữu và trao quyền sử dụng đất cho ngƣời sử dụng đất thông qua
hình thức giao đất, cho thuê đất. Do đó, đất đai là tài sản quý giá, là tƣ liệu sản xuất
chủ yếu của nông dân và nó quyết định cuộc sống của họ và gia đình họ.
Thu hồi đất để phục vụ cho việc xây dựng khu cụm công nghiệp, khu dân cƣ, cơ
sở hạ tầng công cộng là vấn đề kinh tế - xã hội lớn, nhƣng lại phải tính đến lợi ích cơ
bản của những ngƣời dân bị thu hồi đất. Qua đó, nhà nƣớc ta đã ban hành Luật đất đai
năm 2003, Nghị định số 181, 197, 198, 17, 84, 69 và hàng loạt chính sách vĩ mô hƣớng
vào giải quyết cơ bản về đất nói chung và vấn đề thu hồi đất nông nghiệp nói riêng để
đảm bảo giữa lợi ích chung của xã hội và lợi ích của hộ nhân dân, nhằm giải quyết vấn
đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Khi nhà nƣớc thu hồi đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải tiến hành bồi
thƣờng, hỗ trợ để GPMB. Ngƣời bị thu hồi đất loại nào thì đƣợc bồi thƣờng bằng việc
giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thƣờng thì đƣợc bồi
thƣờng bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi. Trƣờng hợp
thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thƣờng
cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc đƣợc bồi thƣờng bằng tiền, ngƣời bị thu hồi đất
còn đƣợc nhà nƣớc hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, đào tạo chuyển đổi ngành
nghề, bố trí việc làm.
1.1.2. Tính chất, quan điểm của thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng
1.1.2.1. Tính chất của thu hồi đất, bồi thƣờng và giải phóng mặt bằng
GPMB là quá trình đa dạng và phức tạp, nó thể hiện khác nhau đối với mỗi một dự án,
nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội.
- Tính đa dạng: Mỗi dự án đƣợc tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều
kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định. Đối với khu vực đô thị, thị
13
trấn, mật độ dân cƣ cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn dẫn đến
quá trình GPMB có đặc trƣng nhất định. Đối với khu vực ven đô thị, thị trấn, mức độ

đối tƣợng tĩnh, hạn chế bởi số lƣợng và có vị trí cố định, vì vậy đối với quy hoạch sử
dụng đất căn cứ đầu tiên lập quy hoạch là phải căn cứ trên tổng dự trữ tài nguyên quốc
gia, sau đó mới đến các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội và sau nữa là nhu cầu sử
dụng đất của các ngành, lĩnh vực.
Về bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ khi nhà nƣớc thu hồi đất:
- Liên quan đến tính chất sở hữu hoặc sử dụng đối với đất đai vì sự khác biệt ở
đây chính là quyền định đoạt (định đoạt thông qua mục đích sử dụng đất, thông qua
thời hạn sử dụng và thông qua mức hạn điền). Tuy nhiên sự sở hữu hay sử dụng đối với
đất đai cũng chỉ mang tính chất tƣơng đối, vì dù có sở hữu tƣ nhân về đất đai đi chăng
nữa thì khi nhà nƣớc cần đất để sử dụng vào các mục đích quốc gia, lợi ích công cộng
thì ngƣời dân vẫn phải chấp hành việc giao lại đất cho nhà nƣớc và nhận mức bồi
thƣờng theo đúng quy định.
- Liên quan đến các đối tƣợng sử dụng đất: Theo quy định của pháp luật việc
công nhận quyền sử dụng đất cho các đối tƣợng khác nhau nhƣ: Hộ gia đình, cá nhân,
tổ chức trong nƣớc, cá nhân, tổ chức nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc
ngoài. Vì vậy, các chính sách bồi thƣờng thiệt hại cũng cần nghiên cứu cho từng đối
tƣợng khác nhau.
- Liên quan đến các mục đích sử dụng đất: Theo quy định của pháp luật Việt
Nam, mỗi thửa đất chỉ đƣợc sử dụng vào một mục đích nhất định, tuy nhiên trong thực
tế một số thửa đất ở những vị trí nhất định có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác
nhau (để ở, kinh doanh, văn phòng, cho thuê…) và lợi nhuận thu đƣợc chính từ lợi thế
của thửa đất mang lại. Vì vậy, khi tính giá trị để bồi thƣờng thiệt hại khi thu hồi đất cần
tính đến vấn đề này và đây cũng là nguyên nhân gây khiếu kiện nhiều nhất trong các
khiếu kiện có liên quan đến đất đai.
15
- Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi thu hồi đất để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì nhà nƣớc đứng ra thu
hồi, tính giá bồi thƣờng theo quy định của nhà nƣớc và giao đất “sạch” cho nhà đầu tƣ
hoặc ngƣời sử dụng đất mới. Còn trong trƣờng hợp thu hồi đất cho các mục dích nhƣ
kinh doanh, thƣơng mại, đầu tƣ phát triển thì nhà đầu tƣ có thể tự thỏa thuận với ngƣời

- Đất chƣa sử dụng: 3.163,9 nghìn ha, chiếm 9,56% diện tích tự nhiên.
Theo số liệu của Tổng cục quản lý đất đai năm 2011 trên thì từ năm 1990 đến
năm 2010 diện tích đất nông nghiệp đã tăng từ năm 1990 – 2010 là 9.820,4ha (năm
1990 là 16.406ha, năm 2010 lên 26.226,4ha), đất phi nông nghiệp tăng từ năm 1990 –
2010 là 1.282,9ha (năm 1990 là 2.422,2ha đến năm 2010 lên 3.705,1ha, đất chƣa sử
dụng giảm 11.111,2ha (năm 1990 là 33.103,3ha, năm 2010 còn 33.095,4ha) một phần
lớn đƣợc nông dân sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp và một phần đƣợc
chuyển sang đất phi nông nghiệp phục vụ các dự án kinh tế - xã hội nhƣ đất sản xuất
kinh doanh phi nông nghiệp hay đất phục vụ công cộng. Tổng diện tích đất tự nhiên
giảm do sai lệch do quá trình thống kê, kiểm kê của các cấp chính quyền.
Quy hoạch sử dụng đất trong giai đoạn 2011-2020:
Trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất, tiềm năng đất đai, mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội, quốc phòng, an ninh đến năm 2020 của cả nƣớc; quy hoạch, chiến lƣợc phát
triển của các ngành, lĩnh vực; nhu cầu sử dụng đất của các Bộ, ngành và địa phƣơng,
cân đối và xác định các chỉ tiêu sử dụng đất đến năm 2020 nhƣ sau:
- Đất nông nghiệp 26.732,4 nghìn ha, chiếm 80,77% diện tích tự nhiên, tăng 506
nghìn ha so với năm 2010.
- Đất phi nông nghiệp 4.880,1 nghìn ha, chiếm 14,75% diện tích tự nhiên, tăng
1.175 nghìn ha so với năm 2010.
17
- Đất chƣa sử dụng 1.482,9 nghìn ha, chiếm 4,48% diện tích tự nhiên. Năm
2010, cả nƣớc còn 3.163,9 nghìn ha. Trong thời kỳ quy hoạch sẽ khai thác khoảng
1.681 nghìn ha đƣa vào sử dụng vào các mục đích nông nghiệp, phi nông nghiệp (trong
đó 1.200 - 1.300 nghìn ha cho khoanh nuôi, trồng mới rừng, 150 nghìn ha cho sản xuất
nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, còn lại cho các mục đích phi nông nghiệp).
Nhƣ vậy, Trong lịch sử phát triển của mọi quốc gia, việc GPMB để xây dựng
công trình là không thể tránh khỏi. Nhịp độ phát triển càng lớn, quá trình chuyển dịch
đất đai càng mạnh mẽ thì nhu cầu GPMB càng cao và trở thành một thách thức ngày
càng nghiêm trọng đối với sự thành công không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà trong cả
ở trong các lĩnh vực xã hội, chính trị trên phạm vi quốc gia.

chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày
25/5/2007 của Chính phủ; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính
phủ.
Theo đó, thì khi nhà nƣớc thu hồi đất để phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh,
mục đích công cộng thì phải bồi thƣờng cho ngƣời sử dụng đất bằng đất, nếu không có
đất thì phải bồi thƣờng bằng giá trị đất tại thời điểm và kèm theo đó là thực hiện các
chính sách về hỗ trợ nhƣ hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, chuyển đổi nghề nghiệp và
hỗ trợ tái định cƣ. Còn những dự án phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của các tổ
chức, cá nhân cơ bản chủ đầu tƣ phải tự thoả thuận với ngƣời có đất trên cơ sở giá thị
trƣờng
Về cơ bản Luật đất đai năm 2003, quy định về bồi thƣờng, hỗ trợ, GPMB khi
nhà nƣớc thu hồi đất giống nhƣ luật cũ. Tuy nhiên, có điều chỉnh, bổ sung một số nội
dung cho phù hợp với tình hình thực tế và điều kiện phát triển của đất nƣớc bằng
những biện pháp hỗ trợ nhƣ hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, chuyển đổi nghề nghiệp
19
và hỗ trợ tái định cƣ. Tất cả mọi mục tiêu của quốc gia là để cho ngƣời dân có ăn, có
mặc, có chỗ ở ổn định và đƣợc học hành nâng cao dân trí để xây dựng đất nƣớc.
Nhƣng hiện nay, vấn đề thu hồi đất, bồi thƣờng GPMB diễn ra rất chậm, chƣa
hiệu quả, còn nhiều sai sót gây khiếu kiện trong nhân dân làm ảnh hƣởng đến tiến độ
đầu tƣ, triển khai dự án, đồng thời công tác quy hoạch và quản lý xây dựng còn nhiều
bất cập ảnh hƣởng đến tiến độ của các dự án.
Mặt khác, các chính sách đất đai đã đƣợc đổi mới nhiều song công tác quản lý
đất đai ở nƣớc ta vẫn còn nhiều yếu kém. Đối với một số địa phƣơng, công tác GPMB
dƣờng nhƣ là công việc luôn mới vì chỉ khi có dự án mới thành lập Hội đồng bồi
thƣờng. Hội đồng bồi thƣờng thông thƣờng chỉ kiêm nhiệm hoặc điều động tạm thời,
thậm chí là hợp đồng ngắn hạn, không có bộ phận chuyên trách thực hiện công việc, do
đó khi tích luỹ đƣợc chút ít kinh nghiệm là lúc kết thúc dự án. Mặt khác, thƣờng là khi
thu hồi đất và giải quyết bồi thƣờng về đất đi đôi với việc giải quyết tranh chấp, giải
quyết các trƣờng hợp vi phạm pháp luật về đất mà trong đó giải quyết những trƣờng
hợp sử dụng đất bất hợp pháp là rất khó khăn mang tính chất xã hội phức tạp. Việc bồi

- Ngƣời sử dụng đất ổn định đƣợc chuyển quyền sử dụng đất là một trong các
quyền của ngƣời sử dụng đất đã đƣợc xác định tại Hiến pháp 1992 và Luật đất đai.
Thực hiện quyền này, ngƣời sử dụng đất có nguồn thu nhập từ quyền sử dụng đất của
mình. Do vậy, khi nhà nƣớc thu hồi đất của ngƣời đang sử dụng đất để giao cho ngƣời
khác sử dụng vì lợi ích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát
triển kinh tế, nhà nƣớc phải đảm bảo lợi ích cho ngƣời bị thu hồi đất một cách thoả
đáng cụ thể:
+ Ngƣời bị thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì đƣợc bồi thƣờng bằng
việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thƣờng thì đƣợc
bồi thƣờng bằng giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh công bố tại thời điểm thu hồi đất (Khoản 2, Điều 6 Nghị định số 197/2004/NĐ-
CP)
21
+ Ngoài bồi thƣờng hỗ trợ về đất, tài sản ngƣời bị thu hồi đất còn đƣợc hỗ trợ di
chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, đào tạo nghề, …. ổn định đời sống cho
ngƣời bị thu hồi đất (các Điều 27, 28, 29 và 32 Nghị định 197/2004/NĐ – CP).
+ Ngƣời bị thu hồi đất ở đƣợc chuyển vào khu TĐC với hệ thống cơ sở hạ tầng
đồng bộ đủ điều kiện cho họ sống tốt hơn hoặc ít nhất cũng bằng nơi ở cũ (Điều 35
Nghị định 197/2004/NĐ – CP).
- Nhà đầu tƣ có nhu cầu về đất làm mặt bằng để đầu tƣ xây dựng các công trình
cơ sở hạ tầng, cơ sở sản xuất kinh doanh với chi phí sử dụng đất hợp lý nhất. Để
khuyến khích các nhà đầu tƣ bỏ vốn vào đầu tƣ phát triển, nhà nƣớc không chỉ ƣu đãi
tài chính nhƣ miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế, mà còn hoàn lại chi phí
bồi thƣờng, hỗ trợ về đất mà họ đã chi trả cho ngƣời bị thu hồi đất với mức cao nhất,
bằng số tiền sử dụng đất, hoặc tiền thuê đất mà họ phải nộp cho nhà nƣớc nhƣ đã quy
định tại Điều 3 Nghị định 197/2004/NĐ-CP và khoản 4 Điều 5, khoản 3 Điều 6 Nghị
định 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 về thu tiền sử dụng đất. Nhà nƣớc
đã phải dành nguồn thu từ đất của mình để đảm bảo lợi ích cho ngƣời bị thu hồi đất,
đồng thời giảm nhẹ chi phí sử dụng đất cho nhà đầu tƣ để thực hiện quyền thu hồi đất,
phân bổ sử dụng đất phục vụ cho đầu tƣ phát triển của đất nƣớc đƣa đến dân giàu, nƣớc

1.2.4. Những nội dung cơ bản của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất
1.2.4.1. Bồi thƣờng về đất:
* Nguyên tắc bồi thƣờng:
Nguyên tắc bồi thƣờng đất đƣợc quy định tại Điều 6 - Nghị định số
197/2004/NĐ-CP và phần II, khoản 1 - Thông tƣ số 116/2004/TT-BTC nhƣ sau:
- Ngƣời bị nhà nƣớc thu hồi đất có đủ điều kiện quy định tại Điều 8 của Nghị
định này thì đƣợc bồi thƣờng; trƣờng hợp không đủ điều kiện đƣợc bồi thƣờng thì Uỷ
23
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (sau đây gọi chung là Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh) xem xét để hỗ trợ.
- Ngƣời bị thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì đƣợc bồi thƣờng bằng
việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thƣờng thì đƣợc
bồi thƣờng bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi; trƣờng
hợp bồi thƣờng bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà, nếu có chênh lệch về giá trị thì
phần chênh lệch đó đƣợc thực hiện thanh toán bằng tiền.
- Trƣờng hợp ngƣời sử dụng đất đƣợc bồi thƣờng khi nhà nƣớc thu hồi đất mà
chƣa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với nhà nƣớc theo quy định của pháp
luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền đƣợc bồi
thƣờng, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nƣớc.
* Điều kiện để đƣợc bồi thƣờng về đất:
Ngƣời bị nhà nƣớc thu hồi đất, có một trong các điều kiện đƣợc quy định tại
Điều 8 - Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và phần II, khoản 2 - Thông tƣ số
116/2004/TT-BTC thì đƣợc bồi thƣờng, cụ thể nhƣ sau:
1. Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất
đai.
2. Có quyết định giao đất của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền theo quy định
của pháp luật về đất đai.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, đƣợc Uỷ ban nhân dân xã,
phƣờng, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) xác nhận không có

7. Hộ gia đình, cá nhân đƣợc sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của toà án
nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết
tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đã đƣợc thi hành.
25
8. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản
1, 2, 3 Điều này nhƣng đất đã đƣợc sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến thời
điểm có quyết định thu hồi đất, mà tại thời điểm sử dụng không vi phạm quy hoạch;
không vi phạm hành lang bảo vệ các công trình, đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt đã
công bố công khai, cắm mốc; không phải là đất lấn chiếm trái phép và đƣợc Uỷ ban
nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận đất đó không có tranh chấp.
9. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trƣớc đây nhà nƣớc đã có quyết
định quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của nhà nƣớc, nhƣng trong
thực tế nhà nƣớc chƣa quản lý, mà hộ gia đình, cá nhân đó vẫn sử dụng.
10. Cộng đồng dân cƣ đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, chùa,
miếu, am, từ đƣờng, nhà thờ họ đƣợc Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là
đất sử dụng chung cho cộng đồng và không có tranh chấp.
11. Tổ chức sử dụng đất trong các trƣờng hợp sau đây:
a) Đất đƣợc nhà nƣớc giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp
không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nƣớc;
b) Đất nhận chuyển nhƣợng của ngƣời sử dụng đất hợp pháp mà tiền trả cho
việc chuyển nhƣợng không có nguồn từ ngân sách nhà nƣớc;
c) Đất sử dụng có nguồn gốc hợp pháp từ hộ gia đình, cá nhân.
* Giá đất để tính bồi thƣờng và chi phí đầu tƣ vào đất còn lại: đƣợc quy định tại
Điều 5 Thông tƣ số 14 ngày 01/10/2009 nhƣ sau:
1. Giá đất tính bồi thƣờng quy định tại Điều 11 của Nghị đình só 69/2009/NĐ-
CP là giá đất theo mục đích đang sử dụng của loại đất bị thu hồi, đƣợc Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh quy định và công bố bào ngày 01 tháng 01 hàng năm.
Trƣờng hợp giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố chƣa sát với giá trị
chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trƣờng trong điều kiện bình thƣờng
thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cho cơ quan chức năng xác định lại giá đất cụ thể để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status