ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ΩΩ
PHẠM NGỌC BẨY ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI ĐA DẠNG SINH HỌC
CỦA TUYẾN ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH ĐOẠN QUA KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN NGỌC LINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
GIẢM THIỂU CÁC TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC LÊN KHU BẢO TỒN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Hà Nội - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
PHẠM NGỌC BẨY
1.2.1 Trên thế giới 9
1.2.2 Trong nước 14
Chƣơng 2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Khu BTTN Ngọc Linh 23
3.1.1 Diện tích KBTTN Ngọc Linh 23
3.1.2 Phân khu chức năng tại KBTTN Ngọc Linh 24
3.1.3 Năng lực quản lý của KBT 24
3.2 Điều kiện tự nhiên, KTXH và các giá trị ĐDSH của KBTTN Ngọc Linh 27
3.2.1 Vị trí địa lý 27
3.2.2 Địa hình 27
3.2.3 Thổ nhưỡng 29
3.2.4 Khí hậu 30
3.2.5 Thủy văn 32
3.2.6 Tài nguyên rừng và ĐDSH của KBTTN 32
3.2.7 Khái quát đặc điểm dân sinh và KTXH 46
iii
3.3 Ảnh hưởng tích cực của đường HCM 49
3.3.1 Ảnh hưởng của đường HCM đến KTXH và đời sống người dân 49
3.3.2. Ảnh hưởng của đường HCM đến công tác quản lý bảo vệ rừng và ĐDSH của
KBTTN Ngọc Linh 53
3.4 Ảnh hưởng tiêu cực của đường HCM tới KBTTN Ngọc Linh 54
3.4.1 Ảnh hưởng trực tiếp 54
3.4.1.1 Mất rừng do làm đường 54
3.4.1.2 Ảnh hưởng từ phương tiện tham gia giao thông đến ĐDSH tại KBTTN
Ngọc Linh 55
3.4.2. Ảnh hưởng gián tiếp 56
Bảng 3.6. Phổ dạng sống hệ Thực vật Ngọc Linh 42
Bảng 3.7. Thành phần loài động vật có xương sống trên cạn tại KBTTN Ngọc Linh 44
Bảng 3.8. Khu hệ bướm ngày ở khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh 45
Bảng 3.9. Số vụ vi phạm về phá rừng và xâm phạm đất rừng tại KBTTN Ngọc Linh từ
năm 2003 – năm 2011 60
Bảng 3.10. Tổng hợp diện tích đất lâm nghiệp giao về địa phương quản lý 63
Bảng 3.11. Thống kê số vụ vi phạm lâm luật qua các năm 66
Bảng 3.12. Các loài thú bị bẫy bắt tại KBTTN Ngọc Linh 67
Bảng 3.13. Những loài cây gỗ thường bị khai thác trong vùng 71
Bảng 3.14. Tình hình khai thác các lâm sản ngoài gỗ trong KBTTN 74
Bảng 3.15. Phân bố và diễn biến LSNG từ khi thành lập khu BTTN 76 v
Danh mục hình
Hình 1.1. Đường HCM đoạn qua KBTTN Ngọc Linh 7
Hình 2.1. Sơ đồ ôtc, tuyến điều tra 20 vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQL
Ban quản lý
CHDCND Lào
Cộng hòa Dân chủ Dân dân Lào
ĐDSH
Đa dạng sinh học
HCM
Hồ Chí Minh
HKL
Hạt kiểm lâm
IUCN
Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới
KTXH
Kinh tế xã hội
KBTTN
Khu bảo tồn thiên nhiên
LSNG
Lâm sản ngoài gỗ
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
ÔTC
Ô tiêu chuẩn
PCCCR
Dãy núi Ngọc Linh ở trung tâm vùng sinh thái dãy Trường Sơn là một trong
những vùng sinh thái được ưu tiên toàn cầu về tính đa dạng sinh học cao [43]. Rừng
Ngọc Linh là một trong 87 khu rừng đặc dụng của Việt Nam theo Quyết định
194/CT ngày 09 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Thủ
tướng Chính phủ). Ngày 03 tháng 5 năm 2002 UBND tỉnh Kon Tum ra quyết định
số 38/2002/QĐ-UB về việc thành lập KBTTN Ngọc Linh với 4 mục tiêu quan trọng
như sau: (1) Bảo vệ nguyên vẹn nguồn gen động thực vật quý hiếm, đặc hữu (Hổ -
Panthera tigris, Vượn má hung – Hylobates gabriellae, Mang Lớn -
Megamuntiacus vuquangensis, Mang trường sơn - Muntiacus truongsonensis, các
loài chim đặc hữu); (2) Bảo tồn đa dạng sinh học các hệ sinh thái rừng và các giá trị
nguyên sơ, đặc biệt bảo vệ diện tích rừng nguyên sinh hiện còn; (3) Tăng cường khả
năng phòng hộ của rừng đầu nguồn các con sông Đăk Pô Kô, Thu Bồn; (4) Đầu tư
vùng đệm, nhằm tạo ra vành đai bảo vệ vùng lõi, tạo thêm việc làm cho người dân,
tăng thêm thu nhập cải thiện đời sống.
Cùng thời điểm thành lập KBTTN Ngọc Linh thì việc xây dựng tuyến đường
HCM cũng được triển khai thực hiện. Tuyến đường HCM đoạn đi qua KBTTN
Ngọc Linh tỉnh Kon Tum có chiều dài khoảng 25,8km bắt đầu từ Phước Sơn
(Quảng Nam) và điểm kết thúc tại khu vực thị trấn Đăkglei tỉnh Kon Tum.
Mặc dù tuyến đường HCM mới được khai thông một thời gian ngắn nhưng
đã có những ảnh hưởng nhất định đến tài nguyên rừng, cảnh quan, đa dạng sinh học,
môi trường, KTXH - văn hóa của nhiều tỉnh thành Tây Nguyên nói chung và Kon
Tum nói riêng. [18], [15], [21]
Việc đánh giá tác động trong giai đoạn vận hành các dự án xây dựng cơ sở
hạ tầng giao thông đường bộ qua các khu vực nhạy cảm, có giá trị ĐDSH cao như
các khu rừng đặc dụng là rất cần thiết, nhằm đánh giá các ảnh hưởng trong giai
đoạn vận hành và từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác
2
quản lý bảo vệ tài nguyên rừng và ĐDSH. Tuy nhiên, tại Việt Nam công việc này
1.1 Tổng quan đƣờng HCM
1.1.1 Tổng quan tuyến đƣờng HCM
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường Trường Sơn hay đường
mòn HCM là mạng lưới giao thông quân sự chiến lược chạy từ miền Bắc vào miền
Nam đi qua miền Trung Việt Nam, hạ Lào và Campuchia. Tuyến đi qua Việt Nam
gọi là Đông Trường Sơn, tuyến phía Tây Trường Sơn đi qua địa phận của
CHDCND Lào. Đây là hệ thống đường chính cung cấp binh lực, lương thực và vũ
khí chi viện cho miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1959-1975. Binh đoàn
Trường Sơn (đoàn 559) Quân đội Nhân dân Việt Nam là đơn vị triển khai các đơn
vị công binh, hậu cần, y tế, bộ binh và phòng không để đảm bảo hoạt động của hệ
thống đường này.
Ở Việt Nam, hệ thống đường này được đặt tên là Đường Trường Sơn, lấy tên
của dãy Trường Sơn - dãy núi chạy dọc miền Trung Việt Nam nơi hệ thống đường
này đi qua. Về sau, hệ thống này có thêm tên gọi đường mòn HCM.
Trong chiến tranh Việt Nam, lực lượng quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng hòa
đã đánh phá hệ thống giao thông này bằng các chiến dịch bộ binh và không quân.
Một hệ thống máy móc điện tử, thường được gọi là “Hàng rào điện tử McNamara”,
đã được sử dụng để giúp hướng dẫn máy bay ném bom. Ngoài ra, chất độc da cam
cùng một số loại chất độc diệt cỏ khác đã được rải xuống nhiều vùng rừng trên
đường Trường Sơn làm trụi lá cây. Các dự án tạo mưa và các chất hóa học tạo bùn
cũng được Mỹ sử dụng để cắt đứt và phá huỷ con đường huyết mạch này.
Ngày nay, tuyến Tây Trường Sơn (qua địa phận nước CHDCND Lào) nhiều
nơi đã thành vùng bỏ hoang, một vài điểm được xây dựng trở thành di tích lịch sử.
Đường HCM đã được Chính phủ phê duyệt xây dựng theo văn bản 789/TTg ngày
24/9/1997 trên tuyến Đông Trường Sơn. Đây là con đường xuyên Việt thứ hai sau
Quốc lộ 1. Mục tiêu chủ yếu của đường HCM là phục vụ nhu cầu phát triển KTXH,
4
nâng cao dân trí; Đảm bảo an ninh quốc phòng và giữ cho giao thông Bắc Nam
thông thường (TCVN 4054-85). Mặt cắt ngang trên toàn tuyến có quy mô 2 làn xe,
đảm bảo bền vững.
Bảng 1.1. Quy mô và tiêu chuẩn kỹ thuật đƣờng Hồ Chí Minh
TT
Phân đoạn
Chiều
dài
(km)
Tiêu chuẩn thiết kê
Quy mô
giai đoạn
1
Hoà Lạc- Xuân Mai
13
Đi trên quốc lộ 2 hiện có
2
Xuân Mai – Tân kỳ
297
TCVN 5729-97
Nền 9 m mặt 6 m, lề
2x 1m
3
Tân Kỳ - Bùng
233
TCVN 4054-85
Nền 9 m mặt 6 m có
thể hẹp hơn, lề 2 x 1 m
4
Bùng – Cam Lộ
157
4054-85
Nền 9 m, mặt 6m có
thể hẹp hơn, lề 2 x 1
m
8
Ngọc Hồi -Kon
Tum- Pley ku-
Buôn Ma Thuật-
Chơn Thành
557
Đi trên QL 14 hiện có
9
Chơn Thành- Ngã
tư Bình Phước
69
Đi trên QL 13 hiện có
Nguồn: Nghị quyết số 38/2004/NQ-QH11 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.
Cầu: Khổ cầu bằng bề rộng nền đường, tải trọng thiết kế: H 30-HK 80 +
người đi 300 kg/m2.
Cống: Cống tròn BTCT 533-01-01; 533-01-02; 78-02X; Cống hộp BTCT
lắp ghép 86-05 X; Kết cấu nhịp dầm các loại từ 9- 33 m.
Đường HCM phần giai đoạn 1 đi qua 16 tỉnh và thành phố, bao gồm Hà Tây
(nay là Hà Nội), Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị,
6
Thừa thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Bình Phước,
Bình Dương, thành phố HCM. Điểm bắt đầu từ Hòa Lạc (điểm cuối cùng của
đường Láng – Hòa Lạc), kết thúc tại ngã tư Bình Phước, thành phố HCM. Như vậy,
tuyến đường chủ yếu đi qua các tỉnh có nhiều diện tích rừng và đất lâm nghiệp. Đây
cũng là nơi có các hoạt động tập trung về sản xuất, kinh doanh, quản lý, bảo vệ tài
Hình 1.1. Đƣờng HCM đoạn qua KBTTN Ngọc Linh
Tuyến đường HCM đoạn đi qua KBTTN Ngọc Linh thuộc địa phận tỉnh Kon
Tum có chiều dài khoảng 25,81km. Điểm bắt đầu từ Phước Sơn (Quảng Nam) và
KBTTN Ngọc Linh
KBTTN Ngọc Linh
KBTTN
Ngọc Linh
nương rẫy lâu dài và chăn thả gia súc, đất trở nên bị rửa trôi mạnh, tầng đất nông
9
thích hợp đối với các loài cây bụi và cỏ như: Sim - Rhodomyrtus tomentosa, Chè vè
- Miscanthus floribunda, Sầm - Memecylon spp., Mua - Melastoma spp., Đom đóm
- Alchornea tiliaefolia, Cỏ tranh - Imperata cylindrica, và một số loài cây gỗ nhỏ
chịu hạn tái sinh như: Thầu tấu - Aporosa dioica, Thành ngạnh - Cratoxylon spp.,
Sòi - Sapium discolor.
Cấp III: Cách < 1Km, với tổng chiều dài là 2,5 km, từ vị trí (X: 0793637,33;
Y: 1687097,34) đến vị trí (X:0 793630; Y: 1685797,54).
Trạng thái rừng trong khu vực chủ yếu là dạng IIb thuộc kiểu rừng phục hồi
sau nương rẫy. Thảm thực vật chủ yếu là các loài cây ưa sáng mọc nhanh có đời
sống ngắn, tầng cây bụi thảm tươi cũng khá đa dạng và phong phú.
Cấp IV: Cách > 1 km - với tổng chiều dài là 7,7 km bao gồm 2 đoạn. Đoạn 1
có chiều dài 5,3 km từ vị trí (X: 0793651,99; Y: 1683054,96) đến vị trí (X:
0795536,6; Y: 1680360,21), và đoạn 2 với chiều dài 2,4 km có vị trí từ tọa độ (X:
0795529,27; Y: 1678695,92) đến vị trí (X: 0795265,28; Y: 1677116,97).
Khu vực phía Tây tuyến đường chủ yếu là kiểu rừng kín thường xanh mưa
mùa nhiệt đới độ cao từ 1000 đến 1.700 m thuộc các tiểu khu 24. Trạng thái rừng
chủ đạo trong khu vực này là rừng IIIa3.
Khu vực phía Đông tuyến đường chủ yếu là rừng phục hồi thuộc tiểu khu 23.
Trạng thái rừng IIb.
1.2 Những nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về các vấn đề liên quan giữa làm
đƣờng với phát triển KTXH và những tác động của chúng lên ĐDSH, môi trƣờng
1.2.1 Trên thế giới
Ảnh hưởng của các tuyến đường đối với sinh thái môi trường đã được nhìn
nhận và nghiên cứu tương đối sớm ở nhiều nước trên thế giới, nhất là tại các nước
châu Âu và châu Mỹ. Theo tác giả John Lloyd, 2003, trong kết quả nghiên cứu về
(Road ecology) tạm dịch “Sinh thái đường” các nghiên cứu và ảnh hưởng của các
tuyến đường đã được thực hiện từ rất sớm.
Xây dựng hệ thống đường giao thông, nhất là các tuyến đường cao tốc đã và
đang được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới như: Đài Loan, Trung Quốc, Úc
Tại Đài Loan tuyến đường cao tốc chạy dọc theo hướng Bắc Nam, nối thủ đô với tất
11
cả các thành phố. Dưới hệ thống đường cao tốc là hệ thống các công trình an ninh
quốc phòng. Đây là mô hình cho việc xây dựng các đô thị cũng như các khu dân cư
tập trung cũng như việc quản lý và bảo vệ môi trường.
Tại Úc, hệ thống đường giao thông, nhất là đường cao tốc rất phát triển, các
nhà quản lý rất quan tâm đến việc quy hoạch phát triển KTXH dọc theo các tuyến
đường mới mở. Đánh giá tác động môi trường được đặc biệt quan tâm cả trước và
sau khi xây dựng tuyến đường. Trong đánh giá tác động môi trường, Chính phủ Úc
quan tâm đến đánh giá chiến lược môi trường của toàn bộ tuyến đường, đánh giá
môi trường xã hội trong quá trình thiết kế, thi công, xây dựng và quy hoạch môi
trường, nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường tuyến đường. Điều được đặc
biệt chú ý khi xây dựng các con đường là quy hoạch môi trường các điểm dân cư
mới, các khu công nghiệp, dịch vụ trên hành lang tuyến đường.
Barrass, A.N. (1985) [36] cho rằng, việc xây dựng đường trong các khu
rừng Quốc gia và ở các khu vực đất công cộng khác đều đe dọa đến sự tồn tại của
các loài động vật hoang dã vốn sống dựa vào rừng. Quá trình vận hành đường sẽ
phát sinh những mối đe dọa đến ĐDSH, hệ sinh thái, phân mảng và phá hủy môi
trường sống, sự xâm nhập các loài lạ, ô nhiễm, sự săn bắt quá mức do hành lang
tiếp cận dễ dàng.
Richard T. T. Forman and Lauren E. Alexander, 1998 [38] đã có nghiên cứu
về “Đường và các tác động chủ yếu của chúng đối với sinh thái” (Road and Their
Major Ecological Effects), đã nghiên cứu đánh giá một số tác động chủ yếu của
đường đối với sinh thái dọc hai bên tuyến đường đi qua. Nhìn chung, các nghiên
cứu được tiến hành chủ yếu ở vùng ôn đới. Các vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm,
mưa nhiều, có nhiều kiểu hệ sinh thái chưa được nghiên cứu cụ thể.
Một số các tác động chính đã đƣợc nghiên cứu nhƣ sau:
khó khăn khi băng qua đường giao thông có nền đất dốc.[15]
- Ô nhiễm môi trƣờng
Ô nhiễm môi trường gây ra do hoạt động của đường giao thông chủ yếu là do
khí thải và tiếng ồn. Động vật phản ứng đối với tiếng ồn bởi sự thay đổi thói quen
hoạt động và làm gia tăng nhịp tim cũng như sản sinh ra nhiều hóc môn stress. Đôi
13
khi động vật tập làm quen với việc gia tăng tiếng ồn và hình như tự phục hồi lại các
hoạt động bình thường. Tuy nhiên, chim và các loài động vật khác thông tin với
nhau bằng tín hiệu âm thanh có thể gặp nhiều khó khăn khi sống gần đường giao
thông. Tiếng ồn đường giao thông có thể phá vỡ thiết lập lãnh thổ và khu vực cư
trú. Một nghiên cứu được tiến hành bởi Andrew Barrass chỉ ra rằng loài cóc và nhái
có biểu hiện tái sinh sản một cách bất bình thường trong việc đáp ứng với tiếng ồn
xung quanh đường giao thông.
Nellemann và Cameron (1998) đã nghiên cứu phạm vi ảnh hưởng của đường
giao thông đến loài thú Tuần lộc (Rangifer tarandus) là trong khoảng cách 5000 m.
Các nghiên cứu của Forman 1995, với sự hợp tác của các nhà quản lý giao
thông và nhà sinh học đã lập quỹ nghiên cứu để nghiên cứu vấn đề của hệ sinh thái
theo các tuyến đường giao thông [38]. Năm 2003, ông cùng với nhiều tác giả khác
đã công bố các kết quả nghiên cứu. Từ các kết quả nghiên cứu ông đã tổng hợp
được phạm vi và ảnh hưởng của xây dựng và vận hành đường giao thông đến sinh
thái dọc hai bên hành lang đường.
Các nghiên cứu cho thấy:
- Vi khí hậu thay đổi trong phạm vi 100 m so với đường.
- Thực vật bị phá hủy do muối phát sinh từ đường trong phạm vi 200m (ảnh
hưởng của vật liệu và các hợp chất hóa học).
- Môi trường sống tại sông suối, quần thể cá bị ảnh hưởng trong phạm vi lớn
hơn 1000 m.
- Phá vỡ hành lang di chuyển của động vật hoang dã lớn hơn 1000 m (các
ảnh hưởng đến sinh thái cảnh quan) v.v.
nay, chỉ có một số ít nghiên cứu và đánh giá tác động của dự án xây dựng đường
HCM đối với môi trường và một số hệ sinh thái.
Tháng 7- năm 2000, Viện Khoa học, công nghệ GTVT đã có báo cáo đánh
giá tác động môi trường (giai đoạn 1). Nghiên cứu đã đưa ra những đánh giá ban
đầu đối với môi trường của dự án đường HCM [35].
15
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2000) có Dự án “Trồng cây và
trồng rừng ven đường HCM” [5]. Đây là dự án phục hồi rừng ven đường HCM, để
nâng cao độ che phủ rừng, bảo vệ môi trường vùng có tuyến đường HCM đi qua.
Dự án đã đề xuất kế hoạch trồng rừng 3.191,3 ha, khoanh nuôi phục hồi rừng
1.557,6 ha, trồng bổ sung 206,1 ha, trồng cây bóng mát, cảnh quan 843 ha. Diện
tích thực hiện của dự án chủ yếu thuộc rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.
Tháng 8/2001, Ban quản lý Dự án đường HCM đã có nghiên cứu Đánh giá
tác động môi trường - Đoạn tuyến đi qua Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh –Kon
Tum (Giai đoạn thiết kế, xây dựng) và Đánh giá tác động môi trường đoạn tuyến đi
qua Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha - Quảng Bình (Giai đoạn thiết kế, xây
dựng) [27]. Đánh giá chủ yếu tập trung vào môi trường vật lý như khí thải, khói bụi,
các chất phát thải, tiếng ốn, còn đối với ĐDSH chủ yếu mới đưa ra các cảnh báo
do suy giảm về môi trường trong quá trình xây dựng tuyến đường.
Năm 2001, Nguyễn Xuân Đào và cộng sự, Viện Khoa học công nghệ Thủy
lợi đã có nghiên cứu, đánh giá tác động môi trường Dự án đường HCM (giai đoạn
thiết kế, xây dựng) [14]. Nghiên cứu này tập trung đánh giá cho giai đoạn thiết kế,
xây dựng tuyến đường, chủ yếu trên các khía cạnh sau:
- Tác động tới môi trường vật lý: Môi trường đất và xói lở, chất lượng
không khí, môi trường nước.
- Tác động đến môi trường sinh vật và hệ sinh thái: Các hệ sinh thái ở cạn,
dưới nước, hệ động thực vật hoang dã, động vật quý hiếm, tiếng ồn rung,
xử lý chất thải.
- Môi trường xã hội và nhân văn: Giao thông vận tải, đời sống cộng đồng
sinh học trong khu vực có tính ĐDSH cao như VQG Cúc Phương cũng chưa đề cập
chi tiết.
Nhìn chung việc xây dựng các tuyến đường giao thông đã có ảnh hưởng đến
việc bảo vệ ĐDSH ở nhiều mức độ khác nhau đối với tất cả các nước trên thế giới.
Đối với các nước phát triển việc nghiên cứu được tiến hành trong thời gian dài và
có thu được nhiều kết quả cụ thể để có sự cảnh báo đối việc xây dựng đường.
17
- Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các tuyến đường tới sinh thái được tiến
hành tương đối sớm ở nhiều nước trên thế giới, nhất là tại các nước châu Âu và
châu Mỹ.
- Các nghiên cứu tương đối cụ thể, tập trung vào các loài động, thực vật, cá
nhất là tại các khu bảo tồn. Trên cơ sở kết quả các nghiên cứu một số giải pháp
nhằm giảm bớt ảnh hưởng của các tuyến đường cũng đã được đề xuất thực hiện.
- Các nghiên cứu ở trong nước chưa nhiều, các dự án chỉ dừng lại ở mức
đánh giá tác động môi trường trước và sau khi thực hiện, chỉ đưa ra các cảnh báo.
- Những nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của tuyến đường HCM đến ĐDSH
còn rất hạn chế, chủ yếu mang tính cảnh báo chung mà chưa có các nghiên cứu
đánh giá đầy đủ và chi tiết.
nguyên rừng trong thời gian gần đây diễn ra khá phức tạp và ngày càng trở nên
nghiêm trọng như các hoạt động phá rừng làm nương, khai thác gỗ, lâm sản ngoài
gỗ và săn bắt động vật hoang dã. Đặc biệt xã Đăk Man là xã có vị trí nằm trên trục
đường HCM là một trong những điểm phức tạp trong công tác bảo vệ tài nguyên
rừng và ĐDSH của KBTTN.
Vì vậy trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tiến hành lựa chọn một số
tuyến trên cơ sở dễ dàng tiếp cận từ trục đường HCM để tiến hành khảo sát các hoạt
động xâm hại tài nguyên rừng của KBTTN. Trên các tuyến, khi phát hiện thấy dấu