ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN THỊ HOÀI THƢ ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG SINH HỌC MỘT SỐ GIỐNG
CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI TRUYỀN THỐNG, ĐẶC SẢN CỦA
HUYỆN TỪ LIÊM VÀ ỨNG HÒA, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN THỊ HOÀI THƢ
1.2.3. Hệ sinh thái Nông nghiệp huyện Từ Liêm và huyện Ứng Hòa. 24
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 25
2.1.1. Huyện Từ Liêm 25
2.1.2. Huyện Ứng Hòa 27
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 30
2.2.1. Phƣơng pháp kế thừa 30
2.2.2. Phƣơng pháp tổng hợp 30
2.2.3. Phƣơng pháp điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực địa 30
2.2.4. Phƣơng pháp quan sát phỏng vấn tại chỗ 31
2.2.5. Phƣơng pháp đánh giá nhanh nông thôn - PRA 31
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 32
3.1. Sơ lƣợc đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Từ Liêm và Ứng Hoà 32
3.1.1. Huyện Từ Liêm 32
3.1.2. Huyện Ứng Hòa 45
3.2. Điều tra về thành phần các loài vật nuôi, cây trồng tại huyện Từ Liêm và Ứng Hoà,
Hà Nội 47
3.2.1. Huyện Từ Liêm 47
3.2.2. Huyện Ứng Hòa 52
3.3. Các giống cây trồng, vật nuôi truyền thống, đặc sản của huyện Từ Liêm và Ứng
Hòa, Hà Nội 57
3.3.1. Giống cây trồng, vật nuôi truyền thống, đặc sản của huyện Từ Liêm 57
3.3.2. Giống cây trồng, vật nuôi truyền thống, đặc sản của huyện Ứng Hòa 64
3.4. Đề xuất các biện pháp bảo vệ và phát triển các giống cây, con truyền thống, đặc
sản của Hà Nội. 66
3.4.1.Giải pháp về quy hoạch sản xuất 66
3.4.2. Giải pháp về thị trƣờng 68
3.4.3. Giải pháp về xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng 71
3.4.4. Giải pháp về khoa học- công nghệ và khuyến nông 73
3.4.5. Giải pháp về vốn đầu tƣ cho chuyển dịch cơ cấu 75
Danh sách các loài cây rau ở huyện Ứng Hòa
Bảng 10
Danh sách các loài cây gia vị ở huyện Ứng Hòa
Bảng 11
Danh sách các loài cây ăn quả, củ ở huyện Ứng Hòa
Bảng 12
Danh sách các loài hoa được trồng ở huyện Ứng Hòa
Bảng 13
Danh sách một số cây trồng có ích khác ở huyện Ứng Hòa
Bảng 14
Các loài/giống vật nuôi đang có mặt ở huyện Ứng Hòa
Bảng 15
Số hộ, diện tích, năng suất, sản lượng bưởi Diễn toàn xã Phú Diễn
Bảng 16
Một số chỉ tiêu kết quả và hiệu quả trồng bưởi Diễn của hộ nông dân
xã Phú Diễn DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐDSH
Đa dạng sinh học
HST
Hệ sinh thái
ĐNN
Đất ngập nước
PTBV
Phát triển bền vững
các hệ sinh thái nông nghiệp.
Cũng nhƣ các hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái nông
nghiệp cũng bao gồm đa dạng loài. Trong hệ sinh thái nông nghiệp, con ngƣời chủ động
đƣa vào sản xuất một số loài cây trồng và vật nuôi đã đƣợc thuần hoá. Do đó hệ sinh thái
nông nghiệp thƣờng kém đa dạng sinh học hơn rất nhiều so với các hệ sinh thái tự nhiên.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể nâng cao tính đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái
“nhân tạo” này.
Một trong những chiến lƣợc của phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay là bảo
vệ, duy trì và nâng cao tính đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái nông nghiệp.
Từ Liêm và Ứng Hòa là hai huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội, nông
nghiệp mặc dù chiếm tỷ lệ khiêm tốn trong cơ cấu kinh tế, nhƣng đƣợc xác định là ngành
có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Vai trò quan trọng của nông nghiệp ở hai huyện này không chỉ đƣợc thể hiện ở chỗ đáp
ứng khối lƣợng đáng kể nhu cầu về lƣơng thực, thực phẩm cho ngƣời dân, mà còn có ý
nghĩa to lớn trong việc mang lại những giá trị tinh thần độc đáo, làm giàu cho nét đẹp
truyền thống văn hoá của cƣ dân nơi đây.
Xuất phát từ tình hình thực tế và những đòi hỏi bức thiết nêu trên, tôi đã lựa chọn
đề tài nghiên cứu: "Điều tra đánh giá về đa dạng sinh học một số giống cây trồng, vật
nuôi truyền thống, đặc sản của huyện Từ Liêm và Ứng Hòa, thành phố Hà Nội" làm luận
văn tốt nghiệp với mục tiêu:
- Bƣớc đầu xây dựng đƣợc hệ thống đa dạng sinh học các cây trồng, vật nuôi của
huyện Từ Liêm và huyện Ứng Hòa.
- Phân tích giá trị kinh tế và giá trị văn hóa xã hội của một số giống cây trồng, vật
nuôi truyền thống, đặc sản của huyện Từ Liêm và Ứng Hòa.
- Đề xuất một số giải pháp kinh tế chủ yếu để bảo tồn và phát triển một số giống
cây trồng vật nuôi nói riêng và kinh tế nông nghiệp huyện Từ Liêm và Ứng Hòa nói
chung theo hƣớng nông nghiệp sinh thái.
loài khác nhau. Đa dạng di truyền là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể trong
cùng một loài và giữa các loài khác nhau; là sự đa dạng về gen có thể di truyền đƣợc
trong một quần thể hoặc giữa các quần thể.
Đa dạng di truyền là biểu hiện sự đa dạng của các biến dị có thể di truyền trong
một loài, một quần xã hoặc giữa các loài, các quần xã. Xét cho cùng, đa dạng di truyền
chính là sự biến dị của sự tổ hợp trình tự của bốn cặp bazơ cơ bản, thành phần của axit
nucleic, tạo thành mã di truyền.
Một biến dị gen xuất hiện ở một cá thể do đột biến gen hoặc nhiễm sắc thể, ở các
sinh vật sinh sản hữu tính có thể đƣợc nhân rộng trong quần thể nhờ tái tổ hợp. Ngƣời ta
ƣớc tính rằng, số lƣợng các tổ hợp có thể giữa các dạng khác nhau của các trình tự gen ở
ngƣời cũng nhƣ ở ruồi giấm đều lớn hơn số lƣợng các nguyên tử trong vũ trụ. Các dạng
khác của đa dạng di truyền có thể đƣợc xác định tại mọi cấp độ tổ chức, bao gồm cả số
lƣợng ADN trong mỗi tế bào, cũng nhƣ số lƣợng và cấu trúc nhiễm sắc thể.
Tập hợp các biến dị gen trong một quần thể giao phối cùng loài có đƣợc nhờ chọn
lọc. Mức độ sống sót của các biến dị khác nhau dẫn đến tần suất khác nhau của các gen
trong tập hợp gen. Điều này cũng tƣơng tự trong tiến hoá của quần thể. Nhƣ vậy, tầm
quan trọng của biến dị gen là rất rõ ràng: nó tạo ra sự thay đổi tiến hoá tự nhiên cũng nhƣ
chọn lọc nhân tạo.
Chỉ một phần nhỏ (thƣờng nhỏ hơn 1%) vật chất di truyền của các sinh vật bậc cao
là đƣợc biểu hiện ra ngoài thành các tính trạng kiểu hình hoặc chức năng của sinh vật; vai
trò của những ADN còn lại và tầm quan trọng của các biến di gen của nó vẫn chƣa đƣợc
làm rõ.
Ƣớc tính cứ 109 gen khác nhau phân bố trên sinh giới thì có 1 gen không có đóng
góp đối với toàn bộ đa dạng di truyền. Đặc biệt, những gen kiểm soát quá trình sinh hóa
cơ bản, đƣợc duy trì bền vững ở các đơn vị phân loại khác nhau và thƣờng ít có biến dị,
mặc dù những biến dị này nếu có sẽ ảnh hƣởng nhiều đến tính đa dạng của sinh vật. Đối
với các gen duy trì sự tồn tại của các gen khác cũng tƣơng tự nhƣ vậy. Hơn nữa, một số
lớn các biến dị phân tử trong hệ thống miễn dịch của động vật có vú đƣợc quy định bởi
một số lƣợng nhỏ các gen di truyền.
Đa dạng loài
và vùng, và cũng thƣờng chỉ xem xét đối với thảm thực vật. Một hệ sinh thái khác nhiều
so với một loài hay một gen ở chỗ chúng còn bao gồm cả các thành phần vô sinh, chẳng
hạn đá mẹ và khí hậu .
Đa dạng hệ sinh thái thƣờng đƣợc đánh giá qua tính đa dạng các loài thành viên.
Nó có thể bao gồm việc đánh giá độ phong phú tƣơng đối của các loài khác nhau cũng
nhƣ các kiểu dạng của loài . Trong trƣờng hợp thứ nhất, các loài khác nhau càng phong
phú, thì nói chung vùng hoặc nơi cƣ trú càng đa dạng. Trong trƣờng hợp thứ hai, ngƣời ta
quan tâm tới số lƣợng loài trong các lớp kích thƣớc khác nhau, tại các dải dinh dƣỡng
khác nhau, hoặc trong các nhóm phân loại khác nhau . Do đó một hệ sinh thái giả thiết
chỉ có một vài loài thực vật sẽ kém đa dạng hơn vùng có cùng số lƣợng loài nhƣng bao
gồm cả động vật ăn cỏ và động vật ăn thịt. Do tầm quan trọng của các yếu tố này khác
nhau khi đánh giá tính đa dạng của các khu vực khác nhau, nên không có một chỉ số có
căn cứ chính xác cho việc đánh giá tính đa dạng. Điều này rõ ràng có ý nghĩa quan trọng
đối với việc xếp hạng các khu vực khác nhau.
1.1.2. Đa dạng sinh học ở Việt Nam
Việt Nam là một nƣớc nhiệt đới gió mùa. Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đa dạng về
địa hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trƣng khí hậu khác nhau giữa các miền. Đặc điểm
đó là cơ sở rất thuận lợi để giới sinh vật phát triển đa dạng về thành phần loài, phong phú
về số lƣợng. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội, mức độ đa dạng sinh
học ở Việt Nam có nhiều thay đổi theo thời gian.
Theo Công ƣớc đa dạng sinh học 1992: Đa dạng sinh học (ĐDSH) là sự phong
phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, dƣới nƣớc,
ở biển và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài
(đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh
thái (đa dạng các hệ sinh thái).
- Đa dạng di truyền là sự phong phú những biến dị trong cấu trúc di truyền của các
cá thể bên trong loài hoặc giữa các loài; những biến dị di truyền bên trong hoặc giữa các
quần thể.
- Đa dạng loài là sự phong phú về các loài đƣợc tìm thấy trong các hệ sinh thái tại
một vùng lãnh thổ xác định thông qua việc điều tra, kiểm kê.
- Đầm lầy than bùn: đầm lầy than bùn là đặc trƣng cho vùng Đông Nam Á. U
Minh thƣợng và U Minh hạ thuộc các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau là hai vùng đầm lầy than
bùn tiêu biểu còn sót lại ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.
- Đầm phá: thƣờng thấy ở vùng ven biển Trung bộ Việt Nam. Do đặc tính pha trộn
giữa khối nƣớc ngọt và nƣớc mặn nên khu hệ thủy sinh vật đầm phá rất phong phú bao
gồm các loài nƣớc ngọt, nƣớc lợ và nƣớc mặn. Cấu trúc quần xã sinh vật đầm phá thay
đổi theo mùa rõ rệt.
- Rạn san hô, cỏ biển: đây là các kiểu hệ sinh thái đặc trƣng cho vùng biển ven bờ,
đặc biệt rạn san hô đặc trƣng cho vùng biển nhiệt đới. Quần xă rạn san hô rất phong phú
bao gồm các nhóm động vật đáy (thân mềm, giáp xác), cá rạn. Thảm cỏ biển thƣờng là
nơi cƣ trú của nhiều loại rùa biển và đặc biệt loài thú biển Dugon.
- Vùng biển quanh các đảo ven bờ: ven bờ biển Việt Nam có hệ thống các đảo rất
phong phú. Vùng nƣớc ven bờ của hầu hết các đảo lớn đƣợc đánh giá có mức độ ĐDSH
rất cao với các hệ sinh thái đặc thù nhƣ rạn san hô, cỏ biển
Việt Nam có 2 vùng ĐNN quan trọng là ĐNN vùng cửa sông đồng bằng sông
Hồng và ĐNN đồng bằng sông Cửu Long:
- ĐNN ở vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng có diện tích 229.762 ha. Đây là nơi
tập trung các hệ sinh thái với thành phần các loài thực vật, động vật vùng rừng ngập mặn
phong phú, đặc biệt là nơi cƣ trú của nhiều loài chim nƣớc.
- ĐNN đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nƣớc 4.939.684 ha. Đây là
bãi đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di cƣ từ phía thƣợng nguồn sông Mê Công.
Những khu rừng ngập nƣớc và đồng bằng ngập lũ cũng là những vùng có tiềm năng sản
xuất cao. Có 3 hệ sinh thái tự nhiên chính ở đồng bằng sông Cửu Long, đó là hệ sinh thái
ngập mặn ven biển; hệ sinh thái rừng tràm ở vùng ngập nƣớc nội địa và hệ sinh thái cửa
sông.
Mỗi kiểu hệ sinh thái ĐNN đều có khu hệ sinh vật đặc trƣng của mình. Tuy nhiên,
đặc tính khu hệ sinh vật của các hệ sinh thái này còn phụ thuộc vào từng vùng cảnh quan
và vùng địa lý tự nhiên.
Hệ sinh thái biển
Việt Nam có đƣờng bờ biển dài 3.260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1
phần loài thực vật, động vật ở Việt Nam đƣợc thống kê thì nhóm sinh vật vi tảo ở vùng
nƣớc ngọt đƣợc xác định là 1.438 loài chiếm 9,6% so với thế giới (số loài có trên thế giới
là 15.000); thực vật bậc cao có khoảng 11.400 loài chiếm 5% so với thế giới (số loài có
trên thế giới là 220.000); bò sát có 296 loài chiếm 4,7% so với thế giới (số loài có trên thế
giới là 6.300)
Theo các tài liệu thống kê, Việt Nam là một trong 25 nƣớc có mức độ ĐDSH cao
trên thế giới với dự tính có thể có tới 20.000 - 30.000 loài thực vật. Việt Nam đƣợc xếp
thứ 16 về mức độ ĐDSH (chiếm 6,5% số loài có trên thế giới).
Đa dạng loài trong hệ sinh thái trên cạn
Khu hệ thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, đã ghi nhận có
15.986 loài thực vật ở ViệtNam. Trong đó, có 4.528 loài thực vật bậc thấp và 11.458 loài
thực vật bậc cao. Trong số đó có 10 % số loài thực vật là đặc hữu.
Khu hệ động vật: cho đến nay đã thống kê đƣợc 307 loài giun tròn, 161 loài giun
sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 113 loài bọ nhảy, 7.750 loài côn trùng, 260 loài
bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim, 310 loài và phân loài thú.
Trong hệ thống các khu bảo vệ vùng Đông Dƣơng - Mã Lai của IUCN, Việt Nam
đƣợc xem là nơi giàu về thành phần loài và có mức độ đặc hữu cao so với các nƣớc trong
vùng phụ Đông Dƣơng. Động vật giới Việt Nam có nhiều dạng đặc hữu: hơn 100 loài và
phân loài chim, 78 loài và phân loài thú đặc hữu. Riêng trong số 25 loài thú linh trƣởng
đã đƣợc ghi nhận thì ở Việt Nam có tới 16 loài, trong đó có 4 loài và phân loài đặc hữu
của Việt Nam, 3 phân loài chỉ phân bố ở Việt Nam và Lào, 2 phân loài chỉ có ở vùng
rừng hai nƣớc Việt Nam - Campuchia.
Đa dạng loài trong hệ sinh thái đất ngập nước nội địa
Các thủy vực nƣớc ngọt nội địa Việt Nam rất đa dạng về hệ thực vật cũng nhƣ hệ
động vật, bao gồm các nhóm vi tảo, rong, các loài cây cỏ ngập nƣớc và bán ngập nƣớc,
động vật không xƣơng sống và cá.
- Vi tảo: đã xác định đƣợc có 1.438 loài tảo thuộc 259 chi và 9 ngành;
- Cho đến nay đã thống kê và xác định đƣợc 794 loài động vật không xƣơng sống.
Trong đó, đáng lƣu ý là trong thành phần loài giáp xác nhỏ, có 54 loài và 8 giống lần đầu
tiên đƣợc mô tả ở Việt Nam. Riêng hai nhóm tôm, cua (giáp xác lớn) có 59 loài thì có tới
thƣợng (Kiên Giang). Các loài mới đƣợc phát hiện đă làm phong phú thêm cho sinh giới
của Việt Nam, trong khi một số loài khác, đặc biệt các loài có giá trị kinh tế đã biết lại có
xu hƣớng giảm số lƣợng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng.
Đặc trưng đa dạng loài ở Việt Nam
- Số lƣợng các loài sinh vật nhiều, sinh khối lớn. Tính ra bình quân trên 1 km
2
lãnh
thổ Việt Nam có 4,5 loài thực vật, gần 7 loài động vật, với mật độ hàng chục nghìn cá
thể. Đây là một trong những mật độ đậm đặc các loài sinh vật so với thế giới.
- Cấu trúc loài rất đa dạng. Do đặc điểm địa hình, do phân hóa các kiểu khí hậu,
cấu trúc các quần thể trong nội bộ loài thƣờng rất phức tạp. Có nhiều loài có hàng chục
dạng sống khác nhau.
- Khả năng thích nghi của loài cao. Thích nghi của các loài đƣợc thực hiện thông
qua các đặc điểm thích nghi của từng cá thể, thông qua chuyển đổi cấu trúc loài. Loài
sinh vật ở Việt Nam nói chung có đặc tính chống chịu cao đối với các thay đổi của các
yếu tố và điều kiện ngoại cảnh.
Đa dạng nguồn gen trong nông nghiệp
Theo đánh giá của Jucovski (1970), Việt Nam là một trong 12 trung tâm nguồn
gốc giống cây trồng của thế giới. Mức độ ĐDSH của hệ thực vật cây trồng ở
Việt Nam cao hơn nhiều so với dự đoán.
Nguồn gen giống cây trồng, vật nuôi
Ở Việt Nam, hiện nay đang sử dụng trong sản xuất nông nghiệp 16 nhóm các loài
cây trồng khác nhau nhƣ cây lƣơng thực chính, cây lƣơng thực bổ sung, cây ăn quả, cây
rau, cây gia vị, cây làm nƣớc uống, cây lấy sợi, cây thức ăn gia súc, cây bóng mát, cây
công nghiệp, cây lấy gỗ với tổng số trên 800 loài cây trồng với hàng nghìn giống khác
nhau. Có 3 nhóm cây trồng đang đƣợc nông dân sử dụng.
- Các giống cây trồng bản địa: Nhóm giống cây trồng này hiện nay đang chiếm vị
trí chủ đạo đối với nhiều loại cây trồng. Trong số nhóm giống cây trồng này có những
giống đã đƣợc nông dân sử dụng và lƣu truyền hàng nghìn năm nay.
- Các giống cây trồng mới: Là những giống cây có khả năng cho năng suất cao và
học và ứng dụng trong thực tiễn thuộc các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,
công nghiệp, y tế và các lĩnh vực khác, do dó rất cần thiết phải bảo tồn ĐDSH.
Mặc dù khi điều tra nghiên cứu ĐDSH thƣờng phải tiến hành đồng thời các nghiên
cứu, đánh giá tài nguyên sinh vật ở các HST tự nhiên và nhân tạo trong mối quan hệ với
các yếu tố tự nhiên và nhân tạo nhƣng các HST tự nhiên vẫn đƣợc quan tâm nhiều hơn,
đặc biệt khi xem xét đến mối quan hệ của chúng với ĐDSH. Do vậy để duy trì tính toàn
vẹn các HST, bảo tồn ĐDSH luôn đƣợc coi là nhiệm vụ hàng đầu.
ĐDSH là cơ sở của sự sống, sự thịnh vƣợng của loài ngƣời cũng nhƣ của trái đất
nói chung. Tuy nhiên, con ngƣời đã và đang khai thác nguồn tài nguyên này một cách
quá mức dẫn tới sự suy thoái các HST, làm cạn kiệt nguồn ĐDSH, thậm chí hủy diệt
nguồn tài nguyên quý giá đó để đáp ứng cho nhu cầu ngày càng tăng của mình. Bảo vệ
môi trƣờng, bảo tồn ĐDSH phục vụ cho cuộc sống là trách nhiệm của mọi ngƣời và đã
trở thành những vấn đề nóng bỏng trong xã hội, tác động trực tiếp đến từng cá nhân cũng
nhƣ toàn thể cộng đồng loài ngƣời trên khắp hành tinh. Những vấn đề về môi trƣờng, bảo
tồn ĐDSH vừa có tính Nhà nƣớc, vừa mang tính xã hội cao. Việc giải quyết những vấn
đề bảo vệ môi trƣờng, bảo tồn ĐDSH hiện nay cũng nhƣ mai sau phụ thuộc vào trình độ
nhận thức của ngƣời dân, những ngƣời hoạch định chính sách cũng nhƣ phụ thuộc vào
trình độ dân trí, thái độ và hành vi của mọi tầng lớp trong xã hội.
Giá trị sinh thái và môi trường
Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong đó có loài ngƣời.
Các hệ sinh thái đảm bảo sự chu chuyển của các chu trình địa hóa, thủy hóa (thủy vực):
ôxy và các nguyên tố cơ bản khác nhƣ cacbon, nitơ, photpho. Chúng duy trì sự ổn định và
màu mỡ của đất, nƣớc ở hầu hết các vùng trên trái đất, làm giảm nhẹ sự ô nhiễm, thiên
tai. Gần đây, khái niệm các dịch vụ của hệ sinh thái đƣợc đƣa ra trên cơ sở các thuộc tính,
chức năng của chúng đƣợc con ngƣời sử dụng.
Bảo vệ tài nguyên đất và nước
Các quần xã sinh vật đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ rừng đầu
nguồn, đặc biệt thảm thực vật có thể làm giảm nhẹ mức độ hạn hán, lũ lụt cũng nhƣ duy
trì chất lƣợng nƣớc. Việc hủy hoại thảm rừng do khai thác gỗ, do khai hoang làm nông
nghiệp, ngƣ nghiệp cũng nhƣ các hoạt động khác của con ngƣời trong quá trình phát triển
phẩm hƣơng liệu khoảng 20.000 tấn/năm. Hàng trăm doanh nghiệp xuất khẩu thuốc
khoảng 10.000 tấn/năm trị giá khoảng 15-20 triệu USD.
Giá trị kinh tế của ĐDSH có thể nêu khái quát về các mặt sau đây:
- Giá trị đƣợc tính ra tiền do việc khai thác, sử dụng mua bán hợp lý các tài
nguyên ĐDSH.
- ĐDSH đảm bảo cơ sở cho an ninh lƣơng thực và phát triển bền vững của đất
nƣớc, đảm bảo các nhu cầu về ăn, mặc của nhân dân, góp phần xóa đói giảm
nghèo.
- ĐDSH cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản: mía đƣờng,
bông vải, cây lấy dầu, cây lấy sợi, thuốc lá, cói, hạt điều
- ĐDSH góp phần nâng cao độ phì nhiêu của đất, qua đó làm tăng giá trị nông
sản.
Giá trị xã hội và nhân văn
Trong các nền văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới, một số loài động vật hoang
dã đƣợc coi là biểu tƣợng trong tín ngƣỡng, thần thoại hoặc các tác phẩm hội họa, điêu
khắc. Sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên sinh vật đã hình
thành các lễ hội của một số bộ tộc ít ngƣời nhƣ lễ hội săn bắn theo mùa, hoặc hình thành
sự quản lý tài nguyên theo tính chất cộng đồng nhƣ vai trò của già làng, trƣởng bản trong
việc phân định phạm vi, mức độ khai thác, sử dụng tài nguyên đất và rừng.
Cuộc sống văn hóa của con ngƣời Việt Nam rất gần gũi thiên nhiên, các loài động,
thực vật nuôi trồng hay hoang dã và các sản phẩm của chúng đã quen thuộc với mọi
ngƣời dân, đặc biệt ngƣời dân sống ở vùng nông thôn và miền núi, nhƣ lễ hội chọi trâu ở
Đồ Sơn (Hải Phòng), lễ hội đua thuyền Nhiều loài cây, con vật đã trở thành thiêng liêng
hoặc vật thờ cúng đối với các cộng đồng ngƣời Việt nhƣ: gốc đa thiêng, đền thờ cá Ông ở
các tỉnh miền Nam Trung bộ. Các khu rừng thiêng, rừng ma là những nét văn hóa độc
đáo của nhiều dân tộc miền núi. Nghề nhuộm chàm, dệt thổ cẩm, làm hƣơng, làm hàng
mỹ nghệ từ gỗ, tre nứa hay song mây là những sự gắn bó của đời sống văn hóa con
ngƣời.
1.1.4. Bảo tồn Đa dạng sinh học
Đa dạng loài là cơ sở của ĐDSH. Hiện nay, ĐDSH trên thế giới đang suy giảm
ĐDSH.
1.1.5. Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bao gồm phát triển kinh tế, phát triển không gian, phát triển xã hội chính
trị, phát triển văn hóa Mỗi khía cạnh phát triển đều có xuất phát điểm và xu hƣớng
riêng. Tuy nhiên, ngay từ những năm 1960, khái niệm "tăng trƣởng" đã trở thành từ chủ
yếu dùng để định nghĩa một lý thuyết tổng quát về phát triển, trong đó khái niệm phát
triển trƣớc hết phụ thuộc vào yếu tố kinh tế của nó và tầm vóc phổ quát của kinh tế đƣợc
quy rút về sự tăng trƣởng [7]. Đây là sự phát triển không bền vững vì nó chủ yếu dựa vào
sự tăng trƣởng kinh tế, do đó càng phát triển, các giá trị sinh thái phi thị trƣờng càng bị
mất đi và các cộng đồng địa phƣơng đói nghèo và ít học sống chủ yếu vào giá trị phi thị
trƣờng của HST càng bị mất dần trong phát triển.
Định nghĩa về PTBV đƣợc Hội đồng Môi trƣờng và PTBV thế giới đƣa ra năm
1987 là: "Những thế hệ hiện tại cần đáp ứng nhu cầu của mình, sao cho không làm hại
đến khả năng của các thế hệ tƣơng lai đáp ứng nhu cầu của họ". PTBV là kết quả của các
tƣơng tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của 3 hệ thống chủ yếu của thế giới: hệ thống tự
nhiên (bao gồm các HST và các tài nguyên thiên nhiên, các thành phần môi trƣờng của
trái đất); hệ thống kinh tế (hệ thống sản xuất và phân phối sản phẩm); hệ thống xã hội
(quan hệ của con ngƣời trong xã hội và trong tự nhiên)[7].
Theo Viện nghiên cứu quản lý kinh tế, PTBV đƣợc hiểu là sự phát triển kinh tế xã
hội để đạt đƣợc đồng thời các mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội và mục tiêu sinh thái
(đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo tồn các HST tự nhiên nuôi dƣỡng con ngƣời. Ngoài
những quan điểm PTBV trên còn có nhiều mô PTBV khác, các mô hình đó có thể khác
nhau về phƣơng pháp tiếp cận nhƣng thống nhất các quan niệm chung về PTBV, trong đó
PTBV là một quá trình gồm:
- Sự phối hợp chặt chẽ chính sách kinh tế - xã hội và môi trƣờng, trong đó sự hiểu
biết các hệ thống xã hội, kinh tế, sinh thái và mối liên quan phức tạp giữa các hệ thống đó
đƣợc nâng cao.
- Đảm bảo phúc lợi xã hội không bị suy giảm.
Để thực hiện PTBV cần:
- Sử dụng những tài nguyên tái tạo ở mức độ ít hơn hoặc bằng mức độ tái tạo.
khối của cây trồng vật nuôi đƣợc lấy ra khỏi HST, do đó khác với các HST tự nhiên,
HSTNN có chu trình vật chất không kép kín, chịu sự tác động rất lớn của con ngƣời.
HSTNN có các HST phụ nhƣ: đồng ruộng cây hàng năm; vƣờn cây lâu năm hay
rừng nông nghiệp; đồng cỏ chăn nuôi; ao cá; khu vực dân cƣ Trong các HST phụ này,
HST đồng ruộng chiếm phần lớn nhất và quan trọng nhất của HSTNN.
Bản chất HSTNN là hệ thống sống, bao gồm các thành phần cây trồng vật nuôi có
quan hệ tƣơng tác nhân quả với nhau. Bất kỳ sự thay đổi nào từ thành phần của hệ sinh
thái điều có ảnh hƣởng đến các thành phần khác. Ví dụ nhƣ thay đổi loài cây trồng sẽ
dẫn tới thay đổi các sinh vật ký sinh, thay đổi đất canh tác… và cuối cùng ảnh hƣởng tác
động ngƣợc lại cây trồng. Chính vì vậy khi nguyên cứu các HSTNN cần dựa trên nguyên
lý hoạt động của hệ thống.
Mức độ đa dạng sinh học trong các HSTNN phụ thuộc vào bốn đặc điểm chính
của hệ sinh thái nông nghiệp nhƣ sau:
- Tính đa dạng thực vật trong và xung quanh các HSTNN.
- Tính ổn định của các loại cây trồng khác trong HSTNN.
- Mức độ quản lý
- Mức độ cách ly của HSTNN đối với các loài thực vật hoang dã.
Các HSTNN có xu hƣớng ổn định khi có tính đa dạng sinh học cao, càng biệt lập
và áp dụng các mô hình nông lâm kết hợp, các hình thức canh tác truyền thống sẽ càng
có lợi thế do dựa vào các quá trình sinh thái phù hợp với tính đa dạng sinh học cao hơn so
với các hệ sinh thái đơn giản, phụ thuộc vào các năng lƣợng hóa thạch. HST đơn giản sẽ
rất dễ nhiễu loạn.
1.2.2. Những nét chung về HSTNN thành phố Hà Nội.
Hệ sinh thái nông nghiệp đƣợc xác định là các diện tích đất đai đƣợc nông dân
trồng các cây lƣơng thực, thực phẩm, là nơi nuôi các gia súc, gia cầm và thủy sản Cây
lƣơng thực đƣợc trồng chính là cây lúa, ngô, khoai, sắn cây thực phẩm gồm đậu, đỗ, lạc
và các loại rau. Ruộng trồng lúa đại bộ phận là lúa nƣớc. Do hệ thống thủy lợi ở Hà Nội
khá hoàn chỉnh nên ruộng lúa ở đây là lúa nƣớc[8]. Hệ sinh thái đồng ruộng Hà Nội
chính là hệ sinh thái nông nghiệp hiểu theo định nghĩa chung.
Hệ sinh thái đồng ruộng phân bố ở khắp Hà Nội, liên quan chặt chẽ với hệ sinh