LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động đầu tư là một quá trình diễn ra trong thời kỳ dài, quy mô vốn đầu
tư lớn và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của
hoạt động đầu tư thường cao. Trong bất kì hình thức đầu tư nào cũng luôn luôn tồn
tại sự đánh đổi rủi ro hoặc lợi nhuận. Điều này có nghĩa là sự mạo hiểm càng lớn,
bạn sẵn sàng chấp nhận rủi ro càng cao thì khoản lợi nhuận tiềm năng cũng sẽ cao
hơn nhiều. Đó đơn giản chỉ là phần thưởng xứng đáng cho những người dám đặt
nguồn vốn của mình vào những kết quả không biết trước. Rủi ro đầu tư do nhiều
nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư quản lý
kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu...có nguyên nhân khách quan như giá
nguyên liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt công suất
thiết kế. Như vậy, để quản lý hoạt động đầu tư hiệu quả, cần phải thực hiện các
biện pháp quản lý rủi ro.
Trong quản lý dự án đầu tư, sự thành công của các dự án phụ thuộc vào khả
năng dự đoán các sự kiện có thể xảy ra. Khi rủi ro là phần không thể dự đoán của
một dự án thì điều quan trọng là chúng ta phải kiểm soát nó càng nhiều càng tốt và
tạo ra khả năng dễ dự đoán nó. Quản lý rủi ro là dự kiến ngăn ngừa và đề xuất biện
pháp kiểm soát các rủi ro nhằm loại bỏ, giảm nhẹ, hoặc chuyển chúng sang một tác
nhân kinh tế khác, tạo điều kiện sử dụng tối ưu nguồn lực của doanh nghiệp. Vậy
làm thế nào để nhận diện , phân tích, định lượng và xử lý rủi ro là một vấn đề mà
tất cả các nhà đầu tư quan tâm nhưng chưa được nghiên cứu một cách chi tiết và cụ
thể. Chính vì tầm quan trọng của vấn đề trên nên tôi chọn đề tài “Quản trị rủi ro
đầu tư: phương pháp và nội dung”
Đề tài được chia làm ba phần chính:
Phần 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro trong đầu tư
Phần 2: Quản trị rủi ro đầu tư
Phần 3: Một số bài học rút ra từ việc nghiên cứu Quản trị rủi ro đầu tư
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO
TRONG ĐẦU TƯ
1. Các quan niệm về rủi ro
1.1. Khái niệm rủi ro
- Rủi ro khi ra quyết định (rủi ro cơ hội): rủi ro này xảy ra khi chúng ta lựa
chọn các phương án không tối ưu
- Rủi ro sau quyết định: là loại rủi ro thể hiện ở sự sai lệch giữa dự kiến và
thực tế.
2.2. Theo phạm vi
- Rủi ro theo ngành dọc (rủi ro cá biệt): là rủi ro ảnh hưởng đến từng khâu,
từng bộ phận riêng biệt trong hoạt động đầu tư.
- Rủi ro chung: là rủi ro ảnh hưởng đến tất cả các khâu, các bộ phận trong
hoạt động đầu tư
2.3. Theo tính chất tác động
- Rủi ro theo suy tính (rủi ro mang tính chất đầu cơ): là loại rủi ro phụ thuộc
vào mong muốn chủ quan của nhà đầu tư, nó xảy ra trong trường hợp nhà đầu tư
chủ động lựa chọn phương án cho dù biết rằng có thể có lợi hoặc bị thiệt hại.
- Rủi ro thuần túy: là rủi ro mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí
chủ quan của chủ đầu tư, rủi ro này thường chỉ mang lại những thiệt hại cho các
phương án đầu tư.
2.4. Theo bản chất
- Rủi ro tự nhiên
- Rủi ro về công nghệ và tổ chức
- Rủi ro về kinh tế - tài chính cấp vi mô và vĩ mô
- Rủi ro về chính trị - xã hội
- Rủi ro về thông tin khi ra quyết định đầu tư
2.5. Theo nơi phát sinh
- Rủi ro do bản thân dự án gây ra
- Rủi ro xảy ra bên ngoài (môi trường) và tác động xấu đến dự án
2.6. Theo mức độ khống chế rủi ro
- Rủi ro không thể khống chế được (bất khả kháng)
- Rủi ro có thể khống chế được
2.7. Theo giai đoạn đầu tư
- Rủi ro giai đoạn chuẩn bị đầu tư
phát triển quá nhanh)
+ Rủi ro pháp chế:
• Văn bản mới ảnh hưởng đến đầu vào và đầu ra của dự án
• Chưa rõ ràng các đạo luật
2. Rủi ro liên quan đến dự báo sử dụng nguồn lực
Nội dung dự báo của dự án bao gồm: Xác định các nguồn lực cần huy động,
khả năng thực tế của các nguồn lực đó.
- Xác định các nguồn lực ban gồm các vấn đề:
+ Sử dụng lao động
+Sử dụng trang thiết bị, bảo hộ lao động, ô nhiễm môi trường
+ Thiếu hiểu biết về các nguồn lực
+Sự không tương hợp giữa các nguồn lực được huy động
- Khả năng thực tế của các nguồn lực:
+ Công suất của máy móc thiết bị
+ Năng suất lao động của công nhân
3. Rủi ro ở pha triển khai dự án
- Phát triển muộn vấn đề
- Nhận thức sai vấn đề
- Đề xuất phương án xử lý không phù hợp
II. Một dự án đầu tư có thể gặp những rủi ro nào
1. Rủi ro chính trị:
Rủi ro này bao gồm bất ổn tài chính và bất ổn chính trị.
Ví dụ:
- Hạn chế chuyển tiền ra nước ngoài
- Sắc thuế mới gây thiệt hại cho nhà đầu tư
- Quốc hữu hóa
- Những cam kết ưu đãi trước đây đối với các nhà đầu tư bị xóa bỏ
Có thể liệt kê một số rủi ro chính trị chính sau đây:
- Rủi ro thuế: Sự thay đổi về thuế đã làm cho dòng tiền hằng năm của dự án
bị thay đổi từ đó NPV và IRR của các dự án bị thay đổi theo.
khoản nợ
5. Rủi ro về kĩ thuật và vận hành
Khi các tiện ích ( dây chuyền, thiết bị, hệ thống điều hành...) của dự án
không thể vận hành và bảo dưỡng ở mức độ phù hợp với thiết kế ban đầu
của dự án
6. Rủi ro về môi trường và xã hội
Môi trường: bao gồm những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả nhưng không bị chi
phối bởi người đưa ra quyết định
Rủi ro về những tác động tiêu cực của dự án đối với môi trường và người
dân xung quanh
7. Rủi ro kinh tế vĩ mô
Bao gồm: tỷ giá hối đoái, lạm phát, lại suất.
III. Quá trình quản lí rủi ro
Quản lý rủi ro đối với các dự án là một quá trình từ nhận diện, phân tích và
định lượng rủi ro, xử lý rủi ro và kiểm soát rủi ro.
1. Nhận diện rủi ro
Nhận diện rủi do là việc xác định các đe dọa hoặc các cơ hội có thể xảy ra
trong suốt thời gian hoạt động của dự án đi kèm với sự bất định của chúng. Thời
gian hoạt động của dự án là thời gian trong suốt chu kỳ dự án, không phải thời gian
hoạt động của đội quản lý dự án, thời gian này tính đến khi khách hàng chấp nhận
sản phẩm của dự án, thậm chí có dự án tính cả đến giai đoạn bảo hành. Các rủi ro