ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Thị Hường
ỨNG DỤNG NUÔI SINH KHỐI VI TẢO BIỂN
LÀM THỨC ĂN CHO ẤU TRÙNG TRAI NGỌC
TẠI VÂN ĐỒN, QUẢNG NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2012 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ Taq Taq (Thermus aquaticus) polymerases
EPA
Eicosapentaenoic acid
AA
Arachidonic acid
DHA
Docosahexaenoic acid
PUFA Polyunsaturated fatty acid
LA Linoleic acid
DNA Deoxyribonucleic acid
RNA Ribonucleic acid
PCR Polymerase chain reaction
MT F/2 Môi trường F/2
Omega3
(3)
Omega6
()
Hình 3.14. Thành phần acid béo của 6 loài vi tảo Chaetoceros calcitrans VĐ01, Chlorella
vulgaris VĐ02, Isochrysis galbana VĐ03, Nannochloropsis oculata VĐ04, Navicula sp.
VĐ05 và Tetraselmis chuii VĐ06 43
Hình 3.15. Sắc ký đồ thành phần acid béo của vi tảo Chaetoceros VĐ01 46
Hình 3.16. Sắc ký đồ thành phần acid béo của vi tảo Chlorella VĐ02 47
Hình 3.17. Sắc ký đồ thành phần acid béo của vi tảo Isochrysis VĐ03 47
Hình 3.18. Sắc ký đồ thành phần acid béo của vi tảo Nannochloropsis VĐ04 48
Hình 3.19. Sắc ký đồ thành phần acid béo của vi tảo Navicula VĐ05 48
Hình 3.20. Sắc ký đồ thành phần acid béo của vi tảo Tetraselmis VĐ06 49
Hình 3.21. Động thái sinh trưởng của 6 chủng vi tảo ở độ mặn khác nhau 52
Hình 3.22. Đường cong biến thiên F
v
/F
m
theo nhiệt độ của 6 loài vi tảo trên môi trường
F/2 54
Hình 3.23. Quy trình nuôi cấy vi tảo biểntrong sản xuất giống trai ngọc 58
Hình 3.24. Nhân nuôi giống vi tảo cấp 1 trong bình tam giác và bình nhựa 2-5 lít 60
Hình 3.25. Nhân nuôi sinh khối vi tảo trong túi plastic 30-60 lít 61
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Các loài vi tảo biển được sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng Pteria
sterna [37] 6
Bảng 1.2. Vi tảo biển thường đựơc sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, cũng
như chế độ ăn của cá thể hay chế độ ăn chung (hỗn hợp) 8
Bảng 3.1. Quan sát khả năng ăn và tiêu hóa của ấu trùng trai ngọc sau 1
giờ 30
1.2.1. Đặc điểm chung của vi tảo biển được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản 6
1.2.2. Đặc điểm về dinh dưỡng của vi tảo 9
1.3. Tình hình nghiên cứu vi tảo biển làm thức ăn cho ấu trùng nhuyễn thể ở trong
nước và ngoài nước 11
1.3.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 11
1.3.2. Tình hình nuôi cấy trai ngọc trong nước 12
1.3.3. Tình hình nuôi trai ngọc ở huyệnVân Đồn, Quảng Ninh 14
Chương 2. PHƯƠNG PHÁP 17
2.1. Đối tượng nghiên cứu 17
2.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 17
2.3. Hóa chất 17
2.4. Máy móc và dụng cụ 17
2.5. Môi trường nuôi cấy 18
2.6. Phương pháp phân lập vi tảo biển bằng micropipette 18
2.7. Xác định khả năng tiêu hóa và ăn vi tảo biển của ấu trùng trai ngọc 19
2.8. Xác định trình tự gen mã hóa 18S rADN 19
2.8.1. Phương pháp tách chiết ADN 19
2.8.2. Nhân đoạn gen bằng phản ứng PCR 20
2.8.3. Xác định trình tự gen bằng máy tự động 22 2.9. Xác định thành phần acid béo 23
2.10. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi tảo biển 24
2.10.1. Ảnh hưởng của độ mặn 24
2.10.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ 25
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
3.1. Phân lập và tuyển chọn các chủng vi tảo biển 27
3.2. Khả năng ăn và tiêu hóa 6 vi tảo của ấu trùng trai ngọc 29
3.3. Phân tích giải trình tự 18S rADN 6 chủng vi tảo biển 32
3.4. Thành phần acid béo của 6 loài vi tảo biển 39
triển mạnh mẽ. Các sản phẩm từ thủy sản có giá trị kinh tế rất cao trong đó có ngọc
trai- là vật trang sức được ưa chuộng từ lâu. Từ xa xưa con người đã biết thu hoạch
ngọc trai ở biển và cho tới nay dù trải qua nhiều thế kỷ, trai ngọc vẫn là nguồn lợi
vô cùng to lớn. Với tốc độ và sản lượng khai thác lớn, liên tục, không có kế hoạch
và định hướng nên nguồn lợi hải sản này sẽ sớm bị cạn kiệt. Để đáp ứng đủ nhu cầu
thương mại, ngành nuôi cấy trai ngọc cần số lượng lớn trai trưởng thành để lấy
ngọc. Vì vậy, việc sản xuất trai giống bằng phương pháp nhân tạo trở thành mối
quan tâm hàng đầu. Trong đó, thức ăn là yếu tố đầu tiên quyết định tới chất lượng
con giống. Một trong những nguồn thức ăn hết sức quan trọng đối với nuôi trồng
thủy sản là vi tảo biển. Việc lựa chọn và chủ động nguồn thức ăn tươi sống giàu
dinh dưỡng từ vi tảo cho ấu trùng của một số loài thủy sản còn gặp nhiều khó khăn
như: nguồn giống và sinh khối còn phụ thuộc vào điều kiện thu vớt tự nhiên nên
không thuần khiết, khó lưu trữ. Các chủng vi tảo nguồn gốc ngoại nhập có quy trình
nuôi không phù hợp với điều kiện Việt Nam, nên hiệu quả đem lại không cao, sinh
khối đạt thấp, giống sơ cấp không chủ động, tính chống chịu cao không cao với
nhiệt độ và môi trường. Từ những yếu tố trên dẫn đến việc phân lập, định danh và
sử dụng vi tảo làm thức ăn tươi sống trong ương nuôi các loài thủy sản gặp khó
khăn không đáp ứng được nhu cầu thực tế. Do đó, những nghiên cứu về đặc tính
sinh học của vi tảo cũng như ứng dụng từng chủng vi tảo vào nuôi giống thủy sản là
hết sức cần thiết. Những loài vi tảo biển có thể được sử dụng làm thức ăn phải có
những tiêu chuẩn nhất định về kích cỡ, hàm lượng chất dinh dưỡng, hệ số tiêu hóa
phù hợp với yêu cầu, khả năng nhận biết cũng như kích thước miệng ấu thể. Cần 2
tìm kiếm và phát triển nguồn thức ăn tự nhiên theo hướng giảm thiểu chi phí, chủ
động với khối lượng lớn trong thời gian ngắn, đáp ứng nhu cầu sản xuất là một vấn
đề được quan tâm đặc biệt. Muốn thực hiện tốt điều này cần có sự phối hợp giữa
các cơ quan nghiên cứu khoa học và các doanh nghiệp thủy sản nhằm đảm bảo
1.1. Giới thiệu trai ngọc
1.1.1. Phân loại
Trai ngọc thuộc
Ngành: Mollusca
Lớp: Bivalvia
Bộ: Pterioida
Họ: Pteriidae
Chi: Pinctada
1.1.2. Đặc điểm của trai ngọc
Hình 1.1. Trai ngọc Pinctada [39]
Trai ngọc thuộc lớp vỏ hai mảnh, đầu bị tiêu giảm, chân hình lưỡi rìu màu
hơi vàng để di chuyển trong cát. Vỏ gồm 2 mảnh được gắn lại với nhau bởi dây
chằng, có hai cơ khép mở bám ở mặt trong và hoạt động theo nguyên lí cửa sổ. Vỏ
có lớp sừng bao bọc ở mặt ngoài, lớp đá vôi ở giữa và cuối cùng là lớp xà cừ. Sau
vỏ là vạt áo Trai, đến hai tấm mang nằm trong khoang áo và ở giữa là chân, thân.
Trai ngọc sống ở vùng triều, những con lớn thường sống ở dưới triều, có khi sâu 20
m nơi có dòng nước lưu chuyển và đáy là các rạn san hô, sỏi, cát; độ trong cao; độ
mặn ổn định trong khoảng 32-35‰. Chúng có chân tơ bám vào bờ đá, rạn san hô
hay những giá bám cứng. Thường sống tập trung 5 - 10 cá thể trên một vật bám [8].
thân thể con vật. Các vật lạ hoặc chất hữu cơ chui vào bên trong khi nó hé vỏ ra ăn
hoặc hô hấp [8].
Ngọc trai (trân châu) là một vật hình cầu, cứng, kích thước từ 2-20mm được
đánh giá là một loại đá quý có giá trị kinh tế cao, dùng làm đồ trang sức hoặc mỹ
phẩm. Ngành Đông y cho rằng trân châu có vị hơi ngọt tính bình vào được kinh tâm
can thận, có tác dụng phối hợp chữa kinh phong, an thần, giải độc, tan màn mây ở 5
mắt, trở ngại tuần hoàn nước mắt, ù tai. Ngọc trai tự nhiên là loại đồ trang sức quý
hiếm, giá trị thực của nó tương đương với đá quý, phụ thuộc vào kích cỡ, hình dạng
và chất lượng của hạt ngọc. Ngọc trai tự nhiên đang trở nên ngày càng hiếm hơn do
đó nghề nuôi trai lấy ngọc trở nên phát triển. Ngọc trai tự nhiên có hình dáng tự
nhiên còn ngọc trai nhân tạo có hình dáng của nhân mà người ta cấy vào. Ngọc trai
thường có màu trắng, đôi khi có màu kem hoặc phớt hồng và có thể nhuốm màu
vàng, xanh lá cây, nâu, tím hoặc đen, trong đó ngọc trai đen được tạo ra từ loài trai
Pinctada margaritifera rất quý hiếm và có giá trị kinh tế rất cao [40].
1.1.4. Khả năng tiêu hóa vi tảo biển của ấu trùng trai ngọc
Trai ngọc là loài ăn lọc, thức ăn chủ yếu là vi tảo biển, ngoài ra còn các chất lơ
lửng trong nước như xác bã hữu cơ có kích thước nhỏ. Khả năng tiêu hóa là một
trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của ấu trùng. Kính hiển vi
huỳnh quang được sử dụng để phát hiện quá trình ăn và tiêu hóa vi tảo của ấu trùng
thể hai mảnh vỏ [25]. Ấu trùng trai ngọc không ăn và tiêu hóa tất cả các loài vi tảo,
hoặc chúng có thể ăn nhưng không có nghĩa chúng có thể tiêu hóa được [11]. Trong
nghiên cứu khả năng ăn và tiêu hóa của ấu trùng Pteria sterna đối với mười loài vi
tảo các nhà khoa học thấy rằng ấu trùng P.sterna chỉ ăn ba loài vi tảo
Pavlova
lutherid,
Isochrysis aff. Galbana
ăn và tiêu hóa xuất hiện.
Bảng 1.1. Các loài vi tảo biển được sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng Pteria sterna
[37]
Ngành
Lớp
Loài
Kích
thước
µm
Ký hiệuĐặc điểm
Diatoms
Green
algae Flagellates
Bacillariophyta
Coscinodiscophyceae
8-10
2-3
8×16
12-15
6-8
5
PHA
CHC
CH
THA
DUN
NAN
TET
TES
T-ISO
PAV
Tế bào thon dài, có gai
lớn
Thành tế bào cứng, gai
lớn
Tế bào lớn di động, 2
roi. Tế bào nhỏ có sợi
glicoprotein
Tế bào lớn chuyển
động có 4 roi
Hai roi, hình tròn, bầu
dục. Thành
polysaccharide
động vật giáp xác (đặc biệt là tôm) trong giai đoạn sớm của ấu trùng, đặc biệt là tảo
silic Skeletonema spp., và Chaetoceros spp., [16].
Tảo silic ở tầng đáy như Navicula spp., và Nitzschia spp., được nuôi hàng
loạt và sử dụng như một nguồn thức ăn cho bào ngư non. Isochrysis sp., (T.ISO),
Pavlova lutheri, T.suecica hoặc Nannochloropsis spp., thường dùng làm thức ăn cho
Artemia hoặc trùng bánh xe - là nguồn thức ăn cho các giai đoạn về sau của ấu
trùng giáp xác và ấu trùng cá [31].
Đáng chú ý là hiện tại, sau hơn 20 năm, các trang trại sản xuất giống vẫn sử
dụng các chủng giống giống nhau cho sản xuất (Bảng 2) [16].
8
Bảng 1.2. Vi tảo biển thường đựơc sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, cũng như chế
độ ăn của cá thể hay chế độ ăn chung (hỗn hợp).
Vi tảo biển
Động vật
2 mảnh vỏẤu trùng của
động vật giáp xác
Nanochloropsos spp. ++
Chú ý: ++ biểu thị sự phổ biến hơn +
9
Ngoài việc được sử dụng trực tiếp, vi tảo còn là thức ăn quan trọng dùng
nuôi động vật phù du - để làm thức ăn cho cá và các ấu trùng khác. Nó cung cấp
protein (các acid amin thiết yếu), năng lượng và chất dinh dưỡng quan trọng như
vitamin, các PUFA cần thiết, sắc tố được chuyển hóa thông qua chuỗi thức ăn. Ví dụ
các loại trùng bánh xe khi ăn vi tảo thì hàm lượng axit ascorbic (AsA) sẽ được tăng
lên đáng kể. Sau 24h, trùng bánh xe ăn Isochrysis sp., (T.ISO) và Nanochloropsis
oculata chứa tương ứng 2.5 và 1.7mg/g trọng lượng khô, trong khi đó sử dụng nấm
men làm thức ăn của trùng bánh xe thì chúng chứa chỉ 0.6mg/g trọng lượng khô
[19].
Sắc tố vi tảo được chuyển hóa và vận chuyển thông qua động vật phù du.
Các sắc tố trong loài giáp xác Temora sp., chủ yếu là lutein và astaxanthin, còn
trong Artemia là canthxanthin. Khi các con mồi được dùng làm thức ăn cho ấu trùng
cá bơn, vitamin A được tìm thấy trong cá bơn ăn giáp xác với hàm lượng đáng kể,
nhưng không có ở cá bơn ăn Artemia. Ấu trùng làm biến đổi lutein và/hoặc
astaxanthin, nhưng không biến đổi canthaxanthin thành vitamin A [35].
1.2.2. Đặc điểm về dinh dưỡng của vi tảo
Các loài vi tảo có thể thay đổi đáng kể giá trị dinh dưỡng của chúng, và có
thể cũng thay đổi trong những điều kiện nuôi khác nhau. Tuy nhiên, một hỗn hợp
các vi tảo được lựa chọn cẩn thận có thể cung cấp nguồn dinh dưỡng tuyệt đối cho
ấu trùng động vật, trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua việc làm giàu động vật phù
du) [12].
Vi tảo có chứa nhiều chất béo và các loại dầu tương tự thành phần dầu thực vật
bậc cao. Trong một số điều kiện nhất định, chúng có thể chứa hàm lượng lipid tới
sản. Theo thống kê của Brown (2002), hàm lượng acid ascorbic (vitamin C) trong vi
tảo có sự khác nhau rất lớn giữa các loài (16mg/g trọng lượng khô ở tảo C.muelleri;
1,1mg/g ở tảo T. pseudonana). Còn lại các vitamin khác chỉ khác nhau từ 2 – 4 lần
giữa các loài tảo như β-carotene 0.5 - 1.1mg/g, α-tocopherol 0.07-0.29mg/g,
thiamin 29 - 109μg/g, riboflavin 25 - 50μg/g, pantothenic acid 14 - 38μg/g, folates
17 - 24μg/g, pyridoxine 3.6 - 17μg/g, cobalamin 1.8 - 7.4μg/g, biotin 1.1 - 1.9μg/g,
retinol ≤ 2.2μg/g và vitamin D < 0.45μg/g [14]. Điều này chứng tỏ rằng, việc lựa
chọn một cách cẩn thận các loại vi tảo kết hợp với nhau sẽ cung cấp đầy đủ vitamin 11
cho chuỗi thức ăn của động vật nuôi thủy sản.
Ngoài ra, các khoáng chất và sắc tố trong vi tảo cũng đóng góp một vai trò
quan trọng trong giá trị dinh dưỡng của một loài tảo. Thành phần chủ yếu của sắc tố
là chlorophyll và các loại carotenoid chiếm 0,5 – 5% khối lượng khô, phycoerythin
và phycocyanin chỉ chiếm một lượng nhỏ khoảng 1%. ß-carotene, lutein và
astaxanthin (có nhiều trong tảo xanh - Tetraselmis sp.) là những sắc tố có khả năng
chuyển đổi thành vitamin A trong chuỗi mắt xích thức ăn của động vật nuôi thủy
sản [17].
Tuy nhiên, không phải lúc nào tảo cũng có lợi cho động vật thủy sản. Trong
trường hợp vùng biển bị ô nhiễm bởi các độc tố do sự nở hoa của tảo, động vật thân
mềm và một số loài ăn tảo sẽ bị nhiễm độc, có thể trở thành nguồn gây bệnh cho
con người. Sự không an toàn về thực phẩm như trên có tác hại không nhỏ đối với
việc tiêu thụ sản phẩm thủy sản, đặc biệt là các loài hai mảnh vỏ, gây thiệt hại kinh
tế đáng kể cho các quốc gia [20].
1.3. Tình hình nghiên cứu vi tảo biển làm thức ăn cho ấu trùng nhuyễn thể ở
trong nước và ngoài nước
1.3.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Việc nuôi và sử dụng các sinh vật nhỏ làm thức ăn cho ấu trùng nhuyễn thể đã
cho luân trùng Brachionus plicatilis [27]. Nuôi vi tảo silic cũng rất phổ biến ở Thái
Lan, nhất là loài Skeletonema costatum và Chaetoceros calcitrans dùng cho ấu
trùng tôm, nguyễn thể. Bể nuôi thường là bể composite có thể tích 1000 lít hay bể
ximăng >4000 lít.
Nuôi vi tảo là một hoạt động rất quan trọng tại các trại sản xuất giống, nhằm
cung cấp thức ăn cho ấu trùng của nhiều đối tượng thủy sản khác nhau. Đặc biệt là
trong ương nuôi trai ngọc, nguồn dinh dưỡng từ vi tảo đảm bảo khả năng sống sót
cao của ấu trùng và nâng cao chất lượng sản phẩm ngọc trai. Chúng góp phần rất
quan trọng cho việc quyết định đến hiệu quả sản xuất của các giai đoạn sau. Vì vậy,
để phục vụ cho sự phát triển của nghề nuôi trồng thủy sản thì việc nghiên cứu và sử
dụng vi tảo làm thức ăn là lựa chọn tối ưu cho bối ảnh hiện nay.
1.3.2. Tình hình nuôi cấy trai ngọc trong nước
Ở nước ta, thiên nhiên ưu đãi một chiều dài bờ biển hàng ngàn km với nhiều
vùng sinh thái phù hợp cho nghề nuôi trai lấy ngọc phát triển. Theo kết quả nghiên 13
cứu của một số đề tài khoa học, người ta đã xác định nhiều giống trai ngọc sinh
trưởng khá phổ biến ở một số vùng bờ biển khá phổ biến từ Quảng ninh đến Kiên
Giang. Giống trai ngọc có tên khoa học Pinetada Martensii Dunker thường thấy
xuất hiện ở các vùng biển thuộc Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Bình Thuận,
Vũng Tàu - Côn Đảo và Bình Định. Ở vùng duyên hải miền Trung, nghề nuôi trai
ngọc bắt đầu manh nha phát triển vào khoảng đầu những năm 90. Tuy vậy đến nay
cũng chỉ có một vài cơ sở nuôi trai lấy ngọc quy mô nhỏ. Tại Quy Nhơn, qua thăm
dò cảu sở thủy sản Bình Định đã phát hiện tren vùng ven biển có một số loài ngọc
trai sinh sống, phát triển. Sự tồn tại này hầu như chưa được sự chú ý đặc biệt nào
của người dân cũng như ngành chức năng. Trong 3 năm từ 1998- 2000, một đề tài
nghiên cứu khoa học về giống trai ngọc nuôi tại vùng biển quy Nhơn đã được sở
thủy sản bình Định tiến hành thực hiện. Bờ biển Hải Giang thuộc xã đảo Nhơn Hải,
Hình 1.2. Bản đồ vùng đông bắc bộ [41]
Vân Đồn là một quần đảo vòng quanh phía Đông và Đông Bắc vịnh Bái Tử
Long, nhưng lại nằm ở phía Đông và Đông Nam của tỉnnh Quảng Ninh. Nó gồm
600 hòn đảo lớn nhỏ. Huyện Vân Đồn có diện tích tự nhiên 551,3km², phía Tây Bắc
giáp vùng biển huyện Tiên Yên và Đông Bắc giáp vùng biển huyện Đầm Hà, phía
tây giáp thành phố Cẩm Phả, ranh giới với các huyện thị trên là lạch biển Cửa Ông
và sông Voi Lớn, phía đông giáp vùng biển huyện Cô Tô, phía Tây Nam giáp Vịnh
Hạ Long, thành phố Hạ Long, và vùng biển Cát Bà thành phố Hải Phòng, phía nam
là vùng biển ngoài khơi vịnh Bắc Bộ [40].
Làng nghề nuôi cấy ngọc trai trên biển đầu tiên của vùng Ðông Bắc Việt Nam
thuộc huyện đảo Vân Ðồn, cách thành phố Hạ Long khoảng 60km. Nghề này đã ra
đời và phát triển ở đây khoảng 40 năm. Huyện đảo Vân Ðồn có diện tích các bãi
triều ngập nước là 10.969ha, cùng hàng vạn ha đất có mặt nước tại các vụng, tùng,
vịnh ẩn khuất trong trùng điệp núi đá, núi đất thuộc vịnh Bái Tử Long là những
nơi lý tưởng để phát triển nghề này.
Vân Ðồn là nơi tập trung tới bốn loài trai ngọc có giá trị, gồm trai Mã Thị, trai
Vỏ Dày, trai Cánh Dài và loài Jamson. Ðây là những loài trai ngọc rất quí và có giá
trị xuất khẩu cao. Với diện tích mặt nước hàng vạn ha, cùng với khí hậu, môi sinh 15
rất thuận lợi cho việc nuôi trai cấy ngọc, tạo nên một vùng nuôi cấy ngọc trai rất lớn
ở Vân Ðồn.
Bắt đầu từ năm 2005, huyện Vân Đồn, Quảng Ninh bắt tay vào xây dựng
chương trình phát triển ngành kinh tế thủy sản, tập trung vào nuôi nhuyễn thể để
vừa khai thác được thế mạnh vừa giữ được môi trường trong sạch, đẹp. Xác định
việc nuôi trai lấy ngọc chỉ phù hợp với mô hình sản xuất của các doanh nghiệp nên
huyện đã cấp diện tích mặt nước cho 3 công ty, xí nghiệp tiến hành nuôi với tổng
diện tích 156,6 ha tập trung, trong đó có 2 công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài
nghi với các dao động về nhiệt độ, ánh sáng và các chất dinh dưỡng trong hệ thống
nuôi. Cuối cùng, chúng có thành phần dinh dưỡng tốt, không có độc tố và có thể
chuyển vào trong chuỗi thức ăn. Các chủng đã thành công trong nuôi 2 mảnh vỏ bao
gồm Isochrysis galbana, Isochrysis sp, Pavlova lutheri, Tetraselmis suecica,
Pseudoisochrysis paradoxa, Chaetoceros cancitrans và Skeletonema costatum.
Đáng chú ý là hơn 20 năm qua, các loài như trên vẫn cần thiết cho quá trình tái sản
xuất ấu trùng trai ngọc [ 7].
17
Chương 2. PHƯƠNG PHÁP
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2
O Merk,
Đức
Tris(hydroxymethyl) aminomethane Sigma, Mỹ
CoCl
2
.6H
2
O
Merk,
Đức
Ethyl acetate Merk, Đức
EDTA Merk,
Đức
Vitamin B12, Vitamin B1, Vitamin H
Sigma, Mỹ
2.4. Máy móc và dụng cụ
Sử dụng máy móc và dụng cụ có tại phòng Sinh học Tảo, các phòng thí
nghiệm thuộc Viện Vi sinh vật và Công nghệ Sinh học, Đại học Quốc Gia. Bao
gồm: máy đo pH (Osi, Pháp), máy ly tâm Eppendorf, máy PCR, máy soi ADN, máy
điện di Bio-Rad, kính hiển vi phản pha, soi nổi (Zeiss, Đức), kính lúp quan sát
khuẩn lạc (Olympus, Nhật Bản), máy xác định trình tự tự động ABI PRISM 3100
Avant Genetic Analyzer, máy đo chlorohyll Hansatech Intruments (Anh) Tủ cấy
vô trùng, tủ sấy, nồi khử trùng, máy nuôi lắc ở các nhiệt độ khác nhau, tủ nuôi ổn
trùng kế tiếp, sau đó nhẹ nhàng di chuyển vào miệng ống, tiếp tục chuyển nó vào