Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay giải quyết việc làm của Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội quận Hoàng Mai - Pdf 26

Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội
MỤC LỤC
Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2
Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội
Danh mục các chữ cái viết tắt
DN Doanh nghiệp
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
ĐH Đại học
KBNN Kho bạc Nhà nước
GQVL Giải quyết việc làm
HS – SV Học sinh – Sinh viên
NH Ngân hàng
NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NSTW Ngân sách Trung ương
NSTP Ngân sách Thành Phố
SXKD Sản xuất kinh doanh
TCTD Tổ chức tín dụng
TDNH Tín dụng ngân hàng
LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội
UBND Uỷ ban nhân dân
TW Trung ương
ĐP Địa phương
TP Thành phố
PN Phụ nữ
ND Nông dân
CCB Cựu chiến binh
ĐTN Đoàn thanh niên
LĐTH Lao động thu hút
Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2

Bảng 08 PHÂN BỔ CHỈ TIÊU CHO VAY HỘ NGHÈO
41
Bảng 09
Kế hoạch tín dụng năm 2012 53
Bảng 10
KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH NĂM 2012
56
Bảng 11 KẾ HOẠCH THU NỢ 2011
58
Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2
Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội
Lời Mở Đầu
Trong xu thế phát triển và hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới,
Đảng và Nhà nước ta đã rất sáng suốt lựa chọn theo con đường phát triển nền kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện
trên tất cả các lĩnh vực kinh tế – chính trị – văn hoá, đẩy mạnh công nghiệp hoá -
hiện đại hoá nhằm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, phấn đấu đến
năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.
Một trong những tính ưu việt của nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa và
cũng luôn là mục tiêu được ưu tiên lưạ chọn trong việc hoạch định chiến lược chính
sách kinh tế vĩ mô của Đảng Cộng sản Việt Nam là phát triển kinh tế phải đi đôi với
xoá đói giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội. Do đó, việc cần phải thành lập
Ngân hàng Chính sách xã hội với chức năng chính tập trung huy động các nguồn lực
tài chính để cấp tín dụng chính sách cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách là một
chủ trương lớn của Đảng, có một ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo tính hiệu
quả và bền vững trong phát triển kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Sau hơn ba năm thành lập và hoạt động, Ngân hàng Chính sách xã hội đã
thực sự là một công cụ rất quan trọng và chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt
Nam trong việc thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho phép một sự kết
hợp đồng đều hơn giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội thông qua hình thức tín

01 năm 2006 đến hết tháng 09 năm 2011. Với phương pháp lý luận kết hợp với
thực tiễn, tôi đưa ra những giải pháp của bản thân cùng với sự tham khảo ý kiến
của những đồng nghiệp để hoạt động cho vay GQVL trên địa bàn quận Hoàng
Mai đạt hiệu quả cao trong những năm tiếp theo.
Ngoài lời mở đầu và phần kết luận, chuyên đề được kết cấu theo 3
chương:
Chương 1: Các vấn đề cơ bản về hiệu quả cho vay GQVL của Ngân
hàng Chính sách xã hội.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả cho vay GQVL của Phòng giao dịch
NHCSXH quận Hoàng Mai.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay GQVL của Phòng
giao dịch NHCSXH quận Hoàng Mai.
Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2
2
Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội
CHƯƠNG 1
CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM CỦA NHCSXH
1.1 Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với vấn đề giải quyết việc làm.
1.1.1 Giải quyết việc làm- giải pháp quan trọng trong chính sách phát triển
kinh tế- xã hội của quốc gia.
GQVL được coi là một giải pháp quan trọng trong chính sách phát triển
kinh tế- xã hội vì nó liên quan mật thiết đến mục tiêu của mọi quốc gia đó là tỉ lệ
thất nghiệp thấp. Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm đã và đang đe doạ
cuộc sống của nhiều gia đình từ nông thôn đến thành thị, từ miền xuôi đến miền
núi. Công cuộc hỗ trợ việc làm cho người lao động từ trước đến nay luôn được
đặt ra nhưng trên thực tế năng lực và quyết tâm thực hiện chưa cao nên đồng
nghĩa với nó là kết quả đạt được còn thấp. Hiện nay, để tạo việc làm cho khoảng
1,1-1,3 triệu người lao động/năm là một câu hỏi rất lớn đang được đặt ra hiện
nay.

tổng lao động quốc dân nên việc hỗ trợ từ phía cầu lao động đồng nghĩa với quá
trình khuyến khích, hỗ trợ việc thành lập, mở rộng các cơ sở SXKD, các
DNVVN, phát triển các ngành nghề bằng cách trợ vốn ưu đãi cho những nơi
thiếu và thực sự cần vốn.
GQVL thông qua hình thức kích cầu lao động từ phía các DN trong nước
là chưa đủ đối với một nền kinh tế mở, hợp tác đa phương. Chúng ta cần thu hút
được sự đầu tư, rót vốn của các đối tác nước ngoài dưới dạng các công ty liên
doanh, 100% vốn nước ngoài, xây dựng các khu chế xuất công nghiệp nhằm thu
hút một khối lượng lớn lực lượng lao động bản xứ vào làm việc trong đó. Sự
hợp tác với nước ngoài còn được biểu hiện dưới dịch vụ cung cấp lao động xuất
khẩu cho phía đối tác có nhu cầu.
Kích cầu lao động được coi là một phương thức có hiệu quả bởi vì nó
nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển ngành kinh tế. Từ đó dẫn đến hai câu
hỏi đó là “kích cầu lao động ở đâu?” và “kích cầu đó như thế nào?”. Đây là vấn
Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2
4
Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội
đề liên quan đến tiến trình “chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành” đang
được coi là chậm nhất và có lẽ khó đạt mục tiêu nhất vì nó chịu ảnh hưởng năng
nề bởi tập quán lao động truyền thống của mối quốc gia mà ở Việt Nam ta thì đó
là nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ. Cho nên, chuyển dịch cơ cấu lao động
phải đi đôi với chuyển dịch cơ cấu đầu tư, cơ cấu kinh tế.
1.1.2.2 Giải quyết từ phía cung lao động.
Việt Nam là một trong số những quốc gia có nguồn lao động dồi dào với
các ưu điểm như trẻ, khoẻ, cần cù, thông minh và năng động. Họ luôn sẵn sàng
hoàn thành những công việc được cấp trên giao cũng như có khả năng xông pha
vào mọi ngõ ngách của thị trường để làm việc độc lập. Trên thực tế, sự cạnh
tranh khốc liệt của thị trường, lợi nhuận thu được trên thị trường và tham vọng
được làm việc độc lập đã khiến cho một bộ phận không nhỏ đội ngũ lao động đi
đến quyết định thành lập DN, cơ sở SXKD hay mở rộng quy mô hoạt động của

học công nghệ và phương pháp làm ăn hiệu quả.
Vốn vay của NH giúp cho người lao động có tiền để mua trang thiết bị
phục vụ sản xuất. Với trình độ khoa học kĩ thuật phát triển như ngày nay, con
người dường như thoát khỏi tình trạng lao động thủ công để chuyển sang lao
động điều khiển máy móc thay vì sử dụng sức người như trước kia. Để công
việc đạt năng suất và chất lượng sản phẩm cao, các cơ sở SXKD phải đầu tư,
mua sắm trang thiết bị, máy móc và các dây chuyền hiện đại. Trong tình hình
nguồn tài chính không đủ để đáp ứng nhu cầu trên thì vay vốn NH là một giải
pháp tình thế và cần thiết.
1.1.3.3 Tín dụng Ngân hàng giúp cho người lao động tự chủ hơn trong hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Lợi ích lớn nhất TDNH đối với xã hội chính là tham gia vào công tác
giảm thiểu tỉ lệ thất nghiệp, giảm gánh nặng cho xã hội và nâng cao tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế thông qua việc cho vay vốn giúp người lao động tự chủ
tiến hành hoạt động SXKD, tăng gia sản xuất, nuôi sống mình và gia đình bằng
chính những sản phẩm của cơ sở mình sản xuất ra được hay có tiền để trao đổi
mua bán các hàng hóa, dịch vụ trong lưu thông. Với vai trò này, TDNH không
Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2
6
Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội
chỉ đem lại lợi ích cho người tiến hành SXKD mà còn đem lại cơ hội có việc
làm cho người lao động phổ thông trong các cơ sở SXKD đó. Đứng trên giác độ
xã hội, TDNH đã góp phần vào việc thu hút lực lượng lao động, tăng cường
năng lực cạnh tranh của các cơ sở SXKD và trình độ tay nghề của người lao
động.
1.1.3.4. Tín dụng Ngân hàng tạo môi trường kinh tế cho người lao động tự tin
tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Có vốn người lao động sẽ làm chủ được công việc của mình mà không bị
động trước những tình huống như: thiếu nguyên liệu sản xuất, thiếu nhân công
làm thuê, mất cơ hội mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh khi có thời cơ. TDNH

cơ sở sản xuất kinh doanh vay vốn ưu đãi của Ngân hàng; thu nhập của người
vay vốn;….đồng thời, nó là một chỉ tiêu trừu tượng vì không thể đo lường được
giá trị phúc lợi xã hội mà hoạt động cho vay GQVL tạo ra: làm tăng xác suất ra
đời của các doanh nghiệp lớn và sự tăng trưởng của các ngành kinh tế.
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay giải quyết việc làm.
1.2.2.1 Các chỉ tiêu định lượng.
- Doanh số cho vay giải quyết việc làm.
Doanh số cho vay là một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay hỗ trợ việc làm
của NHCSXH bởi vì quy mô cho vay trong một thời kỳ mà càng lớn thì chứng tỏ
mối quan tâm thiết thực của Nhà nước đối với các đối tượng chính sách thông qua
hình thức tín dụng ưu đãi càng tăng. Doanh số cho vay được xác định bằng tổng số
vốn ưu đãi đã cho các đối tượng cần vay trong một thời kỳ nhất định. Thông qua
các con số đó người ta có thể đánh giá được sức tăng trưởng hay suy giảm của quy
mô vốn GQVL giữa các thời kỳ.
-Dư nợ cho vay giải quyết việc làm.
Dư nợ cho vay là một chỉ tiêu phản ánh quy mô cho vay theo thời điểm vì
thế nó cập nhật một cách chính xác quy mô cho vay của Ngân hàng tại thời điểm
hiện tại, trong đó, nó cũng thể hiện số nợ khoanh, nợ xấu trong cơ cấu cho vay
của NH. Dư nợ cho vay GQVL không những phản ánh quy mô cho vay ưu đãi
thời điểm mà còn thể hiện năng lực cho vay của Ngân hàng và tình trạng chiếm
dụng vốn ưu đãi của các đối tượng chính sách đã vay vốn.
Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2
8
Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội
1.2.2.2 Các chỉ tiêu định tính.
- Điều chỉnh cơ cấu kinh tế.
Phát triển ngành nghề phù hợp với cơ cấu kinh tế mà địa phương khuyến
khích là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả cho vay hỗ trợ việc làm của
NHCSXH trong giai đoạn 2006-2010 nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đến
năm 2010 tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm-thủy sản giảm

Thời hạn cho vay sẽ được thỏa thuận giữa khách hàng và NHCSXH dựa trên
cơ sở xác định chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của người vay.
- Quy trình, thủ tục vay vốn GQVL:
Quy trình và thủ tục cho vay vốn càng nhanh gọn thì khách hàng càng tận
dụng được cơ hội kinh doanh. Hiệu quả cho vay không chỉ phản ánh thông qua thu
nhập của dự án, khả năng bảo toàn và phát triển vốn vay của NH mà còn thể hiện
qua khả năng tiếp cận với vốn vay ưu đãi của các đối tượng chính sách.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay giải quyết việc làm .
1.2.3.1 Các nhân tố khách quan.
- Tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước ảnh hưởng sâu sắc đến
hiệu quả cho vay GQVL. Một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả cho vay
GQVL là tăng quy mô cho vay, làm tương xứng giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã
hội mà vốn vay ưu đãi tạo ra. Tuy nhiên quy mô cho vay không thể gia tăng
trong tình hình nền kinh tế đang gặp những bất ổn như: lạm phát, tinh giảm lao
động do chính sách phát triển của công ty hay quá trình sát nhập doanh nghiệp,
…Sự bất ổn định này có thể xem như là một tình trạng suy thoái về nhân lực và
vật lực của quốc gia trong giai đoạn đó, nó dẫn đến sự thiếu vắng mối quan tâm
và đầu tư của nền kinh tế vào các hoạt động đảm bảo phúc lợi xã hội. Bên cạnh
đó, giảm hiệu quả cho vay GQVL lại tác động tiêu cực ngược trở lại nền kinh tế
vì lãng phí tiền của thực hiện các chương trình mục tiêu của quốc gia mà kết quả
không đạt được như mong muốn. Một đất nước đang phải đối mặt với nạn lạm
phát sẽ khiến người dân muốn nắm giữ tiền mặt hơn là đem vào gửi NH; nguồn
Ngân sách Nhà nước bị thâm hụt khiến cho nguồn vốn cho vay ưu đãi nói chung
Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2
10
Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội
và cho vay GQVL nói riêng cũng bị thuyên giảm và nó cũng đồng nghĩa với
việc khả năng cho vay ưu đãi bị hạn chế. Có thể lấy ví dụ về tác động của tình
hình trong nước đến công tác cho vay GQVL trong thời gian gần đây là: sự lan

phi lợi nhuận, hoạt động vì mục đích hỗ trợ phát triển cho các đối tượng chính
sách thông qua cho vay ưu đãi. Bên cạnh NHCSXH, một số các TCTD khác
cũng bắt đầu quan tâm đến công tác GQVL coi nó như là một hoạt động NH có
triển vọng cần đầu tư trong tương lai. Ưu thế của cho vay GQVL của NHCSXH
là cho vay bằng hai nguồn vốn tập trung là: nguồn NSTW và nguồn NSTP.
Trong khi đó, các NHTM khác hoàn toàn sử dụng nguồn “đi vay” để “cho vay”.
Sự cạnh tranh cho vay GQVL xuất hiện khi các NH nhận ra rằng cho vay GQVL
cho khối khách hàng là các DNVVN mang tính rủi ro cao nhưng thu nhập dự
tính đem lại là rất lớn bởi vì loại hình DN này gánh vác tất cả các nhu cầu đa
dạng của nền kinh tế. Mặc dù, NHCSXH cho vay với mức lãi suất ưu đãi song,
quy mô vốn vay ưu đãi còn hạn hẹp và bị giới hạn bởi các quy định, quy chế do
Chính phủ trực tiếp ban hành. Do đó, nhiều cơ sở SXKD vay vốn để mở rộng
quy mô hoạt động, vẫn thích tìm đến các NHTM hơn là tìm đến NHCSXH. Hiệu
quả cho vay GQVL chỉ được thực hiện một cách đầy đủ khi người lao động và
NHCSXH tìm được tiếng nói chung khi giải quyết được vấn đề quy mô cho vay
phù hợp với năng lực SXKD của dự án vay vốn.
- Năng lực của cán bộ thuộc Sở, Phòng LĐTB&XH.
NHCSXH hoạt động theo trên nguyên tắc hạch toán độc lập và tự chịu
trách nhiệm trước Chính phủ về các quyết định cho vay của mình, không cho
vay đối với các dự án nếu không được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, hoặc
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án trái với quy định. Vậy là trên thực tế,
cho vay GQVL có hiệu quả hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào công tác phối
kết hợp thẩm định dự án vay vốn giữa NHCSXH với các tổ chức xã hội. Trách
nhiệm của cán bộ Sở LĐTB&XH trong việc xét duyệt dự án xin vay nằm ở khía
cạnh hiệu quả xã hội mà dự án tạo ra đó là khả năng thu hút lao động của dự án,
khả năng tạo việc làm thường xuyên với thu nhập ổn định cho người lao động.
Hiệu quả cho vay GQVL sẽ không được đảm bảo nếu hiệu quả xã hội của dự án
Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2
12
Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội

Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội
mỗi nguồn trong cơ cấu nguồn vốn. Các nguồn vốn huy động chủ yếu của
NHCSXH là:
- Nguồn tiền gửi.
- Nguồn đi vay.
- Nguồn vốn góp tự nguyện không hoàn trả.
- Nguồn uỷ thác.
- Vốn khác.
Khả năng huy động vốn của NHCSXH ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả
cho vay GQVL do đó một chiến lược huy động tốt, tận dụng lợi thế là một
TCTD do Chính phủ thành lập và xây dựng một chiến lược cho vay GQVL hiệu
quả trên cơ sở củng cố các dịch vụ tiện ích thì NHCSXH hoàn toàn có khả năng
cạnh tranh huy động trên thị trường tài chính.
- Mối quan hệ với Chính quyền và các Hội, ban ngành đoàn thể địa phương.
Cho vay chính sách nói chung và cho vay GQVL nói riêng không thể đảm
bảo được tính hiệu quả nếu như không xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp và sự
hỗ trợ từ phía các cấp Chính quyền và Hội, ban ngành đoàn thể địa phương.
NHCSXH hoạt động theo cơ chế nắm bắt thông tin của các dự án xin vay thông
qua các cấp chính quyền và hội đoàn thể trực tiếp quản lý các dự án đó. Vì thế,
mặc dù là đơn vị chịu trách nhiệm cho vay và quản lý món vay nhưng hiệu quả
cho vay GQVL của Ngân hàng phụ thuộc khá nhiều vào các tổ chức nói trên. Có
sự giúp đỡ của họ, vốn ưu đãi mới dễ dàng đến được tay người vay vốn bởi vì
không ai nắm bắt được tình hình đời sống kinh tế của người dân trong một khu
vực rõ hơn là các cấp chính quyền và các hội đoàn thể mà người dân đang tham
gia sinh hoạt cộng đồng. Bên cạnh đó, các chi nhánh NHCSXH thường xuyên
có sự phối kết hợp với các sở ban ngành liên quan, đặc biệt là Sở LĐTB&XH
trong công tác cho vay từ khâu lập dự án, đến khâu thẩm định, ra quyết định
duyệt cho vay
- Năng lực của cán bộ tín dụng Ngân hàng chính sách xã hội.
Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2

Contents 15
Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2
15
Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội
còn trên góc độ vi mô thì vốn đến chậm tay chủ dự án thì làm lỡ cơ hội kinh
doanh, mất hợp đồng Chính vì thế, người ta cần đến sự có mặt của công nghệ
để đạt được những tiện ích trong khi giao dịch, vay vốn và trả nợ cho NHCSXH.
Trong khi đó, công nghệ NHCSXH chưa đạt được các tiêu chuẩn của một NH
hiện đại như thế.
- Cơ sở vật chất của Ngân hàng chính sách xã hội.
Hiệu quả cho vay GQVL càng tăng khi mà số lượng người lao động tìm đến
càng lớn với niềm tin vốn vay NHCSXH sẽ giúp mình thoát khỏi cảnh thất nghiệp.
Tuy nhiên người ta thường có xu hướng thích làm việc với các NH có trụ sở làm
việc ổn định, có mạng lưới giao dịch rộng khắp Nó thể hiện sự thịnh vượng và
nền tài chính bền vững của một NH cũng như góp phần giúp cho người dân đưa ra
sự lựa chọn của mình về NH mà mình sẽ tiến hành giao dịch.
Tóm lại, trên đây là những nhân tố cơ bản tác động đến hiệu quả cho vay
GQVL của hệ thống NHCSXH. Các nhân tố đó tồn tại một cách tất yếu trong
bất kỳ một môi trường tài chính nào và NHCSXH chỉ có thể hạn chế những ảnh
hưởng tiêu cực và không ngừng phát huy những ảnh hưởng tích cực nhằm làm
cho công tác cho vay GQVL nói riêng và toàn bộ hoạt động của NHCSXH nói
chung ngày càng phát triển bền vững. Nhưng, chúng ta cũng nhận thức được
rằng, mức độ ảnh hưởng của chúng là khác nhau với các địa bàn hoạt động khác
nhau. Điều này càng được thể hiện rõ nét khi chúng ta cùng đến và tìm hiểu về
hoạt động của một trong những PGD của NHCSXH đó là PGD NHCSXH quận
Hoàng Mai.
Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2
16
Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội
CHƯƠNG 2

Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2
17
Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội
định rằng: Sự ra đời của NHCSXH là một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg
ngày 4/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập NHCSXH đã nêu
rõ: “Thành lập NHCSXH để thực hiện tốt chính sách tín dụng đối với hộ
nghèo và các đối tượng chính sách khác trên cơ sở tổ chức lại NH phục vụ
người nghèo được thành lập theo Quyết định số 230/QĐ-NH5 ngày 1/9/1995
của Thống đốc NHNN Việt Nam”. Sự ra đời của NHCSXH đánh dấu một
bước phát triển mới về năng lực tài chính của nền kinh tế nước ta cũng như nâng
cao hơn nữa trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với đời sống của dân nghèo
và các đối tượng chính sách khác trong xã hội. Tuy là một hệ thống mới song bộ
máy tổ chức của NHCSXH đã và đang được củng cố, kiện toàn từ Hội đồng
quản trị, Ban giám đốc đến lãnh đạo các cấp từ Trung ương đến địa phương.
Hơn nữa, do mục tiêu hoạt động mang tính xã hội cao độ cho nên NHCSXH
nhận được rất nhiều sự ủng hộ quan tâm của các cấp ủy chính quyền, các cấp tổ
chức đoàn thể và đông đảo quần chúng nhân dân. Đây chính là thuận lợi chung
của toàn hệ thống NHCSXH và cũng là thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của
Chi nhánh NHCSXH TP Hà Nội.
Đồng thời với việc ra đời của NHCSXH VN là việc ban hành quy chế
hoạt động của cả hệ thống các chi nhánh NHCSXH. Theo đó, việc thành lập, cơ
cấu tổ chức và các nhiệm vụ quyền hạn của hội sở chính, các Chi nhánh và các
Phòng giao dịch sẽ do Hội đồng quản trị NHCXH VN quy định. Dựa trên cơ sở
đó, PGD NHCSXH quận Hoàng Mai được thành lập từ tháng 10 năm 2004 trực
thuộc và chịu sự quản lý của Chi nhánh NHCSXH TP Hà Nội, thực hiện chính
sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn
quận Hoàng Mai.
Hoạt động của NHCSXH là không vì mục đích lợi nhuận. Sự ra đời của
NHCSXH có vai trò rất quan trọng là cầu nối đưa chính sách tín dụng ưu đãi

hơn 3,1 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; gần 2,4
triệu học sinh, sinh viên; 83 nghìn căn nhà cho hộ gia đình vượt lũ ĐBSCL;
gần 400 nghìn căn nhà cho hộ nghèo và các hộ chính sách chưa có nhà ở; hơn
92 nghìn lao động thuộc gia đình chính sách được vay vốn đi xuất khẩu lao
Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2
19
Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội
động; nợ xấu giảm dần từ 13,75% khi nhận bàn giao (theo kết quả kiểm kê nợ)
xuống còn 1,21% vào cuối năm 2011.
NHCSXH còn là thành viên chính thức của các tổ chức quốc tế: Hiệp hội tín
dụng nông nghiệp nông thôn Châu Á Thái Bình Dương (APRACA) từ năm
2006; Hiệp hội Ngân hàng Phục vụ người nghèo (BWTP) từ năm 2007; Phong
trào tín dụng vi mô toàn cầu (MCS) từ năm 1997. Ngoài ra, NHCSXH còn hợp
tác với các tổ chức tài chính và phát triển quốc tế (Chính phủ, phi Chính phủ)
như: WB, ADB, AFD, JBIC, KFW, USAID, DFID, AusAID, DANIDA, thu
hút vốn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng. Hiện nay, NHCSXH đang hỗ trợ kỹ thuật
cho Ngân hàng Chính sách CHDCND Lào (NAYOBY).
Kết quả về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh
giá cao. Với mục tiêu phấn đấu giảm tỷ lệ đói nghèo mỗi năm là 2%, đến cuối
năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo ở mức 5,25%, NHCSXH sẽ tiếp tục phối hợp với các
cấp, các ngành, các tổ chức hội, đoàn thể xã hội hóa hoạt động; góp phần thực
hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và tạo
việc làm giai đoạn 2011 - 2015; quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao,
thực sự trở thành lực lượng kinh tế hữu hiệu nhằm ổn định chính trị - xã hội
của đất nước.
2.1.2 Cơ chế vận hành và cơ cấu tổ chức.
2.1.2.1 Cơ chế vận hành.
PGD NHCSXH quận Hoàng Mai được thành lập với nhiệm vụ triển khai
tốt kế hoạch cho vay vốn ưu đãi của Chính phủ tới tất cả các phường trên địa
bàn quận. Hiện nay, trụ sở của PGD đặt tại Tầng I, Nhà A1, Khu Đô thị Đền Lừ

* Về mặt chất lượng của cán bộ nhân viên trong PGD. Thực tế cho thấy,
do mới tách ra hoạt động độc lập từ NHCSXH TP Hà Nội nên nhân sự đa số là
cỏn bộ trẻ, kinh nghiệm thực tế còn ít dẫn đến hiệu quả làm việc chưa cao.
* Về chất lượng đội ngũ lãnh đạo: là những đồng chí có kinh nghiệm
trong hoạt động chuyên môn và công tác quản lý. Họ không những chịu trách
nhiệm quản lý mà còn trực tiếp hướng dẫn cho những nhân viên trẻ trong Tổ của
mình biết được công việc phải làm và làm đúng. Nhờ có năng lực và tinh thần
trách nhiệm cao của đội ngũ lãnh đạo mà hoạt động của PGD NHCSXH quận
Hoàng Mai đã dần đi vào ổn định, về cơ bản là hoàn thành các chỉ tiêu cấp trên
giao cho.
Trương Thanh Tùng – Lớp TCNH 2A2
21
Chuyên đề thực tập Đại học KTKTCN Hà Nội
2.1.3 Tình hình hoạt động của PGD NHCSXH quận Hoàng Mai.
Sau 8 năm thực hiện Nghị định78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của
Chính Phủ về tín dụng ưu đãi đối với Hộ nghèo và các đối tượng chính sách
khác, NHCSXH nói chung và PGD NHCSXH quận Hoàng Mai nói riêng đã tích
cực thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình về công tác cho vay Hộ nghèo,
cho vay GQVL và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn. Đã góp phần
cùng các ban ngành giảm tỷ lệ Hộ nghèo và tạo việc làm mới cho hàng nghìn lao
động, giảm tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn quận.
2.1.3.1. Nguồn vốn.
Tổng nguồn vốn đến 30/9/2011 đạt: 66.125 triệu đồng.
Trong đó:
- Nguồn vốn cân đối từ TW: 47.247 triệu đồng
- Nguồn vốn huy động được TW cấp bù lãi suất: 2.285 triệu
(Trong đó huy động thông qua Tổ tiết kiệm và vay vốn là 1.898 triệu đồng)
- Nguồn vốn nhận uỷ thác cho vay tại địa phương: 18.694 triệu đồng (trong
đó nguồn vốn quận Hoàng Mai: 5.150).
2.1.3.2. Hoạt động tín dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status