GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA - Pdf 64

: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI KINH
TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG
ĐỐNG ĐA
I. KINH NGHIỆM TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỖ TRỢ VỐN KINH TẾ NGOÀI
QUỐC DOANH Ở MỘT SỐ NGÂN HÀNG TRONG NƯỚC VÀ NGÂN HÀNG NƯỚC
NGOÀI
Hiện nay, trong số các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
của ta đến 90% là doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV& N). Vì vậy, các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh mang nhiều đặc điểm của DNV& N.
Dựa vào những biện pháp mà các Ngân hàng nước ngoài và những Ngân
hàng khác của Việt nam đã và đang sử dụng để nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế
này, chúng ta có thể rút ra những bịên pháp giải quyết cho riêng Ngân hàng Công
thương Đống Đa.
1. Kinh nghiệm về chính sách hỗ trợ vốn đối với DNV&N ở Malaixia và
Nhật Bản
Malaixia: Trong kế hoạch phát triển tổng thể lần thứ hai của Malaixia (1992
– 2001) đã khẳng định rõ vai trò của các DNV&N trong công cuộc hiện đại hoá đất
nước. Do vậy, trong thời kỳ này Chính phủ đã thông qua chương trình hỗ trợ phát
triển DNV&N như các chương trình về thị trường, hỗ trợ kỹ thuật, chương trình cho
vay ưu đãi, chương trình công nghệ thông tin... Mục đích của chương trình cho vay là
nhằm giúp các DNV&N có được một lượng vốn cần thiết để thúc đẩy tự động hoá và
hiện đại hoá, để cải tiến chất lượng và phát triển cơ sở hạ tầng trong các ngành sản
xuất phụ tùng ôtô, linh kiện điện, điện tử, máy móc, nhựa, dệt, lương thực thực
phẩm... Chương trình này được thực hiện theo kế hoạch phân bổ hàng năm của
Malaixia thông qua Quỹ cho vay ưu đãi, cấp tín dụng trực tiếp cho các nhà sản xuất
là các DNV&N thuộc lĩnh vực nói trên. Thông qua chương trình này, những DNV&N
của Malaxia từ tình trạng làm ăn trì trệ, thiếu vốn nghiêm trọng đã được cải thiện
trông thấy, góp phần rất lớn vào lượng hàng hoá xuất khẩu của Malaxia trong
những năm qua. Như vậy, thành công mà đất nước này có được chính là do họ đã có
các chương trình hỗ trợ vốn cụ thể đối với các DNV&N và bổ sung những chính sách
ưu đãi khác để việc sử dụng vốn đạt hiệu quả.

khuyến khích các Ngân hàng phát triển các quỹ tín dụng ở nhiều nơi có nhu cầu và
đủ điều kiện để tạo thêm kênh “rút” vốn cho các doanh nghiệp. Giải pháp quan trọng
nhất và vì mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp là làm sao đảm bảo vốn trung, dài hạn
đối với các doanh nghiệp. Hiện nay đã có một số công ty cho thuê tài chính đời. Đây
là mô hình tài trợ vốn trung, dài hạn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh ở trong tình trạng thiếu vốn, mà nhiều nước áp dụng đã
thành công.
Mặc dù Đức, Đài Loan, Malaixia và Nhât có chênh lệch nhau về trình độ phát
triển kinh tế song Chính phủ các nước này đều dành một sự quan tâm đặc biệt trong
chính sách hỗ trợ huy động vốn đối với DNV&N. Thực tế đã chứng tỏ sự thành công
của các chính sách hỗ trợ này. Do đó, đây có thể là những bài học kinh nghiệm tham
khảo hay mô hình chính sách mà Việt nam có thể tham khảo vận dụng để tìm ra
những giải pháp thích hợp giúp các DNV&N cũng như các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh phát triển hơn nữa. Đặc biệt là trong bối cảnh Việt nam đang tham gia thực
hiện đầy đủ cam kết của AFTA trong vài năm để chuẩn bị hội nhập chỉ là khoảng cách
thời gian ngắn ngủi với nhiều khó khăn đang ở phía trước. Thời thế đã và đang đặt
ra cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt nam trước sự lựa chọn khắc nghiệt
là tồn tại hay phá sản.
2. Một số giải pháp Chính phủ ấn Độ đã đưa ra nhằm cấp tín dụng cho
các doanh nghiệp nhỏ
Cũng như các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt nam, các doanh
nghiệp nhỏ ở Ấn Độ đang thiếu vốn nghiêm trọng. Việc tài trợ cho các thương phiếu,
các khoản phải thu trong sổ nợ không được chấp nhận ở Ấn Độ. Điều này gây không
ít khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ ở đây khi đi vay vốn. Vấn đề cấp thiết là cần
phải thúc đẩy các dịch vụ mua bán nợ , thương phiếu và việc quản lý tốt nguồn vốn
lưu động. Dịch vụ mua bán nợ liên quan đến việc thoả thuận với các nhà tài trợ vốn
về việc nhận trách nhiệm thu hồi, bảo hộ, kiểm soát tín dụng cho các khách hàng
thuộc đối tượng khu vực ngành nghề nhỏ. Các nhà tài trợ sẽ mua các khoản phải thu
của khách hàng khi phát sinh, tham gia vào trách nhiệm giữ sổ sách liên quan đến
các khoản phải thu và thực hiện các chức năng phụ trợ khác. Mặc dù tăng thêm các

mọi hình thức nhằm cung ứng vốn cho những doanh nghiệp này.
3. Kinh nghiệm cho vay hộ sản xuất tại Vĩnh Long
Nền kinh tế tỉnh Vĩnh Long chủ yếu là nông nghiệp, 85% dân số nông thôn,
12% hộ nghèo. Ngân hàng Vĩnh Long dùng hình thức chuyển tải vốn thông qua tổ
hợp tác của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Vĩnh Long.
Năm 1997, doanh số cho vay của Ngân hàng là 788 tỷ đồng, trong đó hộ sản
xuất chiếm 35%. Dư nợ là 193 tỷ đồng, trong đó dư nợ hộ sản xuất là 192 tỷ. năm
1998, doanh số cho vay là 774 tỷ đồng, trong đó hộ sản xuất chiếm 35%. Dư nợ là
364 tỷ đồng, trong đó dư nợ hộ sản xuất là 262 tỷ đồng. Năm 1999, doanh số cho vay
là 792 tỷ đồng, trong đó doanh số cho vay hộ sản xuất chiếm 50%; dư nợ là 413 tỷ
trong đó dư nợ hộ sản xuất là 364 tỷ đồng. Năm 2000, doanh số cho vay là 1355 tỷ
đồng, trong đó doanh số cho vay hộ sản xuất chiếm 52%; dư nợ là614 tỷ đồng, trong
đó dư nợ hộ sản xuất là 604 tỷ đồng. Tại ngày 31/12/2000, dư nợ hộ sản xuất là
603,5 tỷ đồng, chiếm 98,4% dư nợ của toàn Ngân hàng, trong đó dư nợ hộ sản xuất
ngắn hạn là 364,3 tỷ chiếm 60,6% dư nợ hộ sản xuất, dư nợ hộ sản xuất trung, dài
hạn là 239,1 tỷ đồng chiếm 39,4% dư nợ hộ sản xuất.
Những thành tựu to lớn mà Ngân hàng có được trong mấy năm qua là do:
Ngân hàng chuyển đổi cơ cấu đầu tư, cho vay theo dự án. Mở rộng mạng lưới hoạt
động. Chuyển tải vốn đến hộ sản xuất thích hợp trong từng giai đoạn nhưng vẫn thực
hiện mục tiêu tăng trưởng tín dụng đáp ứng nhu cầu vay vốn cho phát triển kinh tế
xã hội ở địa phương. Sự thành công này của Ngân hàng phải kể đến sự đóng góp của
tổ vay vốn. Tổ vay vốn có trách nhiệm: nhận hướng dẫn việc lập hồ sơ vốn vay; tổ
chức bình xét nhu cầu vay vốn của từng thành viên; kiểm tra, giám sát việc sử dụng
vốn vay đúng mục đích; đôn đốc các thành viên trong tổ trả nợ gốc và lãi cho Ngân
hàng đúng hạn; cùng phối hợp với Ngân hàng để xử lý các thành viên trong tổ vi
phạm. Tuy nhiên tổ vay vốn còn những tồn tại như tổ chỉ thực hiện một số khâu
trong việc cho vay thu hồi nợ lãi,...còn các quá trình khác như khuyến khích thông tin
tiếp thị, kỹ thuật... chưa gắn kết đồng bộ, trình độ hiểu biết của tổ chưa đồng đều.
Tóm lại, dù còn nhiều hạn chế nhưng những cố gắng của Ngân hàng Vĩnh
Long đã mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực, góp phần ổn định và phát triển kinh tế

lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, sự quan tâm của các ban ngành
và sự đồng tình của toàn xã hội.
Thứ hai, trong tình hình đổi mới, trước hết là đổi mới công tác tổ chức và cán
bộ. Việc sắp xếp cán bộ được dựa trên cơ sở kế thừa và phải tuyển dụng, trẻ hoá đội
ngũ.
Thứ ba, hoạt động trong môi trường kinh tế thị trường, nhiều vấn đề về mặt
trái của xã hội thường xuyên xảy ra. Vì vậy, cần phải tăng cường công tác thanh tra,
kiểm soát, nhất là việc kiểm soát nội bộ của các tổ chức tín dụng.
Thứ tư, phải không ngừng hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng.
Thứ năm, thực hiện các phong trào thi đua, tạo khí thế sôi nổi trong toàn thể
cán bộ công nhân viên của Ngân hàng. cần động viên, khen thưởng kịp thời đối với
những đơn vị hay cá nhân có thành tíc xuất sắc, cương quyết xử lý những sai phạm,
tiêu cực.
Thứ bảy, tăng cường sự đoàn kết nội bộ.
II. GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI
KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG CÔNG
THƯƠNG ĐỐNG ĐA
1. Các chỉ tiêu kinh doanh và biện pháp thực hiện các chỉ tiêu năm 2002
của Ngân hàng Công thương Đống Đa
Phát huy những kết quả đã đạt được trong năm 2001, triển khai thực hiện
nhiệm vụ kinh doanh dịch vụ tiền tệ năm 2002, năm đầu tiên của Thiên niên kỷ mới
và cũng là năm đầu của kế hoạch 5 năm 2002 – 2005với mục tiêu “Phát triển - an
toàn - hiệu quả” Ngân hàng Công thương Đống Đa đề ra một số nghiệm vụ kinh
doanh năm 2002 như sau:
- Nguồn vốn huy động đến 31/12/2002 đạt 1960 tỷ đồng
- Tổng dư nợ đạt 1120 tỷ đồng, trong đó khối quốc doanh đạt 88%, ngoài quốc
doanh đạt 22%
- Dự nợ trung dài hạn đạt tỷ trọng 45%
- Tỷ lệ nợ quá hạn không quá 3,5%
- Lợi nhuận hạch toán đạt 23 tỷ đồng.

Ngân hàng Công thương Đống Đa với các thành phần ngoài quốc doanh ta nhận
thấy rằng việc cho vay với các thành phần này có chiều hướng giảm dần cả về mặt
chất lượng và số lượng. Sở dĩ như vậy là do vấn đề nợ khó đòi, nợ quá hạn đã và
đang ngày một gia tăng theo các năm. Ngân hàng đứng trước nguy cơ mất vốn, vì
vậy đã thu hẹp cho vay đối với khu vực này trong khi bản thân Ngân hàng vẫn còn
thừa đọng vốn. Như vậy, việc mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác cho vay khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh là rất cần thiết đối với tín dụng ngân hàng và sự phát
triển của Ngân hàng Công thương Đống Đa. Ngân hàng phải là một chỗ dựa tin cậy,
là người bạn lớn của mọi thành phần kinh tế, giúp đỡ, tư vấn cho các doanh nghiệp
về vốn, tư vấn thông tin, kiến thức, công nghệ...để các doanh nghiệp tồn tại và phát
huy vai trò của mình, đồng thời Ngân hàng cũng mở rộng được thị trường, tăng uy
tín,cỉa thiện nguồn thu nhập.
Cùng với quá trình chuyển đổi của đất nước, nhành Ngân hàng nói chung và
các Ngân hàng thương mại quốc doanh nói riêng đang từng bước thay đổi cơ cấu tín
dụng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều loại hình
doanh nghiệp khác nhau. Trước đây, tín dụng tập trung đầu tư vào khu vực kinh tế
quốc doanh, còn cho vay đối với kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng không đáng
kể. Đến nay, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đang được quan tam hơn nhưng vẫn
còn hạn hẹp trong các Ngân hàng thương mại quốc doanh. Tuy Ngân hàng Công
thương Đống Đa được đánh giá là hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có lãi nhưng
kết quả này có được phần lớn là nhờ hoạt động cho vay đối với khu vực kinh tế quốc
doanh. Vì vậy, cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện hoạt động cho vay kinh tế
ngoài quốc doanh của Ngân hàng Công thương Đống Đa.
Việc cải thiện hoạt động cho vay kinh tế ngoài quốc doanh có nghĩa là vừa mở
rộng và phải vừa nâng cao chất lượng cho vay. Hai công việc này phải được kết hợp
đồng thời vì chúng là hai yếu tố đan xen và bổ trợ cho nhau. Để có thể mở rộng,
trước hết chất lượng mỗi món vay phỉa tốt để giảm tổn thất lớn cho Ngân hàng
trong trường hợp gặp rủi ro tín dụng. Khi cả việc mở rộng và chất lượng cho vay
được nâng cao thì hoạt động cho vay đó mới gọi là có hiệu quả.
2.1 Nâng cao hiệu quả khâu thẩm định

pháp nâng cao chất lượng hệ thống thông tin tín dụng của Ngân hàng Việt nam sẽ
được đề cập ở phần “Kiến nghị với NHVN”.
Thứ ba, Ngân hàng cần có bộ phận riêng quản lý các hồ sơ, giấy tờ của khách
hàng kể cả đối với những khách hàng tạm thời không có quan hệ tín dụng với Ngân
hàng. Đây cũng sẽ là nguồn thông tin quan trọng trong nhiều trường hợp cần thiết.
Thứ tư, chú trọng nguồn thông tin đại chúng vì đây là nguồn khách quan nhất.
Cần có sự hợp tác và trao đổi thường xuyên với những tổ chức tín dụng khác, các cơ
quan, tổ chức chính quyền địa phương và giữ tốt mối hệ với khách hàng vì đôi khi họ
có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin rất quý báu.
Tôi xin đề xuất một số phương pháp thu thập thông tin như sau:
- Phương pháp thu tin qua mạng máy nối với các tổ chức tín dụng.
- Phương pháp thu tin từ các biểu báo cáo (áp dụng với các tổ chức tín dụng chưa
có máy tính hoặc chưa có điều kiện nối mạng máy tính, ở Chi nhánh Ngân hàng Công
thương Đống Đa đã có các máy vi tính được nối mạng nhưng ở các phòng giao dịch
xa Chi nhánh chưa hệ thống máy tính được nối mạng, nên tại những phòng giao dịch
nên áp dụng phương pháp này).
- Thu tin qua đường công văn từ các cơ quan quản lý của Nhà nước hoặc chính
quyền địa phương thuộc địa bàn hoạt động của doanh nghiệp vay vốn.
- Phương pháp thu tin trực tiếp từ doanh nghiệp, gặp gỡ trực tiết để phỏng vấn
lãnh đạo doanh nghiệp hoặc gián tiếp qua điện thoại, fax để chuyển đến doanh
nghiệp một mẫu thu thập thông tin và đề nghị doanh nghiệp gửi về Ngân hàng các
thông tin dưới dạng văn bản.
- Phương pháp thu thập thông tin từ các cơ quan thông tin báo chí: đây là
phương pháp đơn giản nhưng rất hữu hiệu, thông tin có nguồn gốc xác thực, đa
dạng, phong phú.
- Phương pháp thu thập thông tin qua các mạng thông tin điện tử như mạng
Internet, Vinanet, mạng trí tuệ Việt nam của FPT, mạng Netnam, mạng 3C, tin
Reuter...
Như vậy, công việc thu thập thông tin rất phức tạp, vì vậy Ngân hàng nên thiết
lập một bộ phận thông tin tín dụng cho riêng mình. Điều này không chỉ làm tốt cho

nhưng có uy tín vàlàm ăn có hiệu quả thì Ngân hàng vẫn có thể cho vay trên cơ sở
đảm bảo của vốn vay chính là kết quả sản xuất có được do vốn vay đem lại. Vấn đề ở
đây là tài sản thế chấp không phải là điều kiện quan trọng nhất để Ngân hàng xét
cho vay hay không cho vay. Vấn đề chủ yếu là hiệu quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, uy tín trong làm ăn và sự sẵn lòng trả nợ của họ. Có như vậy Ngân
hàng sẽ linh động hơn trong việc đặt quan hệ với khách hàng, chứ không quá e dè,
chặt chễ dẫn đến “co cụm” tín dụng. Như vậy thì các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
có vốn ít, tài sản giá trị thấp mới có điều kiện vay vốn để phát triển và mử rộng sản
xuất trở thành những doanh nghiệp lớn hơn.
Để việc lựa chọn khách hàng được khoa học, Ngân hàng nên tiến hành phân tích
và xếp loại các doanh nghiệp nqdtheo 4 nhóm tiêu thức: quy mô doanh nghiệp, khả
năng thanh toán, quan hệ tín dụng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cụ thể:
- Quy mô doanh nghiệp được phân thành 3 loại: doanh nghiệp quy mô lớn, vừa
và nhỏ. Dựa trên các chỉ tiêu mức vốn điều lệ, số nhân viên, doanh số hoạt động.
- Đánh giá khả năng thanh toán được phân thành 3 loại: doanh nghiệp có khả
năng thanh toán tốt, trung bình và kém. Dựa trên cơ sở tính toán, phân tích khả
năng tài chính doanh nghiệp, báo cáo chu nghuyển tiền tệ.
- Đánh giá về quan hệ tín dụng của doanh nghiệp được phân thành 5 loại:
trong đó 4 loại: A,B, C,D được xếp loại khoản vay tương ứng nhóm A có dư nợ tốt
(khoản vay trong hạn có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn, các khoản vay đã
gia hạn nợ có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn); nhóm B có dư nợ có vấn đề
gồm các khoản nợ quá hạn <= 180 ngày; nhóm C là nhóm dư nợ tồi gồm các khoản
nơ quá hạn trong khoảng 181- 369 ngày; nhóm D là nhóm dư nợ rất tồi, các khoản
nợ quá hạn > 360 ngày; nhóm O là doanh nghiệp chưa có quan hệ tín dụng.
- Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh được phân thành hai loại: doanh
nghiệp kinh doanh lỗ và doanh nghiệp kinh doanh có lãi, dựa trên báo cáo kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ để đánh giá.
Khả năng sinh lời là yếu tố chính đo độ bền kinh tế, tài chính của doanh
nghiệp, là điều kiện để doanh nghiệp có thể trả nợ Ngân hàng. Ngân hàng cần tìm
hiểu, dự tình khi nào hoạt động có lãi, mức lãi bao nhiêu, thời gian kéo dài bao lâu?

hoàn thiện cơ chế cho vay đối với kinh tế ngoài quốc doanh là rất cần thiết. Yêu cầu

Trích đoạn Đối với cơ quan quản lý Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status