Hạn chế rủi ro Tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á - SeABank đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa - Pdf 26

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giải
SeABank Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á
Southeast Asia Commercial Joint Stock Bank
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
NH Ngân hàng
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần
NHNN Ngân hàng Nhà nước
TD Tín dụng
TCTD Tổ chức tín dụng
KH Khách hàng
VLĐ Vốn lưu động
VKD Vốn kinh doanh
SXKD Sản xuất kinh doanh
CIC Credit Information Center
Trung tâm thông tin tín dụng
RRTD Rủi ro tín dụng
QLRRTD Quản lý rủi ro tín dụng
TSĐB Tài sản đảm bảo
CBTD Cán bộ Tín dụng
NQH Nợ quá hạn
AO Account Officer
Cán bộ Tín dụng
KSNB Kiểm soát nội bộ
BTD Ban tín dụng
HĐTD Hội đồng tín dụng
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

HÌNH VẼ
Hình 3.1 Quy trình cho vay tại SeABank đối với DNNVV Error: Reference
source not found
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Doanh
nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hiện đang chiếm phần lớn trong nền kinh tế Việt
Nam, DNNVV đã đóng góp phần lớn vào GDP của nước ta. Đẩy mạnh hoạt động
tín dụng cho các DNNVV đã và đang là hướng phát triển mang tính chiến lược lâu
dài của các NHTM Việt Nam.
Theo thống kê năm 2010 có tới 95% DNNVV trong số các doanh nghiệp tại
Việt Nam. Hiểu được tầm quan trọng của các DNNVV đối với nền kinh tế nên ngay
từ những ngày đầu bước vào thời kỳ đổi mới và đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập
nền kinh tế quốc tế hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương
chính sách khuyến khích và hỗ trợ các DNNVV về mọi mặt như: hỗ trợ về vốn
trong sản xuất kinh doanh, công nghệ, thông tin, về đào tạo, Song để các DNNVV
phát triển và nâng cao vai trò của mình hơn nữa trong nền kinh tế thì ngoài sự trợ
giúp của Đảng và Nhà nước, các DNNVV cũng phải quan tâm đến các mối quan hệ
với khách hàng và quan hệ trên thị trường để các mối quan hệ này ngày càng phát
triển, trong đó mối quan hệ với các NHTM chiếm một vị trí rất quan trọng.
Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - SeABank là một trong những NHTM được
đánh giá khá cao trong hệ thống các NHTMCP ngoài quốc doanh hiện nay. Cũng như
hầu hết các NHTMCP khác, tín dụng là hoạt động truyền thống và đang mang lại lợi
nhuận chủ yếu cho SeABank. Ngay từ khi thành lập, định hướng chiến lược phát triển
cốt lõi của SeABank là trở thành ngân hàng bán lẻ tiêu biểu tại Việt Nam. Hội đồng
quản trị SeABank đã định hướng là phát triển đối tượng DNNVV và chủ động tạo điều
kiện cho các DNNVV tiếp cận được nguồn vốn tín dụng của SeABank.
Thực tế hoạt động tín dụng của các Ngân hàng Việt Nam nói chung và của
SeABank nói riêng trong thời gian qua cho thấy chất lượng tín dụng chưa tốt, hiệu
quả tín dụng chưa cao, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao và chưa có xu hướng giảm vững

* Phạm vi nghiên cứu:
2
+ Trong khuôn khổ luận văn này do thời gian và trình độ có hạn, tác giả xin
được chỉ đi vào phân tích rủi ro tín dụng tại SeABank đối với DNNVV.
+ Hạn chế rủi ro tín dụng bằng cách phòng ngừa hoặc các biện pháp xử lý khi xẩy
ra rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, luận văn cũng đi sâu vào phân tích các biện pháp phòng
ngừa rủi ro tín dụng là chính.
+ Rủi ro tín dụng tại SeABank đối với các DNNVV trong giai đoạn từ năm
2008 đến năm 2010.
4. Những đóng góp khoa học của luận văn
Những lợi ích mà tác giả hướng tới là hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro tín
dụng, nghiên cứu hoàn thiện, phát hiện những rủi ro tín dụng, từ đó đề xuất hệ
thống các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại SeABank.
+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại SeABank đối với
DNNVV nói riêng và đối với hoạt động tín dụng nói chung từ đó đưa ra những
đánh giá chung về hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng tại SeABank.
+ Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra một số quan điểm và giải pháp có tính chất khả
thi nhằm hạn chế rủi to tín dụng tại SeABank đối với DNNVV.
- Kết quả đề tài mang lại là những giá trị mà các Ngân hàng thương mại có thể
nghiên cứu, tham khảo xem xét để rút ra kinh nghiệm và áp dụng trong công tác hạn
chế rủi ro tín dụng đối với DNNVV nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng.
Đồng thời, đề tài cũng giúp các Ngân hàng thương mại nhận thức rõ hơn về tác
động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng và từ đó đưa ra các
giải pháp và kiến nghị một cách nghiêm túc và khoa học.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn được trình bày gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn.
Chương 2: Một số vấn đề cơ bản của NHTM về rủi ro tín dụng DNNVV.
Chương 3: Thực trạng rủi ro tín dụng tại SeABank đối với DNNVV.

5
động vốn có từ trước của Ngân hàng. Peter S.Rose đã chỉ ra rằng, hoạt động Ngân
hàng là hoạt động luôn luôn tiền ẩn rủi ro: Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro hối
đoái, rủi ro thanh khoản, rủi ro tồn đọng vốn và các rủi ro khác. Rủi ro tín dụng là
rủi ro mang tính sống còn của Ngân hàng, nó được phản ánh qua các chỉ tiêu như:
Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ; Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên
tổng dư nợ; Nợ có vấn đề; Tính đa dạng hóa của tài sản; Tình hình tài chính và
phương án của người vay (các yếu tố của người vay) hoặc xếp hạng tín dụng người
vay; Đảm bảo tín dụng; Quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng; Môi
trường hoạt động của người vay.
Các chỉ tiêu trên cung cấp cho Ngân hàng các thông tin, chỉ số để phản ánh
mức độ rủi ro tín dụng đối với từng khách hàng, từng ngành nghề, lĩnh vực kinh
doanh của khách hàng và trên toàn hệ thống. Các chỉ tiêu trên cung cấp cái khung
để phân tích các vấn đề trong rủi ro tín dụng và đánh giá được mức độ rủi ro và các
nguyên nhân dẫn đến rủi ro. Từ đó, nhà quản lý có thể đưa ra mô hình quản lý phù
hợp với điều kiện cụ thể tại ngân hàng mình, để quản lý hoạt động tín dụng của
ngân hàng mình tốt hơn, hiệu quả hơn. Mục tiêu cuối cùng cần đạt được của các nhà
quản lý là giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, nhằm tăng lợi
nhuận của ngân hàng.
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, để hạn chế rủi ro tín dụng cần
xác định những nguyên nhân cụ thể, cách thức gây rủi ro tín dụng đối với từng
nhóm sản phẩm, từng đối tượng khách hàng để có biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng
cụ thể và thiết thực nhất. Nhưng dù nhóm sảm phẩm hay đối lượng khách hàng nào
cũng chịu ảnh hưởng của hai nhóm nguyên nhân cơ bản sau:
+ Nguyên nhân chủ quan: do trình độ, đạo đức của cán bộ ngân hàng, thiếu giám
sát quản lý sau cho vay, không tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình, quy chế của ngân
hàng, lỏng lẻo trong khâu giám sát tài chính và kiểm tra, kiểm soát nội bộ,…
+ Nguyên nhân khách quan: Do khách hàng cố tình sử dụng vốn sai mục đích,
không có thiện trí và ý trí trong việc trả nợ vay, tình hình tài chính không minh
6

ngành nghề kinh doanh và các rủi ro có thể xảy ra.
Ở Nhật cũng có rất nhiều các DNNVV, chiếm tới hơn 75%. Nhưng quy định
để trở thanh một doanh nghiệp của Nhật phải đáp ứng được các yêu cầu cụ thể:
Người đứng đầu doanh nghiệp phải có chứng chỉ quản lý do Hội doanh nhân của
Nhật cấp, người đứng đầu doanh nghiệp phải am hiểu về lĩnh vực hoạt động sản
xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có tối thiểu là 35 công nhân. Ở Nhật, các doanh
nghiệp lớn là những doanh nghiệp có quy mô hoạt động xuyên quốc gia, còn lại là
DNNVV. Ở Nhật không có các doanh nghiệp siêu nhỏ như ở Việt Nam.
1.2. Một số nghiên cứu về hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng ở Việt Nam
Rủi ro tín dụng có thể xảy ra từ những nguyên nhân chủ quan của ngân hàng
và nguyên nhân khách quan do khách hàng và môi trường kinh tế, xã hội,… mang
lại. Nhận biết được những nguyên nhân trên là điều kiện cơ bản để phòng ngừa và
hạn chế rủi ro tín dụng (đây cũng là yếu tố cơ bản quyết định tính sống còn của một
ngân hàng). Trong giai đoạn vừa qua, các tổ chức tín dụng nói chung và các Ngân
hàng thương mại nói riêng đã thực hiện khá nhiều giải pháp hiệu quả để giảm thiểu
rủi ro tín dụng như: Áp dụng các quy trình, quy chế mang tính khoa học hơn, xử lý
nợ quá hạn, nợ có vấn đề hiệu quả hơn, nâng cao công tác thẩm định, quản lý hiệu
quả các dòng tiền,…
Tuy nhiên, quản lý rủi ro là một quá trình liên tục trong một NHTM nên để
hiệu quả hoạt động bền vững thì nhất thiết không ngừng đề ra các giải pháp để nâng
cao hơn nữa hiệu quả quản lý rủi ro, đặc biệt trong hoạt động tín dụng. NHTM
muốn giảm thiểu rủi ro cho mình nhất thiết phải có một hệ thống giải pháp chủ
động ngăn ngừa và hạn chế rủi ro từ những nguyên nhân chủ quan nội bộ cũng như
hạn chế sự ảnh hưởng từ phía khách hàng. Sự chủ động này được thể hiện ngay từ
khi xây dựng chính sách cho vay, quy trình cho vay, thực hiện quy trình và kể cả
các biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn gian lận từ phía khách hàng cũng như đảm bảo
8
an toàn vốn cho ngân hàng khi khách hàng gặp rủi ro.
Trên khía cạnh về vĩ mô của hạn chế rủi ro tín dụng PGS.TS Nguyền Hiền có
tác phẩm: Hạn chế rủi ro tín dụng, ngân hàng tìm “điểm tựa” năm 2009, Tác giả

và kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong hệ thống ngân hàng. Tác giả hầu như không đề
cập đến chính sách kinh tế vĩ mô, môi trường kinh tế xã hội và đặc biệt tác giả chỉ
nêu các giả pháp này chung cho tất cả các đối tượng khách hàng chứ chưa đề cập
riêng đến đối tượng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Như vậy, qua đánh giá tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan đến việc
quản lý rủi ro tín dụng, cũng như các nghiên cứu về hạn chế rủi ro tín dụng có thể
thấy hệ thống các nghiên cứu về lĩnh vực này đã góp phần hình thành một cơ sở lý
thuyết khá dày dặn, nhất quán cho việc hạn chế rủi ro tín dụng tại các NHTM. Các
nghiên cứu đã mang lại hệ thống lý luận cũng như những bài học kinh nghiệm trong
hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Tuy vậy, những nghiên cứu trên mới chỉ nghiên
cứu trên toàn hệ thống của một NHTM, hoặc chỉ nghiên cứu chung cho toàn bộ lĩnh
vực tín dụng trên phương diện vĩ mô hoặc trên phương diện lý thuyết, việc hạn chế
rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa được chú trọng.
10
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
2.1. Đặc điểm tín dụng Ngân hàng đối với DNNVV
2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ
và vừa, nhưng nhìn chung hầu hết các khái niệm đều cho rằng DNNVV là những
cơ sở sản xuất kinh doanh tương đối nhỏ với quy mô không lớn lắm. Tuy nhiên,
để có thể hiểu chính xác thế nào là quy mô tương đối nhỏ, không lớn lắm thì lại có
rất nhiều ý kiến khác nhau giữa các nhà kinh tế trong và ngoài nước. Hơn nữa việc
phân loại doanh nghiệp theo quy mô lớn, vừa hay nhỏ chỉ mang tính tương đối do
quá trình phân loại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ phát triển kinh tế
của một nước; loại hình ngành nghề sản xuất kinh doanh; tính chất lịch sử để lại,…
Theo các tiêu chí đó mỗi nước có một sự lựa chọn tiêu thức khác nhau để đưa

Tổng nguồn
vốn
Số lao động
Tổng
nguồn vốn
Số lao động
I. Nông, lâm
nghiệp và
thủy sản
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng trở
xuống
Từ trên 10
người đến
200 người
Từ trên 20
tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
Từ trên 200
người đến
300 người
II. Công
nghiệp và
xây dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng trở
xuống
Từ trên 10

2.1.1.2. Đặc trưng của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tuy khái niệm DNNVV ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung các khái
niệm đều khẳng định rằng DNNVV là hàm ý nói tới một tập hợp các thực thể kinh
tế có quy mô nhỏ và vừa xét trên phương diện vốn, lao động so với mặt bằng phát
triển chung của nền kinh tế ở một quốc gia nhất định và có những lợi thế và cũng có
những hạn chế cơ bản sau:
* Lợi thế của DNVVN:
+ DNNVV dễ dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ. Khác với các
doanh nghiệp lớn, DNNVV với yêu cầu vốn bổ sung không nhiều và giảm được sự
thiệt hại trong việc thay đổi tư bản cố định khi có sự cạnh tranh phải chuyển sang
kinh doanh ngành khác nên các DNNVV dễ dàng và nhanh chóng trong việc đổi
mới thiết bị công nghệ khi cần thiết.
+ Các DNNVV được thành lập với lượng vốn đầu tư ban đầu ít, hoạt động có
hiệu quả với chi phí cố định thấp, thu hồi vốn nhanh. Hầu hết các DNNVV đều có
thể dễ dàng bắt đầu hoạt động ngay sau khi có ý tưởng kinh doanh với một ít vốn
cũng như lao động.
+ DNNVV có hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý gọn nhŠ, linh hoạt. Công
tác điều hành tại các DNNVV mang tính trực tiếp, quan hệ giữa những người lao
động và người quản lý khá chặt chẽ, gắn bó, tạo ra môi trường làm việc tốt.
+ DNNVV năng động linh hoạt, tự do sáng tạo trong kinh doanh và dễ thích
nghi với những thay đổi của nền kinh tế. DNNVV năng động hơn các doanh
nghiệp lớn trước những thay đổi liên tục của thị trường. Với ưu thế quy mô vốn
nhỏ, cơ sở vật chất không lớn, cơ cấu bộ máy quản lý gọn nhŠ, DNNVV có khả
năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển đổi mặt hàng nhanh hơn, tăng giảm lao
động dễ dàng, có thể chuyển đổi mở rộng hoặc thu hŠp quy mô sản xuất mà không
gây hậu quả gì lớn.
13
+ DNNVV là sự bổ sung thiết yếu cho chính sự sinh tồn và phát triển các
doanh nghiệp lớn. Về nghiên cứu triển khai, DNNVV là nơi thử nghiệm những đổi
mới phát minh sáng chế. Về sản xuất, DNNVV là người đảm nhiệm có hiệu quả

bị công nghệ hiện đại, trừ khi liên doanh với nước ngoài.
+ DNNVV có năng lực tài chính bị bó hŠp và được thể hiện ngay từ tên gọi
của loại hình doanh nghiệp này. Các DNNVV luôn gặp khó khăn trong giai đoạn
mới hình thành, phần lớn các DNNVV đều gặp phải khó khăn về vốn. Các NHTM
cũng như các tổ chức tài chính khác thường e ngại không muốn cho DNNVV vay
vốn bởi vì họ chưa có quá trình kinh doanh uy tín và chưa tạo lập được khả năng trả
nợ với ngân hàng.
+ DNNVV có trình độ đội ngũ cán bộ quản lý và người lao động chưa cao.
Các DNNVV thường thiếu đội ngũ lao động có trình độ tay nghề, có khả năng đáp
ứng yêu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Hơn
nữa, nhiều cán bộ quản lý, chủ doanh nghiệp thiếu kiến thức quản lý, trình độ
chuyên môn, thậm chí trình độ văn hoá thấp, thiếu kinh nghiệm nhiều mặt từ kỹ
năng quản lý đến hiểu biết về công nghệ và thị trường.
+ DNNVV có phương pháp hạch toán kế toán thường không đầy đủ, không
chính xác và thiếu minh bạch. Khả năng lập các phương án sản xuất kinh doanh còn
yếu, tính thuyết phục chưa cao. Doanh nghiệp chưa chỉ cho ngân hàng thấy được lợi
thế cạnh tranh của doanh nghiệp mình so với các doanh nghiệp khác, không dự trù
được đầy đủ các chi phí cũng như các khoản thu để từ đó ước tính lợi nhuận mà
phương án đem lại.
+ DNNVV thiếu sức phòng, tránh và chống các rủi ro. Càng có nhiều
DNNVV ra đời thì càng có nhiều DNVVN phá sản. Trong những năm qua, nhà
nước luôn khuyến khích phát triển thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vì thế các
thủ tục thành lập doanh nghiệp đơn giản hơn, chi phí thấp hơn. Mặc dù có ưu thế
linh hoạt song do khả năng tài chính bị hạn chế, khi có biến động lớn trên thị
trường, các DNNVV dễ rơi vào tình trạng phá sản do không có đủ nguồn lực để
khắc phục khó khăn.
15
Tóm lại, DNNVV có rất nhiều thuận lợi nhưng có không ít những hạn chế. Để
tạo điều kiện và khuyến khích các DNNVV khai thác, phát huy hết lợi thế cũng như
khắc phục những bất lợi hạn chế sự phát triển của DNNVV, Nhà nước cần đưa ra

dụng ngân hàng chủ yếu dưới hình thức tiền tệ song trong một số hình thức tín dụng
khác như cho thuê tài chính thì tài sản trong giao dịch tín dụng có thể là tài sản cố
định, hay có khi là uy tín như trong các hình thức bảo lãnh.
2.1.3. Bản chất tín dụng ngân hàng đối với DNNVV
Do quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNVV không lớn nên tín
dụng ngân hàng dành cho các loại hình doanh nghiệp này cũng không lớn; DNNVV
chủ yếu vay vốn để tài trợ cho sự thiếu hụt về vốn lưu động, nên các khoản vay
mang tính nhỏ, lẻ; Do nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan nên hầu hết các
DNNVV thường vay các khoản vốn ngắn hạn là chính. Các khoản vốn này chủ yếu phục
vụ cho quá trình sản xuất chứ chưa có tác dụng nâng cao, mở rộng năng lực sản xuất.
Nên cho vay trung dài hạn đối với các DNNVV chiếm một tỷ lệ nhỏ trong
tổng nguồn vốn cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này. Và tỷ lệ nhỏ đó lại
thuộc về đại đa số các DNNVV thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước; Cho vay
DNNVV chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, những rủi ro đó xuất phát chính từ những
đặc điểm của nó như vốn ít, trình độ công nghệ và quản lý hạn chế gây ra cho
doanh nghiệp những khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh.
2.1.4. Các hình thức tín dụng của ngân hàng đối với DNNVV
Từ khi hình thành đến nay các ngân hàng đã không ngừng đổi mới hoạt động
của mình cho phù hợp với những điều kiện khác nhau của nền kinh tế. Cùng với sự
phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, các hình thức tín dụng
của ngân hàng cũng ngày càng trở nên phong phú và đa dạng, đáp ứng các nhu cầu
khác nhau về vốn. Tín dụng ngân hàng đã trở thành người bạn đồng hành thân thiết,
là động lực thúc đẩy quan trọng của từng doanh nghiệp. Đối với DNNVV, ngân
hàng có các hình thức tín dụng cơ bản được chia theo các hình thức sau:
2.1.4.1. Phân loại theo hình thức tài trợ tín dụng
a. Cho vay:
17
Khi một tổ chức tín dụng cấp tín dụng (giao) cho doanh nghiệp sử dụng một
khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với
nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi thì gọi là cho vay. Cho vay là phương thức

•Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước
d. Cho thuê tài chính:
Cho thuê tài chính là việc ngân hàng bỏ tiền mua các tài sản theo yêu cầu của
doanh nghiệp để cho doanh nghiệp thuê theo những thoả thuận nhất định, và sau
một thời gian nhất định doanh nghiệp phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng. Tài sản
cho thuê thường là tài sản cố định và có giá trị lớn.
2.1.4.2. Phân loại theo sự đảm bảo tín dụng
a. Tín dụng không có TSĐB (hay còn gọi là tín chấp)
Về nguyên tắc mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều có đảm bảo. Tuy nhiên
trong một số trường hợp, ngân hàng vẫn có thể cấp tín dụng cho doanh nghiệp
không cần có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh mà chỉ dựa trên uy tín của doanh
nghiệp với ngân hàng, khi đó được gọi là tín dụng không có đảm bảo. Hình thức tín
dụng này thường được cấp cho các doanh nghiệp có uy tín, làm ăn thường xuyên có
lãi, tình hình tài chính lành mạnh, vững chắc.
b. Tín dụng có tài sản đảm bảo
Hình thức tín dụng này yêu cầu khi doanh nghiệp vay vốn phải có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba. Ngân hàng sẽ kiểm tra, đánh giá tài
sản đảm bảo về các nội dung như quyền sở hữu, giá trị thị trường, khả năng bán tài
sản, khả năng tài chính của bên bảo lãnh… để có thể giám sát, bảo quản tài sản đảm
bảo và thanh lý tài sản khi doanh nghiệp không trả được nợ vay.
19
2.1.4.3. Phân loại theo thời hạn tín dụng bao gồm các loại
a. Tín dụng ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng. Hình thức tín
dụng này thường được ngân hàng sử dụng để tài trợ cho các nhu cầu vốn ngắn ngày
của doanh nghiệp như: bổ sung VLĐ, bổ sung VKD
b. Tín dụng trung hạn
Tín dụng trung hạn là loại hình tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Đối
với loại hình tín dụng này khách hàng là các doanh nghiệp có nhu cầu tín dụng
trung hạn để phục vụ việc mua sắm trtang thiết bị tài sản cố định, cải tiến và đổi

hàng cụ thể Ngân hàng không dự kiến là khoản vay đó sẽ gặp tổn thất. Tuy nhiên,
những khoản nợ cho vay đó luôn hàm chứa rủi ro.
2.2.2. Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng,
nên rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất của
NHTM – hoạt động tín dụng.
Khi thực hiện một hoạt động tín dụng cụ thể, ngân hàng sẽ phân tích các yếu
tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất. Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết
định cho vay khi thấy an toàn. Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh Ngân hàng tài
ba nào có thể dự đoán chính xác vấn đề sẽ xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay và trả
lãi của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân. Hơn nữa, nhiều cán bộ
ngân hàng không có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng. Do vậy trên
quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi và là
khách quan. Nhiều quan điểm nhất trí rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh
doanh Ngân hàng, có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ. Do vậy, rủi ro
dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của Ngân hàng.
2.2.3. Một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là yếu tố mang tính chất khách quan, song ngân hàng phải
quản lý rủi ro tín dụng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất hạn mức có thể xảy ra. Từ
21

Trích đoạn Khái quát quan hệ tín dụng tại SeABank đối với DNN Cơ cấu cho vay tại SeABank đối với DNN Nợ quá hạn tại SeABank Hạn chế và nguyên nhân tại SeABank Nguyên nhân chủ quan thuộc về SeABank
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status