MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Đối với bất kỳ quốc gia nào, hoạt động ngân hang luôn là huyết mạch
của nền kinh tế, sự ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hang giữ vai trò
trọng yếu trong việc ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Ngân hang huy
động vốn nhàn rỗi trong xã hội để đáp ứng vốn cho sản xuất kinh doanh và
tiêu dung của xã hội. Vì vậy, để đảm bảo ổn định và lành mạnh của hệ thống
ngân hang thì hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dung của xã hội ( trong
đó có Chi tiêu Chính Phủ, tiêu dung của các nhân và doanh nghiệp) cũng phải
được lành mạnh hoá. Người vay tiền sử dụng đồng vốn không hiệu quả ,
những khó khăn đó cũng sẽ đổ dồn gánh nặng cho ngân hang.
Hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) của Việt Nam đã phát triển rất
mạnh kể từ đầu thập niên 90 thế kỷ XX đến nay và đã có những đóng góp rất
lớn vào sự phát triển của đất nước với tổng tài sản gấp hơn 2 lần so với GDP,
trong đó, tổng vốn tín dụng cho nền kinh tế đã tăng rất nhanh và lên đến 125%
GDP vào cuối năm 2010. Hệ thống các TCTD nói chung, hệ thống các ngân
hàng thương mại (NHTM) nói riêng đã đẩy mạnh hoạt động huy động vốn với
tổng tiền gửi lên tới trên 100% GDP và trở thành nguồn cung ứng vốn chủ yếu
cho nền kinh tế, cả cung ứng vốn ngắn hạn, cũng như vốn trung và dài hạn, cả
vốn bằng đồng Việt Nam (VND) cũng như vốn bằng ngoại tệ. Một số NHTM
và tổ chức tín dụng lớn đã vươn lên thành tập đoàn tài chính với quy mô vốn
điều lệ tương đương hàng trăm triệu USD, hoạt động đầu tư trong nhiều lĩnh
vực như chứng khoán, bất động sản, bảo hiểm, vàng và ngoại tệ, cho thuê tài
chính,… thông qua hệ thống hàng trăm chi nhánh, sử dụng hàng vạn lao động,
thành lập nhiều công ty con,… đạt lợi nhuận mỗi năm tới hàng nghìn tỷ VND,
kể cả khi nền kinh tế gặp khó khăn như những năm 2009 hay năm 2011.
Tuy nhiên, chính sự “bùng nổ” hoạt động cả về quy mô và mức độ đa
dạng của hệ thống ngân hàng trong thời gian ngắn vừa qua đã tiềm ẩn những
rủi ro và nguy cơ lớn tác động trực tiếp đến sự an toàn và lành mạnh của hệ
1
thống ngân hàng thương mại. Đó là nguyên nhân quan trọng nhất buộc Việt
Ngân hàng và tái cấu trúc hệ thốngngân hàng luôn là chủ đề “nóng” khi
bàn luận về kinh tế Việt Nam. Đã có nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu,
của các chuyên gia trong và ngoài nước về tái cấu trúc ngân hàng với góc nhìn
và đánh giá khác nhau. Thực tế đã có 3 ngân hàng tiến hành hợp nhất ( Ngân
hàng Đệ Nhất, Tín Nghĩa và Sài Gòn). Đây là bước đi đầu tiên trong tiến trình
tái cấu trúc các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Vậy tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là gì?
Cụm từ "tái cấu trúc hệ thống ngân hàng" chỉ dùng khi có bằng chứng
mất khả năng thanh toán của một bộ phận trong hệ thống ngân hàng thương
mại ở một quy mô nhất định nào đó, mà theo như một số tác giả thì tương
đương với 20% tổng lượng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng. Nếu ở quy mô
nhỏ hơn thì cụm từ "tái cấu trúc ngân hàng" là chính xác hơn, liên quan đến
việc xử lý khả năng mất thanh khoản của từng ngân hàng riêng biệt.
Ở Việt Nam, vì chưa/không có những số liệu đáng tin cậy về rủi ro mất
thanh khoản của từng ngân hàng và cả hệ thống ngân hàng nên sự cần thiết
phải tiến hành "tái cấu trúc hệ thống ngân hàng" đã chưa được minh chứng
đầy đủ, gợi cho ta thấy cái gì đó như có tính phong trào, cũng như kiểu gần
đây rộ lên cụm từ "tái cấu trúc nền kinh tế", mặc dù không có nhiều người
hiểu đúng thế nào là tái cấu trúc nền kinh tế và, quan trọng hơn, là nên bắt đầu
từ đâu, làm như thế nào, bằng phương tiện gì v.v
Giả thiết rằng hệ thống ngân hàng Việt Nam đang trên bờ vực khủng
hoảng, mất khả năng thanh toán do nợ xấu tăng mạnh và thiếu hụt thanh khoản
(ở một số ngân hàng, và có khả năng lây lan rộng và nhanh chóng), cần phải
thực thi ngay việc tái cấu trúc nó.
2. Các mục tiêu chung của tái cấu trúc ngân hàng
Động cơ tái cấu trúc – Các vấn đề điển hình
Khủng hoảng tài chính kinh tế – Các vấn đề của khu vực kinh tế thực
3
Nợ xấu gia tăng ( căng thẳng của khu vực thực và rủi ro quá mức đối
với lĩnh vực bất động sản, ngoại hối, các doanh nghiệp thua lỗ (kể cả doanh
có thấp hơn tốc độ tăng so với các năm, tăng 5.89% so với năm 2010 và đạt
khoảng 119 tỷ USD. Việt Nam hiện có quan hệ thương mại và đầu tư với hơn
200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Điều đáng mừng là Việt Nam đã
ra khỏi nhóm nước nghèo và gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình…
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu vô cùng to lớn và làm thay đổi
hoàn toàn hình ảnh Việt Nam trong vòng 2 thập kỷ trở lại đây, kinh tế Việt
Nam cũng bộc lộ nhiều khó khăn, nhiều bất cập cần nhanh chóng xử lý như
lạm phát cao; tỷ lệ đầu tư/GDP cao; chỉ số ICOR cao; nợ nước ngoài tăng
nhanh, khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam thấp…
Trong bối cảnh biến động nhanh chóng và khó lường của kinh tế thế giới
hiện nay, kinh tế Việt Nam cần kịp thời xử lý các vấn đề đang tồn tại nếu
không muốn một lần nữa có thể tụt hậu so với sự phát triển chung của kinh tế
toàn cầu.
Các ngân hàng thương mại Việt nam đang và sẽ phải đối mặt với các vấn
đề nghiêm trọng do chất lượng tài sản kém, khó khăn về thanh khoản, chất
lượng lợi nhuận thấp, yếu kém về quản trị và về quản lý rủi ro. Do vậy, Chính
phủ cần phải nhanh chóng đưa ra được chương trình tái cơ cấu ngành để giúp
các ngân hàng không bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán do khánh
kiệt về vốn và khôi phục năng lực của hệ thống ngân hàng giúp thúc đẩy nền
kinh tế nhanh hồi phục. Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI đã ra chỉ
thị “cấu trúc lại hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính theo
hướng sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính
nhỏ”.
Bối cảnh hiện tại
Trong năm năm gần đây nhờ có chính sách cởi mở của Chính phủ, hệ
thống ngân hàng Việt nam đã tăng trưởng mạnh kể cả về quy mô tài sản và số
lượng các ngân hàng. Tính đến ngày 31/12/2010, theo NHNN, tổng tài sản
5
trong hệ thống đã lên tới hơn 3,5 triệu tỷ VND (175 tỷ USD) và dự nợ cho vay
ở mức 125 tỷ USD tương đương với 120% GDP của nền kinh tế (Thái lan:
cấu nền kinh tế, trong đó 3 lĩnh vực “nóng và trọng điểm”, có ý nghĩa sống
còn đối với nền kinh tế cần phải tái cấu trúc, đó là tái cấu trúc đầu tư với trọng
tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc
hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính; tái cấu trúc doanh
nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà
nước.
Như vậy, Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khóa XI đã khẳng định lĩnh
vực tài chính - ngân hàng hiện là một trong những khâu “yếu” nhất của nền
kinh tế và cần phải tái cấu trúc.
Điều này hoàn toàn đúng nếu nhìn ra kinh tế thế giới trong những năm
gần đây đã khẳng định vai trò và ý nghĩa quyết định của lĩnh vực kinh tế dịch
vụ mà tài chính - ngân hàng là trung tâm đối với kinh tế toàn cầu.
Chứng kiến các khủng hoảng kinh tế thời gian qua cho thấy hiện tại và
có thể sau này lĩnh vực tài chính - ngân hàng vẫn là khâu “yếu” nhất, dễ phát
sinh khủng hoảng nhất và gây tổn thất lớn nhất cho mọi nền kinh tế mà kinh tế
Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.
4.1. Sự phát triển của NHTM ở Việt Nam
Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến tháng 6-2011, tại Việt Nam có 179
tổ chức tín dụng các loại, bao gồm: 5 NHTM nhà nước; 1 Ngân hàng Chính
sách Xã hội Việt Nam; 37 NHTM cổ phần tư nhân; 48 Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài tại Việt Nam; 5 ngân hàng liên doanh; 5 ngân hàng 100% vốn
nước ngoài; 48 văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài; 17 Cty tài chính và
13 Cty cho thuê tài chính.
Đây là quá trình phát triển mạnh mẽ, vượt bậc của toàn hệ thống ngân
hàng thương mại (NHTM) từ năm 1990 trở lại đây. Hoạt động của NHTM từ
“huy động và cho vay” trước kia đã phát triển tới gần 300 sản phẩm dịch vụ
7
với giá trị đạt khoảng 125 tỷ USD (gấp 1,25 GDP) và phạm vi hoạt động
không chỉ trong nước mà còn vươn ra toàn thế giới.
Nếu nói về quá trình hình thành và phát triển của hệ thống NHTM, có thể
giai đoạn đồng thời cũng là 4 lần thay đổi và phù hợp với 1 Pháp lệnh và 3
Luật về các tổ chức tín dụng kế tiếp nhau. Có thể gọi đó là 4 lần “tái cấu trúc”,
cụ thể:
Lần thứ nhất, từ 23/5/1990 đến 30/9/1998, giai đoạn này Pháp lệnh ngân
hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính được Hội đồng Nhà nước ban
hành và có hiệu lực. Pháp lệnh đã thay thế Nghị định 53/NĐ ngày 26/3/1988
của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và một lần nữa tạo điều kiện cho hệ thống
NHTM thay đổi mạnh mẽ về số lượng và chất lượng.
Đặc điểm chính của giai đoạn này là nhiều ngân hàng TMCP (có vốn
hoặc không có vốn của nhà nước), nhiều văn phòng đại diện của ngân hàng
nước ngoài, nhiều ngân hàng liên doanh, nhiều chi nhánh ngân hàng nước
ngoài…đã được thành lập và từng bước chiếm lĩnh thị trường…
Sự thay đổi này thích ứng với việc chuyển đổi từng bước nền kinh tế từ
hành chính – bao cấp sang cơ chế thị trường. Giai đoạn này cũng chứng kiến
sự thu hẹp của khối doanh nghiệp nhà nước (từ 12.000 xuống còn khoảng
4.000-5.000 doanh nghiệp) và ra đời nhiều doanh nghiệp mà chúng ta còn gọi
là ngoài quốc doanh (bao gồm Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Công ty 9oil
doanh…).
Lần thứ hai, giai đoạn từ 1/10/1998 đến 30/9/2004, đây là giai đoạn thực
hiện Luật Các tổ chức tín dụng số 07/1997/QHX ngày 12/12/1997. Thời gian
này hoạt động của các NHTM được Luật hóa với rất nhiều qui định mới chưa
có trong Pháp lệnh ngân hàng năm 1990. Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997
được xây dựng gồm 11 chương và 131 điều (Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã
tín dụng và công ty tài chính năm 1990 chỉ có 8 chương và 51 điều) với nhiều
qui định cụ thể về thuật ngữ, về các loại hình tổ chức tín dụng, về vai trò quản
lý của NHNN…
9
Điều này chứng tỏ luật năm 1997 đã kế thừa nhiều ưu điểm của Pháp
lệnh năm 1990 và tính đến thực tế hoạt động của hệ thống NHTM từ năm
1990 đến năm 1997.
đoạn này cũng chứng kiến sự tham gia mạnh mẽ của các tổ chức tài chính
nước ngoài vào hoạt động của hệ thống ngân hàng TMCP và sự “bùng nổ” số
lượng NHTM tham gia thị trường chứng khoán.
Lần thứ tư, từ 1/1/2011 đến nay. Sau giai đoạn “cực thịnh” là giai đoạn
“suy thoái và khủng khoảng” và điều này hoàn toàn đúng với hệ thống NHTM
hiện nay. Sự phát triển nhanh về số lượng (nhưng không tương xứng về chất
lượng) các NHTM trong bối cảnh kinh tế toàn cầu và Việt Nam có nhiều khó
khăn đã đặt hệ thống NHTM vào tình thế “đặc biệt” theo nghĩa không tích
cực.
Đã xuất hiện sự “rối loạn” trong hoạt động của một số NHTM khi “hết
tiền” khi khó huy động tiền ở cả khu vực 1 và khu vực 2.
Giai đoạn này chứng kiến nhiều tình huống mà trước kia không một ai có
thể lường tới, đó là lãi suất huy động vượt quá 20%/năm; lãi suất trên thị
trường 11oil ngân hàng có lúc vượt quá 40%; nợ xấu vào khoảng 3,1% (có thể
còn cao hơn) và điều nguy hiểm hơn khi trên thị trường 11oil ngân hàng cũng
“dính” vào nợ xấu, ngân hàng cũng nợ lẫn nhau và nợ khó đòi…
Những diễn biến xấu này đòi hỏi tái cấu trúc lại hệ thống NHTM hiện
nay là vô cùng cần thiết và vô cùng “cấp bách” nếu không muốn tình hình
vượt khỏi tầm “kiểm soát”.
Tái cấu trúc là qui luật khách quan và tất yếu: Quan sát sự phát triển của
hệ thống NHTM Việt Nam trong hơn 20 năm qua nhận thấy từ 5 – 7 năm lại
xuất hiện một chu kỳ mới và theo đó là một lần tái cơ cấu.
Với 4 giai đoạn phát triển nêu trên đã khẳng định, việc tái cấu trúc hệ
thống NHTM là việc làm thường xuyên và phù hợp với từng giai đoạn phát triển
của nền kinh tế cũng như thực trạng của hệ thống NHTM trong từng thời kỳ.
11
Nhìn ra thế giới, việc tái cấu trúc ngân hàng cũng là xu thế khi nước Mỹ
ban hành luật cải cách tài chính mà chúng ta thường gọi là luật Cải cách phố
Wall vào năm 2010 hay Châu Âu cũng phải kiểm tra lại “sức khỏe” các ngân
hàng sau khi “bão” nợ công bùng phát.
khoản nợ thương mại.
Nếu áp dụng đúng chuẩn mực quốc tế trong việc ghi nhận Nợ dưới chuẩn
NPL, thì tỷ lệ thực của hệ thống ngân hàng Việt nam trong bối cảnh khủng
hoảng kinh tế hiện nay là một ẩn số lớn. Nhìn sang sang Trung Quốc một nền
kinh tế được coi là vững vàng nhất thế giới, Ngân hàng Credit Suisse vào ngày
12/10/2011 đã nâng dự báo tỷ lệ nợ dưới chuẩn và không hiệu quả (NPL) của
hệ thống ngân hàng hơn gấp đôi từ 5% lên 12% trong “vài năm tới” và số nợ
NPL sẽ chiếm khoảng 65- 100% vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống ngân hàng
của Trung Quốc. Tức là nếu hệ thống ngân hàng Trung Quốc không được tái
cấu trúc về vốn hay tăng vốn, thì các ngân hàng sẽ mất gần hết vốn tự có trong
một vài năm tới. Tại Châu Âu, tỷ lệ tổng nợ NPL tại Cộng hòa Ailen là EUR
109 tỷ chiếm 20% tổng dư nợ. Tại Tây Ban Nha, các ngân hàng đã hạch toán
lỗ từ nợ NPL lên đến tới 9% GDP.
Chúng ta phải đặt câu hỏi là nếu tỷ lệ nợ NPL chỉ có 3.1% thì làm gì có
khủng hoảng và làm sao mà phải cơ cấu lại hệ thống ngân hàng?.
Thứ hai, mặc dù nhiều ngân hàng của Việt Nam đã đạt mức tỷ lệ đảm
bảo vốn tự có tối thiểu (Capital Adequacy Ratio “CAR”) trên 8% nhưng trên
bình diện chung, tỷ lệ CAR này cũng rất khác nhau giữa các ngân hàng và
nhóm ngân hàng. Quan trọng hơn, tỷ lệ này sẽ bị sụt giảm rất nhanh nếu như
hạch toán đúng dự phòng cho các chon nợ NPL. Lý do là chất lượng tài sản
suy giảm làm cho chi phí dự phòng gia tăng, làm ăn mòn lợi nhuận lũy kế và
từ đó giảm vốn tự có. Theo số liệu của StoxPlus, vốn chủ sở hữu của 43 ngân
hàng thương mại (không tính ngân hàng phát triển và 5 ngân hàng 100% vốn
nước ngoài) là 276 ngàn tỷ đồng (khoảng 14 tỷ USD) vào thời điểm
30/12/2010. Để thử sức đề kháng (stress test) của các ngân hàng, giả sử nếu
13
như NPL của hệ thống tăng thêm 10% (từ mức 3.1% theo số liệu của NHNN
tại 30/6/2011 lên 13.1%) và giả sử phải lập dự phòng đầy đủ (100% cho tất cả
nợ nhóm 2 đến nhóm 5) thì mức chi phí sẽ tăng thêm khoảng 10 tỷ USD. Khi
đó, vốn chủ sở hữu của hệ thống ngân hàng Việt nam sẽ chỉ còn 4 tỷ USD. Và
có thể cho vay, để các nước đang ngập trong nợ nần như Hy Lạp hay Iceland
có được cái phao cứu trợ nhằm vượt qua cơn bĩ cực.
Câu hỏi đặt ra là làm sao trong khi cả thế giới đang vật lộn với cuộc
khủng hoảng kinh tế tài chính, kể cả các ngân hàng lớn của Mỹ và châu Âu
cũng đang lao đao, thì khối ngân hàng Trung Quốc lại có vẻ không hề hấn gì,
mà ngược lại vẫn trụ vững và đang tích cực hỗ trợ chủ trương kích cầu của
Chính phủ bằng cách tăng cường cho vay và vẫn đảm bảo kiểm soát được rủi
ro tín dụng? Trong khi cuối những năm 1990, hầu hết ngân hàng Trung Quốc
15
đều vật lộn với vô số vấn đề như hiệu quả kinh doanh thấp, chất lượng tài sản
xấu đi, cạn kiệt thanh khoản, tỷ lệ nợ dưới chuẩn (NPL) thực tế thậm chí vượt
quá mức 40% ở nhiều tổ chức tín dụng…
NHTW cũng phải tổ chức lại
Bước đi đầu tiên của Chính phủ Trung Quốc trong tiến trình tái cấu trúc
hệ thống ngân hàng là tiến hành tổ chức lại Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa
(PBC) nhằm tăng cường khả năng giám sát và tính độc lập, tự chủ trong quản
lý, điều hành các chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương này. Tiếp theo
là củng cố và tăng cường hệ thống giám sát tài chính bằng việc thành lập Ủy
ban Giám sát Ngân hàng Trung Hoa, tập trung vào công tác quản trị rủi ro ở
các ngân hàng. Ban hành hàng loạt văn bản và quy định mới, áp dụng những
chuẩn mực kế toán và kiểm toán độc lập khắt khe hơn và những thông lệ quản
trị công ty hiện đại nhằm nâng cao tính minh bạch, khôi phục, duy trì niềm tin
của khách hàng, nhận diện những ngân hàng có vấn đề để kịp thời có biện
pháp hỗ trợ, xử lý.
Năm 1998, Trung Quốc thông báo bắt đầu áp dụng các quy tắc, quy định,
định mức và tỷ lệ an toàn theo chuẩn mực của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế
(BIS), tỷ lệ an toàn vốn (CAR) được nâng lên mức 8%; những quy định mới
về phân loại khoản vay. Nhờ đó, bức tranh toàn cảnh về số nợ dưới chuẩn trở
nên rõ ràng hơn và hình thành kế hoạch làm sạch bảng cân đối kế toán của các
NHTM nhà nước. Bốn công ty quản lý tài sản được thành lập để xử lý toàn bộ
cấu trúc hệ thống ngân hàng với tiến trình tái cấu trúc hệ thống các DNNN, tái
cơ cấu các khoản nợ của những doanh nghiệp này, chuyển đổi mô hình kinh
doanh ngân hàng, tăng cường chất lượng quản trị, giám sát tổng thể thị trường
tài chính, tiếp thu áp dụng kinh nghiệm của nước khác một cách có chọn
lọc…
5 yếu tố then chốt
5 yếu tố thành công then chốt trong công cuộc cải cách hệ thống ngân
hàng ở Trung Quốc bao gồm: (1) giải quyết triệt để các khoản nợ xấu, nợ dưới
17
chuẩn trong đó có tỷ lệ lớn là nợ ở khối DNNN; (2) tăng cường năng lực quản
trị ngân hàng bao gồm cả về tổ chức, nhân sự; (3) thu hút các nhà đầu tư chiến
lược; (4) đưa ngân hàng niêm yết ở trong nước và nước ngoài, một mặt giúp
các ngân hàng tăng vốn, mặt khác buộc các ngân hàng tự đẩy mạnh tái cấu
trúc để tuân thủ các chuẩn mực quốc tế theo yêu cầu của thị trường; (5) sử
dụng vốn huy động mới để tăng cường đầu tư vào hệ thống công nghệ, quản
trị rủi ro để nâng cao hiệu quả hoạt động cho các ngân hàng.
Trên thực tế, công cuộc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở mỗi một quốc
gia là đặc thù, xét đến điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội ở mỗi nước là khác
nhau. Hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng không giống với bất kỳ một quốc
gia nào khác, song có những nét tương đồng với các nước châu Á như
Malaysia hay Hàn Quốc, trên phương diện hệ thống ngân hàng Việt Nam có
nhiều ngân hàng nhỏ, phân tán, thiếu những ngân hàng đủ lớn làm trụ cột;
tương đồng với Trung Quốc về văn hóa, mối quan hệ của hệ thống ngân hàng
và khối DNNN. Ngoài ra, điều kiện ở Trung Quốc có khác biệt bởi nước này
đã có sẵn những ngân hàng trụ cột và rất lớn về mặt quy mô, song hoạt động
không khỏe mạnh, cần được cải tổ và tái cấu trúc.
1.3. Kinh nghiệm tái cấu trúc ngân hàng từ Hàn Quốc
Hàn Quốc là nền kinh tế hàng đầu của châu Á. Trong vòng 3 thập kỷ từ
đầu những năm 60 đến giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Hàn Quốc đã thành
công trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và trở thành một
Đầu tháng 3 năm 1998, Ủy ban Giám sát tài chính (FSC) được thành lập.
Công việc đầu tiên, FSC đã xác định được 12 trong tổng số 24 ngân hàng Hàn
Quốc không đủ khả năng tồn tại, và sau đó, yêu cầu 5 ngân hàng bị đình chỉ
giấy phép ngay lập tức và 7 ngân hàng còn lại chỉ được hoạt động trên cơ sở
có điều kiện.
5 ngân hàng bị ngừng hoạt động sau đó được các ngân hàng còn khả
năng hoạt động mua lại. Những khoản nợ không sinh lời của các ngân hàng
19
này được Cơ quan quản lý tài sản Hàn Quốc đứng ra mua. Bên cạnh đó, Chính
phủ Hàn Quốc còn hỗ trợ cho các ngân hàng được cơ cấu lại bằng việc cấp
thêm vốn thông qua trái phiếu chính phủ do Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Hàn
Quốc phát hành và được Chính phủ bảo lãnh. Nếu tài sản và nguồn vốn của
các ngân hàng bị đóng cửa bị mất giá trong quá trình mua lại hay sáp nhập thì
Chính phủ Hàn Quốc cũng sẽ đứng ra bù đắp cho những thiệt hại này.
Chính phủ Hàn Quốc cũng yêu cầu 7 ngân hàng được phép hoạt động có
điều kiện phải hợp nhất với nhau hoặc tự tìm đối tác nước ngoài có khả năng
về vốn và kinh nghiệm trong quản lý ngân hàng để hợp tác. Trong những
trường hợp đặc biệt, FSCcó thể mua lại những khoản nợ không sinh lời và tái
cấp vốn cho các ngân hàng này với những điều kiện như: phải giảm 45 - 50%
nhân viên, sắp xếp lại hoạt động của bộ máy lãnh đạo, củng cố hệ thống mạng
lưới chi nhánh, đảm bảo tìm kiếm được đối tác để hợp nhất hay đối tác nước
ngoài, và phải thay thế bộ máy điều hành cũ bằng đội ngũ chuyên gia ngân
hàng trong nước và quốc tế.
Tái cấu trúc ngân hàng: xử lý quan hệ ngân hàng - chính phủ - các
chaebol
Do các chaebol chiếm một tỷ lệ rất lớn nợ khó đòi trong hệ thống ngân
hàng Hàn Quốc, nên việc tái cơ cấu lại các chaebol đóng vai trò quan trọng
trong việc lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng. Chính phủ Hàn Quốc đã tiến
hành dỡ bỏ các hạn chế về lãi suất và do đó, làm cho lãi suất trên thị trường
tăng lên. Gánh nặng nợ nần của các doanh nghiệp ngày càng lớn. Sau khi Hàn
tham gia vào quá trình tái cấu trúc các chaebol;
- Đồng thời, Chính phủ đã phải chi một lượng vốn không nhỏ cho quá
trình này để xử lý các khoản nợ của các chaebol.
Bài học từ Hàn Quốc đã cho thấy, việc xem xét một cách nghiêm túc và
xây dựng phương án xử lý hợp lý, đặc biệt là vấn đề tài chính đề giải quyết
mối quan hệ ngân hàng, chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước là cần thiết
trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.
21
Kết luận
Như vậy, lộ trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể kết hợp
tham khảo những bài học thành công của các quốc gia này, trước hết là quá
trình xây dựng hệ thống ngân hàng mạnh với những ngân hàng đủ lớn như ở
Malaysia và Hàn Quốc, sau đó là tham khảo những biện pháp quyết liệt của
Chính phủ Trung Quốc nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả, an toàn và chất
lượng hoạt động của những ngân hàng trụ cột này, đáp ứng những tiêu chuẩn
quốc tế và vươn tầm cạnh tranh khu vực. Cũng như các quốc gia khác, tái cấu
trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam là một bài toán khó, song nỗ lực để tái
cấu trúc hệ thống ngân hàng của Chính phủ và NHNN Việt Nam với những
bước đi cụ thể cho thấy viễn cảnh lạc quan về nền kinh tế khỏe mạnh và có
sức thu hút lớn đối với các nhà đầu tư
2. Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Việt Nam bắt đầu từ đâu?
2.1. Hướng đi chung
Một khi đã có mục tiêu tổng thể rõ ràng và phương hướng cho việc tái
cấu trúc – “bạn muốn tới đâu”, để hiểu bản chất, phạm vi và mức độ của các
vấn đề - “xác định nơi chúng ta bắt đầu”
Chẩn đoán/ Đánh giá
Đánh giá sức khỏe tài chính của các tổ chức (trạng thái vốn, nợ xấu,
thanh khoản, khả năng thu lợi nhuận….)
22
Hiểu được các vấn đề cụ thể về tổ chức và cấu trúc như các hạn chế về
khủng hoảng năm 2009 đã thúc đẩy một
số quốc gia tăng hạn mức BHTG)
23
các điều kiện kinh tế hiện tại, tình trạng tài chính của các ngân hàng và chính
phủ, các hạn chế của khuôn khổ quản lý và pháp luật (kể cả luật phá sản và
các luật liên quan khác), năng lực về tổ chức của các tổ chức liên quan….
−Các giải pháp không nên được xem xét một cách biệt lập
Để thực hiện các biện pháp trên thì cần có những điều kiện cơ bản về
việc xác định một cách rõ rang và chính xác nhất có thể mức độ mất vốn của
các ngân hàng trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Xin lưu ý con số này phải được
đưa ra từ các cuộc rà soát đặc biệt với nhiều chuyên gia tư vấn trong nước và
quốc tế chứ không phải con số trên sổ sách kế toán do các ngân hàng báo cáo
vào công bố.
2.2.Cụ thể
2.2.1. Xác định rõ chất lượng tài sản, giá trị nợ xấu nợ dưới chuẩn
tại các ngân hàng thương mại và tính toán mức dự phòng rủi ro tín dụng
từ đó đánh giá mức độ đảm bảo của vốn tự có.
Các ngân hàng cần phải minh bạch trong việc phân loại kịp thời nợ xấu
và nợ dưới chuẩn (non-performing loan “NPL”) để có các biện pháp làm sạch
danh mục tín dụng và đảm bảo có đủ nguồn vốn để bù đắp các khoản lỗ.
Cải tổ phải bắt đầu nhìn thẳng vào sự thật. NHNN nên chỉ đạo nghiêm
ngặt các ngân hàng thương mại rà soát nghiêm minh chất lượng tài sản, đánh
giá trung thực tình hình tài chính sau đó mới nên đưa ra chiến lược tái cơ cấu
vốn và tái cơ cấu ngành. Càng trì hoãn công việc này thì sẽ càng làm trì hoãn
chương trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng.
Ví dụ ở Thái lan, để giải quyết cuộc khủng hoảng năm 1997, Ngân hàng
Trung ương Thái (BOT) đã xiết chặt quy định về phân loại nợ và chuẩn mực
kế toán về lập dự phòng rủi ro tín dụng. BOT đã yêu cầu các ngân hàng
thương mại Thái phân loại tất cả các khoản vay quá hạn lãi hoặc gốc ba tháng
thành nợ dưới chuẩn không hiệu quả, kết quả là tỷ lệ NPL tăng lên đến 45% và