Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn tỉnh Hải Dương - Pdf 26

SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
MỤC LỤC
GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương
SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DT : Dự toán
HĐND : Hội đồng nhân dân
NSNN :Ngân sách nhà nước
NSX : Ngân sách xã
QĐ : Quyết định
TH : Thực hiện
TNCN : Thu nhập cá nhân
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
TP : Thành phố
UBND : Ủy ban nhân dân
VAT : Thuế giá trị gia tăng
GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương
SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Tổ chức quản lý ngân sách xã ở tỉnh Hải Dương
Reference source not found
BIỂU
GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương
SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, các điều
kiện kinh tế xã hội cải thiện đáng kể, cuộc sống nhân dân ngày một khởi sắc, diện
mạo đất nước ngày càng vững bước đi lên. Trong quá trình thực hiện công nghiệp
hóa- hiện đại hóa ở nước ta, phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn là một trong
những mục tiêu quan trọng hàng đầu. Sản xuất nông nghiệp đã đạt được những

ngân sách xã trên địa bàn tỉnh Hải Dương với đề tài: “ Hoàn thiện công tác quản lý
ngân sách xã trên địa bàn tỉnh Hải Dương”. Mục đích của đề tài là thông qua
nghiên cứu tình hình quản lý ngân sách xã trên địa bàn tỉnh nhằm tìm tòi đề xuất
một số ý kiến góp phần đổi mới và hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý ngân sách
xã của tỉnh và của ngành tài chính trong thời gian tới. Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý ngân sách xã.
Chương 2: Thực trạng quản lý ngân sách xã trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách xã
trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Tuy nhiên do kiến thức thực tế có hạn, trên cơ sở nhận định và phân tích
tổng quát các vấn đề tiếp thu từ thực tiễn công tác qua thời gian thực tập của cá
nhân em, mặc dù cố gắng tìm tòi, nghiên cứu tiếp cận và phân tích các thông tin liên
quan, kết hợp lý luận thực tế, luận văn cũng sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế.
Vì vậy em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo để đề tài được bổ
sung hoàn thiện hơn.
CHƯƠNG 1
GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương
2
SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ
1.1. Tổng quan về ngân sách xã.
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển ngân sách xã.
Ngay từ lúc xã hội loài người bắt đầu phân chia giai cấp, cuộc đấu tranh giai
cấp đó đã hình thành lên Nhà nước. Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà
nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của nền kinh tế hàng hóa- tiền tệ trong
các phương thức sản xuất cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng.
Ở nước ta, bắt đầu từ khi Nhà nước phong kiến sơ khai hình thành (Nhà
nước Văn Lang của Thục An Dương Vương) đã hình thành sự phân cấp quản lý.
Với sự phát triển không ngừng, Nhà nước phong kiến sơ khai đã đạt đến sự hưng
thịnh phát triển với nền văn minh lúa nước, đồ đồng và đồ sắt. Để duy trì sự tồn tại

phủ đã chính thức ra nghị định số 64CP ngày 08/04/1972, ban hành điều lệ ngân
sách xã. Tiếp đó vào ngày 06/10/1972, Bộ Tài chính ra thông tư số 14-TC/TDT
hướng dẫn việc thi hành điều lệ ngân sách xã. Hai văn bản này đã cụ thể hóa chế độ
quản lý ngân sách xã theo luật lệ thống nhất của Nhà nước.
Sau giải phóng, thời kì xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của Chủ nghĩa xã
hội ở nông thôn, ngân sách xã đóng góp một phần quan trọng trong công cuộc xây
dựng nông thôn mới. Năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị quyết 183-
HĐBT tiếp tục khẳng định vị trí vai trò của ngân sách xã. Trong hoàn nền kinh tế
được quản lý theo cơ chế cũ lộ rõ nhiều bất cập không còn phù hợp, đòi hỏi phải có
một hệ thống chính sách mới, cơ chế mới phù hợp và đáp ứng yêu cầu quản lý Tài
chính, Ngân sách giai đoạn mới. Đến ngày 20/03/1996 Luật NSNN đã được kỳ họp
thứ 9 Quốc hội khóa 9 thông qua có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1997; Luật NSNN
được ban hành thì ngân sách xã chính thức được thừa nhận là cấp ngân sách hoàn
chỉnh trong hệ thống ngân sách nhà nước. Đến năm 2003, Thông tư số 60/2003/TT-
Bộ Tài chính ngày 23/6/2003 quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài
chính khác của xã, phường, thị trấn. Thông tư số 146/2011/TT-BTC ngày
26/10/2011 hướng dẫn sửa đổi, bổ sung QĐ 94/2005/QĐ-BTC giúp hoàn thiện hơn
về chế độ kế toán ngân sách xã.
Trên cơ sở nghiên cứu hình thành và sự phát triển của ngân sách xã ở nước
ta, ta có thể rút ra một số điểm chính sau:
Thứ nhất: Ngân sách xã là một cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách nhà nước,
do UBND xã xây dựng, quản lý và tổ chức thực hiện dưới sự giám sát của HĐND xã.
Thứ hai: Ngân sách xã là tổng thể các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong
quá trình tập trung và phân phối một phần nguồn lực tài chính quốc gia giữa một
bên là chính quyền xã và một bên là chủ thể kinh tế xã hội.
Thứ ba: Ngân sách xã là tổng số thu, tổng số chi được hình thành trên cơ sở
nguồn thu, nhiệm vụ chi mà xã được phân định theo dự toán được duyệt và được tổ
chức thực hiện trong một năm.
1.1.2. Nội dung thu và chi của ngân sách xã.
Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách xã được hình thành dựa trên cơ sở

- Các khoản thu khác của ngân sách xã theo quy định pháp luật.
b) Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách xã với ngân
sách cấp trên.
Theo quy định của Luật ngân sách nhà nước gồm:
- Thuế nhà đất;
- Thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh;
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp;
GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương
5
SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
- Lệ phí trước bạ nhà đất;
- Thu tiền sử dụng đất;
- Thuế tiêu thụ đặc biệt;
- Thuế tài nguyên;
- Thuế giá trị gia tăng;
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất;
- Các khoản thu phân chia khác: tùy theo tình hình của từng địa phương từng
tỉnh, có thể phân chia các cho xã các khoản thu phân chia mà trung ương để lại cho
địa phương.
Tỉ lệ phần trăm đối với các khoản thu phân chia và số bổ sung cân đối được
xác định trên cơ sở tính toán các nguồn thu, nhiệm vụ chi quy định theo Luật Ngân
sách Nhà nước. Các khoản thu trên, tỉ lệ ngân sách xã, thị trấn được hưởng tối thiểu
70%. Việc phân chia nguồn thu và tỷ lệ phần trăm các nguồn thu cho ngân sách cấp
xã được tuân thủ theo nguyên tắc chủ động cho chính quyền xã trong việc cân đối
ngân sách, khai thác khả năng nguồn thu tại xã.
c) Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên.
Ngân sách cấp trên bổ sung có mục tiêu để hỗ trợ ngân sách cấp dưới khi
phát sinh nhiệm vụ quan trọng cần thiết mà sau khi bố trí lại ngân sách, sử dụng dự
phòng ngân sách, dự trữ tài chính vẫn chưa đáp ứng được.
Thu bổ sung để cân đối ngân sách được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa

- Tuyên truyền vận động và tổ chức phong trào bảo vệ an ninh trật tự an toàn
xã hội trên địa bàn xã.
* Chi sự nghiệp giáo dục: hỗ trợ các lớp bổ túc văn hóa, trợ cấp nhà trẻ, lớp
mẫu giáo, kể cả trợ cấp cho giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ do xã quản lý.
* Chi sự nghiệp y tế: hỗ trợ chi thường xuyên và mua sắm trang thiết bị phục
vụ khám và chữa bệnh của trạm y tế xã.
* Hỗ trợ các hoạt động sự nghiệp có thu như giao thông, nông- lâm- thủy lợi,
thị chính, thương mại- dịch vụ…
* Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho cán bộ xã; hưu xã và trợ cấp, hỗ
trợ cho trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa cho các đối tượng của xã theo
chế độ quy định hiện hành.
* Chi sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình hạ tầng cơ sở
do xã quản lý như: trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, thư viện, cầu đường giao
thông, công trình cấp thoát nước công cộng, đèn chiếu sáng, cây xanh…
* Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
1.1.3. Tầm quan trọng của ngân sách xã.
Trong quá trình phát triển của xã hội, từ khi Nhà nước ra đời đòi hỏi phải có
nguồn lực vật chất nhất định cụ thể để bộ máy hoạt động và thực hiện năng lực kinh
tế, xã hội do cộng đồng giao phó. Thông qua ngân sách Nhà nước làm nguồn lực tài
chính, cung cấp cho các hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đảm bảo
đời sống của nhân dân. Và ngân sách xã là bộ phận cấu thành nên ngân sách Nhà
GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương
7
SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
nước. Ngân sách xã đảm bảo nguồn lực vật chât cho sự tồn tại và hoạt động của bộ
máy chính quyền Nhà nước cấp xã. Như vậy để để đảm bảo nguồn lực vật chất này
cung cấp cho toàn bộ các hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và đảm bảo
đời sống nhân dân, ngân sách xã phải khai thác triệt để các nguồn thu tại xã theo
luật định. Đảm bảo thu đúng, thu đủ, và thu kịp thời đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho
các công việc thuộc chức năng nhiệm vụ quy định theo luật Ngân sách Nhà nước.

SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
nâng cao hiệu quả năng lực quản lý cơ sở.
Chi ngân sách xã cho các sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp y tế, thực hiện an
sinh xã hội, phổ cập giáo dục; ngân sách xã góp phần chăm lo sức khỏe người dân,
góp phần vào sự nghiệp trồng người, đào tạo nguồn nhân lực cho tương lai đất
nước; qua đó đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững. Cùng với đó để giúp nâng
cao hiểu biết cho người dân ngân sách xã đã tài trợ phát triển hệ thống truyền thanh,
truyền hình, và phương tiện thông tin đại chúng đến tận từng ngõ xóm, nhằm kịp
thời truyền tải thông tin kiến thức về đường lối chính sách của Đảng, các ứng dụng
khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, hình thức kinh doanh mới.
Chi ngân sách xã còn góp phần làm mới mẻ, phong phú hơn các hoạt động
văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, di tích lịch sử, giúp đời sống người dân thêm
lạc quan, hăng say sản xuất và tin vào đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Cùng với đó, ngân sách xã còn góp phần xây dựng các công trình công cộng và
củng cố cơ sở hạ tầng ở xã như trường học, trạm y tế, đường điện, đường liên
thôn… cùng với đó là hệ thống kênh mương nội đồng, trạm bơm… phục vụ sản
xuất nông nghiệp.
Chi ngân sách xã đã có vai trò rất tích cực ảnh hưởng lớn tới sự phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội ở nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa, từng bước xóa
khoảng cách nông thôn và thành thị.
1.2. Quản lý ngân sách xã.
1.2.1. Sự cần thiết tăng cường công tác quản lý ngân sách xã.
Ngay sau khi Luật ngân sách Nhà nước được ban hành, Bộ Tài chính đã
khẩn trương ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Trong đó việc thừa
nhận ngân sách cấp xã là một cấp trong hệ thống các cấp ngân sách Nhà nước từ
năm 1997 đã đánh dấu sự trưởng thành của ngân sách cấp xã. Tiếp đó trong quá
trình thực hiện, Bộ Tài chính đã phối hợp với các Bộ ban hành thêm nhều văn bản
hướng dẫn bổ sung như: hướng dẫn về quản lý, huy động và sử dụng các khoản
đóng góp xây dựng ở hạ tầng cơ sở của xã, thực hiện quy chế dân chủ công khai tài
chính ở các cơ sở… Đến nay, tuy chưa được đầy đủ và đồng bộ nhưng các chính

địa phương còn chưa đúng theo quy định của pháp luật.
- Công tác quản lý còn nhiều bất cập, đặc biệt đội ngũ cán bộ chuyên trách
về quản lý tài chính và ngân sách xã ở các địa phương do đào tạo chuyên môn
nghiệp vụ một cách không cơ bản, chưa được tăng cường đúng mức về số lượng và
chất lượng theo yêu cầu công việc.
- Các nguồn thu tại xã chủ yếu là nguồn thu từ sản xuất nông nghiệp, nên
chịu ảnh hưởng nhiều vào thiên tai và sự biến động của giá cả nông sản trên thị
trường. Nhiệm vụ chi ngân sách xã rất phức tạp, vừa phải đảm bảo hoạt động
thường xuyên của chính quyền xã, vừa phải đáp ứng các nhiệm vụ chi đột xuất.
Hiện nay công tác tổ chức quản lý ngân sách xã về cơ bản có sự đổi mới và
đạt được nhiều kết quả khả quan. Tuy vậy, trong thực tiễn vẫn còn có nhiều bất cập,
GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương
10
SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
tồn tại hạn chế nêu trên. Mặt khác, như chúng ta biết ngân sách xã có vai trò và vị
trí vô cùng quan trọng không chỉ trong hệ thống ngân sách nhà nước mà còn là công
cụ giúp chính quyền xã thực hiện nhiệm vụ chức năng của mình. Chức năng nhiệm
vụ của chính quyền xã không chỉ đơn thuần là quản lý dân sinh, pháp chế xã hội,
mà quan trọng hơn là đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện mới;
vì thế cần phải nhận thức đầy đủ vai trò nhiệm vụ của ngân sách xã, từ đó hoàn
thiện hệ thống chế độ, chính sách về ngân sách xã một cách đồng bộ, chính quyền
nhà nước cấp cơ sở phải có ngân sách vững mạnh.
1.2.2. Quy trình tổ chức quản lý ngân sách xã.
Căn cứ Luật ngân sách Nhà nước và thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày
23/6/2003 quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác ở xã,
phường, thị trấn, quy trình tổ chức quản lý ngân sách xã bao gồm 3 khâu sau: Lập
dự toán ngân sách xã, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách xã.
1.2.2.1. Lập dự toán ngân sách xã
Hàng năm, trên cơ sở hướng dẫn của UBND tỉnh, Sở Tài chính, và chỉ đạo
của UBND huyện, UBND xã lập dự toán ngân sách năm sau trình HĐND xã quyết

sách;
- Ban tài chính xã tính toán, cân đối và lập dự toán thu chi ngân sách xã trình
UBND xã báo cáo chủ tịch và phó chủ tịch HĐND xã xem xét trược khi trình
UBND huyện và phòng Tài chính huyện;
- Nhận Quyết định về việc giao dự toán thu, chi ngân sách nhà nước của
UBND huyện.
Dự toán ngân sách xã có thể được điều chỉnh trong các trường hợp sau: Có
yêu cầu của UBND cấp trên để đảm bảo phù hợp với định hướng chung; biến động
lớn về nguồn thu và chi. Khi điều chỉnh, UBND xã tiến hành lập dự toán điều chỉnh
trình HĐND xã quyết định và báo cáo HĐND huyện.
1.2.2.2. Chấp hành dự toán ngân sách xã.
Chấp hành dự toán ngân sách xã là khâu tiếp theo của chu trình ngân sách;
căn cứ vào dự toán cả năm và khả năng thu, nhu cầu chi của từng quý, UBND xã
lập dự toán thu, chi quý gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để bố trí kinh phí.
Ngân sách xã mở tài khoản thu, chi ngân sách xã tại Kho bạc Nhà nước nơi giao
dịch. Ngoài số thu, chi thông qua Kho bạc Nhà nước, xã còn có quỹ tiền mặt do
Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch quy định cho từng loại xã. Đối với những xã có
những khoản thu theo mùa vụ, chủ tịch xã có thể đề nghị cơ quan tài chính cấp trên
tăng tiến độ công việc.
a) Tổ chức thu.
Ban tài chính xã có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thu giám sát, kiểm tra
các nguồn thu ngân sách nhà nước đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời nộp vào
ngân sách Nhà nước.
Trường hợp đối tượng nộp ngân sách trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước thì căn
cứ vào thông báo thu của cơ quan thu hoặc của Ban Tài chính xã, đối tượng nộp
GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương
12
SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
ngân sách lấy giấy nộp tiền và trích tài khoản hoặc mang tiền mặt tới Kho bạc Nhà
nước để nộp trực tiếp vào NSNN.

- Các khoản chi thường xuyên khác phải căn cứ vào dự toán năm , tình hình
tổ chức thực hiện công việc, khả năng của ngân sách xã tại từng thời điểm để thực
GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương
13
SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
hiện chi cho phù hợp.
Chi đầu tư phát triển:
- Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách xã theo quy định của
Nhà nước và phân cấp của tỉnh.
- Cấp phát, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách
xã thực hiện theo quy định Bộ Tài chính.
- Với dự án đầu tư bằng nguồn đóng góp của nhân dân, phải mở sổ theo dõi
và phản ánh đầy đủ kịp thời mọi khoản đóng góp bằng tiền, hiện vật, công lao động.
Quá trình thi công và nghiệm thu, thanh toán phải có sự giám sát của Ban giám sát
dự án do nhân dân cử. Kết quả đầu tư và quyết toán dự án được thông báo công
khai cho nhân dân biết.
1.2.2.3. Kế toán và quyết toán ngân sách xã.
Quyết toán ngân sách xã là khâu cuối cùng của chu trình ngân sách, tổng kết
lại quá trình thực hiện dự toán ngân sách năm, nhằm đánh giá lại toàn bộ kết quả
hoạt động của một năm ngân sách, từ đó rút ra ưu điểm và thiếu sót, bài học kinh
nghiệm cho chu trình ngân sách tiếp theo.
Ban tài chính xã lập báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách xã hàng năm trình
Ủy ban nhân dân xã xem xét trình Hội đồng nhân dân xã phê chuẩn, đồng thời gửi
phòng Tài chính huyện để tổng hợp. Thời gian gửi báo cáo quyết toán năm cho
phòng Tài chính huyện chậm nhất ngày 15/02 năm sau
Báo cáo quyết toán được phê duyệt lập thành 5 bản để gửi Hội đồng nhân
dân xã, Ủy ban nhân dân xã, phòng Tài chính huyện, thị xã, lưu Ban tài chính xã và
thông báo công khai nơi công cộng cho nhân dân xã biết.
Phòng tài chính huyện, thị xã có trách nhiệm kiểm tra báo cáo quyết toán
thu- chi ngân sách xã; trường hợp có sai sót phải báo cáo Ủy ban nhân dân huyện,

hướng dẫn các đơn vị này thực hiện kiểm tra trong đơn vị mình.
Khi thực hiện nhiệm vụ, Thanh tra tài chính có quyền:
- Yêu cầu tổ chức, cá nhân được thanh tra xuất trình các hồ sơ, tài liệu kèm
theo;
- Yêu cầu các cơ quan có liên quan tham gia phối hợp thực hiện thanh tra;
- Tùy theo mức độ, tính chất vi phạm, Thanh tra Tài chính xử lý theo quyền
hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm theo quy định của pháp
luật;
- Khi tiếp nhận kiến nghị của cơ quan Thanh tra Tài chính, cơ quan có thẩm
quyền phải xử lý và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan Thanh tra Tài chính.
Thanh tra Tài chính phải chịu trách nhiệm về kết luận thanh tra của mình.
CHƯƠNG 2
GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương
15
SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1. Khái quát tình hình kinh tế- xã hội ở Hải Dương.
2.1.1. Tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương.
Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng và nằm trong
vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình, được tái lập từ năm 1997. Hải Dương
được chia làm hai vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía
Bắc tỉnh thuộc huyện Chí Linh và một phần là huyện Kinh Môn. Còn lại hầu hết
diện tích của tỉnh là thuộc đồng bằng nhưng có địa hình cao hơn so với các tỉnh
khác nên có nhiều điều kiện thuận lợi về giao thông vận tải, và phát triển công,
nông nghiệp. Tỉnh Hải Dương có diện tích 1.662 km2, dân số hơn 1,7 triệu người và
có 12 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: 1 thành phố, 1 thị xã và 10 huyện.
Hải Dương nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc tiếp giáp với các
tỉnh: Quảng Ninh, Bắc Giang ở phía bắc, Hải Phòng ở phía đông, Thái Bình ở phía
nam, và Hưng Yên, Bắc Ninh ở phía Tây. Tỉnh Hải Dương có hệ thống cơ sở hạ

đạt và vượt dự toán năm.
Thực hiện nghiêm túc tiết kiệm chi thường xuyên theo Nghị quyết số 11/NQ-
CP của Chính phủ. Ngân sách địa phương đã đảm bảo chi thường xuyên, thực hiện
chính sách an sinh xã hội. Tổng chi cân đối ngân sách địa phương ước đạt 7.020 tỷ
348 triệu đồng, bằng 142,6% dự toán năm, tăng 34,9% so với năm trước.
Về tín dụng, là tỉnh có cả nguồn huy động và cho vay lớn trong khu vực. Các
hoạt động tín dụng diễn ra sôi động và cơ bản đảm bảo đúng sự chỉ đạo của ngành
ngân hàng, đáp ứng được yêu cầu của sản xuất kinh doanh. Đến cuối năm 2011,
tổng nguồn vốn huy động tại chỗ ước đạt 24.434 tỷ đồng, tăng 21,3%; tổng dự nợ
ước đạt 28.150 tỷ đồng, tăng 15,6% so với cuối năm 2010; nợ xấu chiếm 1,23%
tổng dư nợ. Tiếp tục phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt.
Về thương mại, dịch vụ giá trị sản xuất các ngành dịch vụ ước đạt 6.639 tỷ
đồng, tăng 12% so với năm 2010.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 16.779 tỷ
đồng, bằng 104,9% kế hoạch năm, tăng 27,2% so với năm 2010. Thị trường của
tỉnh, đặc biệt là thị trường nông thôn hoạt động ổn định; kịp thời điều chỉnh phù
hợp với sự chỉ đạo của Trung ương và những biến động.
Chính tốc độ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đã có ảnh hưởng sâu sắc đến
tình hình quản lý thu chi ngân sách xã.
2.1.2. Khái quát về Sở Tài chính tỉnh Hải Dương.
Gồm lãnh đạo Sở và 10 đơn vị phòng, ban, chi cục, Trung tâm thuộc Sở:
tổng số 86 cán bộ.
* Trong đó:
GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương
17
SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
A - Lãnh đạo Sở: 3 đồng chí (Gồm Giám đốc và 2 Phó giám đốc)
B - Các đơn vị thuộc sở gồm 83 cán bộ
1.Văn phòng sở: 12 cán bộ
2.Phòng Kế hoạch Ngân sách: 08 cán bộ

GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương
18
SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
phát triển kinh tế- xã hội góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn trong tỉnh.
Để thấy được những thành tựu cũng như những tồn tại hạn chế trong công
tác quản lý ngân sách xã, tìm ra những nguyên nhân tác động nhằm đưa ra giải pháp
hợp lý kịp thời trong điều kiện của tỉnh hiện nay, chúng ta sẽ xem xét tổ chức, chu
trình quản lý ngân sách xã và phân tích số liệu thu chi ngân sách xã qua 3 năm:
2009, 2010, 2011.
2.2.1. Nội dung thu chi ngân sách xã.
2.2.1.1. Tình hình quản lý thu ngân sách xã.
Cơ bản các xã đã bám sát kế hoạch thu ngân sách, đặc biệt là các chỉ tiêu
pháp lệnh mà huyện giao về thuế, phí, lệ phí, và nguồn thu tại xã. Tích cực vận
động nhân dân tại địa phương đóng góp tạo nguồn lực xây dựng các công trình kết
cấu hạ tầng cơ sở. Hầu hết các xã đã chủ động trong khai thác thu, hạn chế và chấm
dứt tình trạng trông chờ ỷ lại đơn vị cấp trên.
Về tình hình thu ngân sách xã của tỉnh Hải Dương được phản ánh qua bảng
tổng hợp ba năm (2009-2011) thể hiện qua biểu 2.1:
Biểu 2.1: Tình hình thực hiện thu ngân sách xã
GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương
19
SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
Đơn vị tính: triệu đồng
Nội dung thu
2009 2010 2011
DT TH DT TH DT TH
Tổng thu ngân sách xã 361.203 770.746 265.336
1.039.36
4
641.336 1.400.014

,2
261.541
307.81
2
261.541 459.994
1.Thuế nhà đất
19.474,3 20.003,0 20.352,8
2.Thuế môn bài
5.750,6 5.805,2 5.345,7
3.Thuế sử dụng đất nông
nghiệp
4,0 4,8 8,5
4.Lệ phi trước bạ nhà đất 6.560,9 10.185,6 11.129,2
5.Thu tiền sử dụng đất
141.716,
0
258.182,
4
408.836,2
6.Thuế tiêu thụ đặc biệt
178,7 152,0 273,3
7.Thuế tài nguyên
113,5 151,0 210,1
8.Thuế chuyển quyền sử
dụng đất+thuế TNCN
814,5 426,3 302,2
9. Các khoản thu khác
( VAT+ TNDN)
12.377,
7

tiến hành thu.
Các xã triển khai tốt dự toán thu hàng năm, đáp ứng được các chi tiêu mà cấp
huyện giao về cho ngân sách xã, không những vậy xã đã chủ động tận dụng các
khoản thu tại chỗ (Ngân sách xã được hưởng 100%) như: các khoản huy động đóng
góp của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng, khoản thu từ quỹ đất công ích và đất
công, khoản viện trợ không hoàn lại cho xã…
Đa số các xã đã triển khai tốt nhiệm vụ thu tới các ban ngành, đoàn thể, cán
bộ trong thôn, kết hợp tuyên truyền vận động đôn đốc thu kịp thời vào ngân sách
Nhà nước. Các khoản thuế hàng năm thu tương đối tốt: thuế giá trị gia tăng, thuế
nhà đất, thuế tiêu thụ đặc biệt…
Ngoài ra số thu bình quân giữa các huyện vẫn chưa đồng đều, điều đó được
thể hiện qua biểu 2.2
GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương
21
SV: Phạm Minh Đức Lớp: Tài chính công 50
Biểu 2.2: Tổng hợp thu ngân sách xã theo huyện
Đơn vị tính: triệu đồng
Số
T
T
Huyện,
Thành phố
Tổng
số xã
Thu ngân sách xã năm 2011
Tổng số
Thu
100%+
viện trợ
Thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status