Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Kinh Tế-Viện ĐH Mở HN
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, sự cạnh tranh giữa
các tổ chức không chỉ đơn thuần là sự cạnh tranh về nguyên vật liệu, công
nghệ về thị trường tiêu thụ sản phẩm, chất lượng và giá cả sản phẩm mà sự
cạnh tranh còn diễn ra trên cả thị trường sức lao động. Với điều kiện này thì
vị trí của các nguồn lực ngày càng trở nên quan trọng, trong đó con người
được coi vừa là nguồn lực quan trọng nhất, vừa là nguồn lực của mọi nguồn
lực. Việc khai thác sử dụng và phát triển nguồn lực này trong mỗi doanh
nghiệp sao cho có hiệu quả nhất là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sự
thành công trong kế hoạch phát triển lâu dài.
Động lực lao động là một trong những vấn đề được các doanh nghiệp
quan tâm hàng đầu bởi đây chính là nguồn gốc thúc đẩy tăng năng suất và
hiệu quả lao động của doanh nghiệp. Quan tâm đến công tác tạo động lực
lao động là doanh nghiệp đã đầu tư đúng hướng về quản trị nhận lực góp
phần tạo ra hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng suất lao động cao, làm tăng
lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Trong thực tế có rất nhiều các công cụ tạo động lực, đó là các khuyến
khích vật chất như tiền lương tiền thưởng và các phúc lợi khác, các khuyến
khích phi vật chất như điều kiện làm việc, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp
công việc….Trong đó tiền lương là một công cụ hiệu quả để tạo động lực
lao động, giúp người lao động làm việc hăng say, gắn bó với công việc, từ
đó tạo ra năng suất hiệu quả cao trong công việc. Tiền lương với người lao
động không chỉ là nguồn thu nhập chính đảm bảo cuộc sống mà nó còn là sự
ghi nhận và đánh giá của doanh nghiệp về những đóng góp của người lao
động, từ đó làm cho họ nhận thức rõ được vai trò và vị trí của mình trong
doanh nghiệp.
SV: Ngô Thị Thu Trang Lớp : K17QT2
1
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Kinh Tế-Viện ĐH Mở HN
* Nhu cầu của người lao động: Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con
người cảm thấy thiếu thốn không thoả mãn về một cái gì đó và mong được
đáp ứng nó. Nhu cầu gắn liền với sự phát triển của con người, cộng đồng,
tập thể và xã hội.
Hệ thống nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng, thường
xuyên tăng lên về số lượng và chất lượng. Khi một nhu cầu này được thoả
mãn, lập tức xuất hiện các nhu cầu khác cao hơn. Nếu xét khả năng thoả
mãn nhu cầu có thể chia nhu cầu thành các cấp độ:
+ Nhu cầu bậc thấp, còn được gọi là nhu cầu sinh lý có thể là hệ thống
nhằm duy trì sự tồn tại của mình như ăn, ở, đi lại, bảo vệ sức khoẻ…đây là
nhu cầu quan trọng nhất song cũng dễ được thoả mãn. Việc thoả mãn nhu
cầu về ăn được căn cứ vào mức độ hao phí lao động ( thời gian và cường độ
lao động ) trong quá trình lao động, được đo bằng đơn vị năng lượng ( Calo).
+ Nhu cầu bậc thứ hai còn được gọi là nhu cầu vận động. Vận động là
phương thức biểu hiện sự tồn tại và phát triển của con người. Vận động bao
gồm các loại vận động trong sản xuất, vận động vui chơi giải trí, vận động di
chuyển từ nơi này đến nơi khác, vận động tự bộc lộ mình.
+ Nhu cầu bậc cao - nhu cầu sáng tạo: Là loại nhu cầu được phát huy
tối đa khả năng trong các hoạt động của con người.
SV: Ngô Thị Thu Trang Lớp : K17QT2
3
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Kinh Tế-Viện ĐH Mở HN
Trong 3 loại nhu cầu trên, hai nhu cầu có sau khó thoả mãn hơn, song
nếu biết định hướng thì có thể tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy người lao
động tham gia lao động tốt, đối với con người cụ thể khác nhau trong xã hội,
việc thực hiện nhu cầu mang những dáng vẻ khác nhau, với những quan
điểm, phương thức có chủ đích khác nhau. Việc xử lý, thực hiện các nhu cầu
khác nhau đưa lại những lợi ích khác nhau cho con người.
* Lơị ích: Là kết quả mà con người có thể xác nhận được thông qua
các hoạt động của bản thân cộng đồng, tập thể, xã hội nhằm thoả mãn nhu
động nhằm đáp ứng và thoả mãn các nhu cầu đặt ra. Khi nói rằng các nhà
quản lý thúc đẩy nhân viên của họ, thúc đẩy người lao động, có nghĩa là ta
nói rằng họ làm những việc mà họ hy vọng sẽ đáp ứng những xu hướng và
nguyện vọng của người lao động và thúc đẩy người lao động hành động theo
một cách thức mong muốn.
Thực tế thì động cơ rất trừu tượng và khó xác định vì:
Thứ nhất: Nó thường được che dấu bản chất thực vì nhiều lý do khác
nhau như: yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội…
Thứ hai: Động cơ luôn luôn biến đổi, biến đổi theo thời gian, tại mỗi
thời điểm con người sẽ có những nhu cầu và động cơ khác nhau. Trừ những
nhu cầu về sinh lý ra như đói, thì nói chung nhu cầu còn phụ thuộc vào môi
trường hoạt động chung của con người. Chúng ta cũng nhìn thấy một cách
dễ dàng rằng nhiều nhu cầu về sinh lý bị kích thích bởi các yếu tố môi
trường như: mùi thức ăn có thể làm cho ta thấy đói, việc nhìn thấy nhiệt biểu
- nhiệt độ làm cho chúng ta cảm thấy nóng, hoặc cảnh tượng uống nước mát
có thể làm cho cơn khát trỗi dậy.
Môi trường có ảnh hưởng lớn tới sự nhận thức của chúng ta về nhu
cầu thứ cấp. Việc thăng chức của một đồng nghiệp có thể khơi dậy ham
muốn của chúng ta về một chức vụ cao hơn. Một sự thách thức có thể kích
thích sự ham muốn của con người bằng được một việ nào đó…Do vậy để
biết được chính xác động cơ thúc đẩy người lao động làm việc ta phải xét
đến từng thời điểm cụ thể, môi trường cụ thể và phải đối với từng người lao
động cụ thể.
Thứ ba: Động cơ rất phong phú, đa dạng, phức tạp và thường mâu
thuẫn với nhau. Một con người có thể bị thúc đẩy trong cùng một thời gian
với mong muốn khác nhau ( mua đồ ăn, một căn hộ tốt,….) song những
SV: Ngô Thị Thu Trang Lớp : K17QT2
5
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Kinh Tế-Viện ĐH Mở HN
mong muốn này lại phức tạp, mâu thuẫn với nhau ( người đó nên mua một
SV: Ngô Thị Thu Trang Lớp : K17QT2
6
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Kinh Tế-Viện ĐH Mở HN
* Tạo động lực trong lao động : Tạo động lực cho người lao động là
việc sử dụng các biện pháp nhất định để kích thích người lao động làm việc
một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả công việc tốt nhất.
Tạo động lực cũng chính là việc tạo ra sự hấp dẫn của công việc kết quả
thực hiện công việc của tiền lương, tiền thưởng….Để hướng hành vi của
con người lao động theo một chiều hướng quỹ đạo nhất định. Hay nói cách
khác, tạo động lực là các biện pháp, chính sách…tác động đến con người
nhằm cho họ có động lực trong lao động.
I.1.3. Mục đích của tạo động lực:
Mục đích quan trọng nhất của tạo động lực lao động là khai thác, sử
dụng có hiệu quả nhất, phát huy được những tiềm năng của con người lao
động trong tổ chức. Khi người lao động có động lực lao động thì họ sẽ làm
việc nhiệt tình hăng say, sử dụng hết khả năng của mình, nhờ đó mà những
mục tiêu của tổ chức sẽ được thực hiện với hiệu quả cao. Vì có động lực lao
động, trong quá trình làm việc người lao động có thể phát huy hết khả năng
hiện có của mình, đó chính là quá trình tự hoàn thiện trong công việc.
Mục đích thứ hai của tạo động lực là tạo sự gắn bó, thu hút những
người lao động giỏi về tổ chức. Bởi vì tạo động lực cho người lao động
chính là làm việc cho người lao động được thoả mãn khi làm việc cho tổ
chức, khiến họ gắn bó và trung thành với tổ chức và điều đó càng góp phần
tăng khả năng thành công của tổ chức.
I.1.4. Ý nghĩa của tạo động lực:
Như chúng ta đã biết quản trị nhân lực là tất cả các hoạt động của tổ
chức nhằm hình thành, sử dụng, bảo toàn và phát triển nguồn lao động phù
hợp với yêu cầu công việc của tổ chức…Quản trị nhân lực nhằm thực hiện
hai mục tiêu căn bản - đó là đảm bảo sự phù hợp thích ứng giữa người lao
động và công việc, giữa tạo động lực và khuyến khích tính sáng tạo của
thường là họ có ý nói về sự thỏa mãn của công nhân viên đó đối với công
việc. Các nhân tố quan trọng dẫn đến sự thỏa mãn công việc là: Công việc
phải đòi hỏi về hao phí về trí lực , có sự công bằng, hợp lý trong việc đánh
giá thực hiện công việc và thù lao lao động; điều kiện làm việc thuận lợi; có
sự hợp tác giữa những người đồng nghiệp.
+ Nhận thức của người lao động về hệ thống nhu cầu và các giá trị lợi
ích:
SV: Ngô Thị Thu Trang Lớp : K17QT2
8
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Kinh Tế-Viện ĐH Mở HN
+ Nhận thức của người lao động về hệ thống nhu cầu: Như ta đã biết,
thật ra con người tham gia vào một tổ chức, thực hiện một công việc nào đó
để nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người. Mỗi con người đếu có một
hệ thống nhu cầu khác nhau, và mong muốn, kiếm tìm các cách thức khác
nhau để thỏa mãn nó. Hệ thống nhu cầu gồm từ những nhu cầu cơ bản nhất
như: ăn, mặc, ở, an toàn cho đến những nhu cầu bậc cao hơn như: học tập,
vui chơi, giải trí, địa vị, quyền lực, tự hoàn thiện bản thân mình. Để thỏa
mãn những nhu cầu đó, con người phải tham gia vào quá trình sản xuất.
Chính vì lẽ đó, nhu cầu sẽ tạo ra động cơ thúc đẩy họ tích cực làm việc.
Song tất cả cuối cùng cũng sẽ giúp họ thu được một lợi ích nhất định. Sự
nhận thức về giá trị lợi ích sẽ là động cơ tích cực nhất kiểm soát hành vi và
thúc đẩy con người làm việc hăng say.
+ Nhận thức của người lao động về các giá trị lợi ích: Đó là những kết
quả mà con người có thể nhận được thông qua hoạt động của bản thân. Lợi
ích là phương tiện để thỏa mãn nhu cầu của con người. Tùy thuộc vào cấp
độ nhu cầu khác nhau địa vị khác nhau đối với từng con người.
+ Năng lực và nhận thức về năng lực của bản thân người lao động: Đó
là khả năng thực hiện một loại hoạt động cụ thể nào đó mà đảm bảo rằng
hoạt động đó sẽ thu được hiệu quả cao; nó còn được hiểu là khả năng giải
quyết công việc, kiến thức chuyên môn công việc; nhân tố này cũng ảnh
Do vậy phải bố trí người lao động phù hợp với cấp bậc công việc yêu cầu.
- Sự mạo hiểm và mức độ rủi do công việc: Yếu tố này có thể là
nguyên nhân khiến người lao động không muốn tham gia làm việc.
- Mức độ phức tạp của công việc.
Nhận thức được các yếu tố này, các nhà quản lý cần phải thận trọng khi
tuyển dụng người lao động và tổ chức của mình và đồng thời biết cách vận
dụng nó để đưa ra các chính sách phù hợp nhằm duy trì động cơ làm việc
của người lao động từ đó kích thích họ nỗ lực phấn đấu và học hỏi năng cao
kinh nghiệm, trình độ để thực hiện công việc tốt hơn, hiệu quả hơn.
I.2.3. Nhóm yếu tố thuộc về tổ chức lao động:
Đây là nhón yếu tố rất quan trọng bởi khi người lao động làm việc
trong tổ chức, sự hòa nhập của họ cũng như ảnh hưởng của chính sách quản
lý sẽ trực tiếp thúc đẩy hoặc kìm hãm họ làm việc. Nó bao gồm các yếu tố:
- Mục tiêu chiến lược của tổ chức: Đó là những cái đích mà tổ chức
đang hướng tới. Sự hiểu biết về mục tiêucủa tổ chức sẽ làm cho người lao
SV: Ngô Thị Thu Trang Lớp : K17QT2
10
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Kinh Tế-Viện ĐH Mở HN
động diều khiển hành vi của mình và thực hiện nó đúng hướng nhất theo yêu
cầu của công việc, tổ chức. Nếu không biết mục tiêu làm việc của tổ chức,
người lao động sẽ mất phương hướng làm việc tạo ra sự chán nản với công
việc của mình.
- Văn hóa tổ chức: Là tập hợp hệ thống các giá trị, niềm tin, những
thói quen, những phong tục tập quán, những quan niệm, bầu không khí tâm
lý – xã hội… được chia sẻ trong phạm vi tổ chức, tác động vào cấu trúc
chính quy, tạo nên và hướng dẫn các chuẩn mực hành vi của người lao động
trong tổ chức. Một tổ chức có văn hóa công ty mạnh mẽ sẽ tạo ramột bầu
không khí cởi mở, đầm ấm, thân thiện, hệ thống thần kinh không bị ức chế,
khi đó sẽ có tác dụng cuốn hút người lao động tích cực để làm việc một cách
hăng say còn ngược lại sẽ tạo cảm giác chán chường không hứng thú với
người lao động.
I.3. Các học thuyết về tạo động lực:
I.3.1 Học thuyết về thứ bậc nhu cầu của A.Maslow:
* Nội dung của học thuyết:
Xuất phát từ vấn đề được đặt ra là: Con người có những nhu cầu gì?
để có được hạnh phúc, thành công hay để tồn tại, con người cần những gì?
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow đã nghiên cứu và đi đến kết
luận rằng con người có những cấp độ khác nhau về nhu cầu. Nó được phân
chia theo 5 cấp bậc khác nhau. Khi những nhu cầu ở cấp độ thấp được thoả
mãn, ngay lập tức một nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ trở thành động lực thúc
đẩy. Ngay sau khi một nhu cầu được đáp ứng, nhu cầu khác sẽ xuất hiện.
Kết quả là con người luôn tồn tại, xuất hienẹ những nhu cầu chưa được đáp
ứng và họ luôn tìm cách thông qua một hoạt động lao động nào đó nhằm
thoả mãn nhu cầu của mình. Theo Maslow hệ thống thứ bậc nhu cầu của con
người được xác định tăng dần về tầm quan trọng và được chỉ ra theo sơ đồ
sau:
- Nhu cầu sinh học: Đây là nhu cầu cơ bản của con ngươờ để duy trì cuộc
sống như là thức ăn, nước uống, quần áo mặc, chỗ ở…
- Nhu cầu an toàn: Bao gồm nhu cầu về an ninh và sự bảo vệ tránh sự nguy
hại về thân thể và đe doạ mất việc, mất tài sản.
- Nhu cầu xã hội: Bao gồm tình thương, cảm giác trực thuộc, được chấp
nhận và tình bạn.
SV: Ngô Thị Thu Trang Lớp : K17QT2
12
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Kinh Tế-Viện ĐH Mở HN
- Nhu cầu được tôn trọng: mong ước tới những sự thoả mãn như quyền lực,
uy tín, địa vị,…
- Nhu cầu tự hoàn thiện: là động cơ trở thành những gì mà ta có khả năng nó
bao gồm sự tiến bộ, mong ước đạt được tiềm lực của mình và khả năng tự
hoàn thành công việc, là mong muốn để đạt tới chỗ mà một người có thể đạt
Trong đó: Sức mạnh là cường độ thúc đẩy con người
Mức đam mê là cường độ ưu ái của một người dành cho kết quả đạt
được
Niềm hi vọng là xác suất mà một hành động riêng lẻ sẽ dẫn tới một
kết quả mong muốn.
Học thuyết đã tập trung xem xét vấn đề tạo động lực dựa trên những
nhu cầu khác nhau mà người lao động đã mang vào công việc của họ. Tuy
nhiên học thuyết này đã không lý giải được vì sao có nhiều cách khác nhau
để thoả mãn các nhu cầu và mục tiêu của họ.
* Ý nghĩa của học thuyết
Để tạo động lực cho người lao động các nhà quản trị cần có tác động
lên cả 2 yếu tố thúc đẩy trên đam mê và niềm hi vọng. Điều quan trọng là
phải biết làm sao để tạo ra được ham mê cho người lao động và phải thấy
được sự ham mê có hi vọng, có cơ sở để họ có niềm tin trong lao động, từ đó
thúc đẩy họ tích cực làm việc hoàn thành nhiệm vụ, đạt hiệu quả cao nhất.
I.3.3 Học thuyết hai nhóm yếu tố của F.Herzberg:
* Nội dung của học thuyết
Herzberg, Giáo sư tâm lý học người Mỹ, đưa ra 2 nhóm các yếu tố
sau khi ông tiến hành một số cuộc điều tra để trả lời cho đề tài mà ông đang
băn khoăn đó là “ những yếu tố tạo ra động lực làm việc trái ngược hẳn với
các yếu tố triệt tiêu động lực làm việc không”?. Ông đã yêu cầu 200 nhân
viên kế toán và kỹ sư mô tả những khoảnh khắc họ cảm thấy tuyệt vời nhất
cũng như những khoảnh khắc mà họ cảm thấy tồi tệ nhất trong công việc.
Những phân tích của ông cho thấy rằng những nhân tố tạo ra cảm giác tích
cực không đối lập với những nhân tố tạo ra cảm giác tích cực không đối lập
với những nhân tố tạo ra cảm giác tiêu cực mà chúng là những nhân tố hoàn
toàn khác nhau. Herzberg đưa ra kết luận: Các yếu tố tạo ra sự thoả mãn
trong công việc rất khác biệt với các yếu tố tạo ra sự bất mãn, và khẳng định
con người có hai loại nhu cầu, về cơ bản, độc lập với nhau và ảnh hưởng tới
hành vi theo những cách khác nhau. Ông thấy rằng, khi con người cảm thấy
lý và tạo động lực làm việc cho người lao động, đồng thời phải nhận thức
được tầm quan trọng của việc thiết kế hợp lý các công việc cho người lao
động.
SV: Ngô Thị Thu Trang Lớp : K17QT2
15
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Kinh Tế-Viện ĐH Mở HN
II, CÁC BIỆN PHÁP TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG:
Tuỳ vào từng điều kiện về tài chính, nhân lực và quy mô của doanh
nghiệp mà có các phương hướng và biện pháp tạo động lực khác nhau. Song
nhìn chung các nhà quản lý thường hướng vào 3 lĩnh vực then chốt sau đây:
II.1. Xác định nhiệm vụ và tiêu chuẩn thực hiện công việc:
Để xác định nhiệm vụ và tiêu chuẩn thực hiện công việc thông thường
phải thực hiện 3 bước công việc sau
• Xác định mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động của tổ chứuc và làm cho
người lao động hiểu rõ nhiệm vụ, mục tiêu đó.
• Xác định nhiệm vụ cụ thể của từng người lao động và các tiêu
chuẩn thực hiện công viẹc, cụ thể là việc phân tích công việc qua các bản mô
tả công việc, tiêu chuẩn thực hiện công việc, bản yêu cầu công việc đối với
người thực hiện.
• Đánh giá thường xuyên và công bằng mức độ hoàn thành nhiệm vụ
của từng người lao động. Từ đó có thể giúp họ làm việc tốt hơn và hoàn
thiện về khả năng làm việc của mình.
II.2. Tạo điều kiện thuận lợi để người lao động hoàn thành tốt công
việc:
Thông thường thực hiện các loại công việc sau:
• Loại trừ các trở ngại để người lao động hoàn thành công việc.
• Cung cấp các điều kiện cần thiết cho quá trình thực hiện công việc.
• Tuyển chọn và bố trí người lao động phù hợp với yêu cầu của
công việc.
Cụ thể là làm những công việc sau:
thiết để tái sản xuất sức lao động phải gồm cả những tư liệu sinh hoạt cho
con cái họ. vậy chức năng cơ bản của tiền lương là phải duy trì và phát triển
được sức lao động cho người lao động.
+ Chức năng kích thích: tiền lương là bộ phận thu nhập chính của
người lao động nhằm thỏa mãn phần lớn nhu cầu vật chất, tinh thần của
người lao động. Do vậy các mức tiền lương là đòn bẩy kinh tế quan trọng để
định hướng sự qua tâm và động cơ lao động của người lao động trên cơ sở
lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp và tiền lương có khả năng tạo động lực
vật chất trong lao động. Tiền lương phải đảm bảo khuyến khích người lao
SV: Ngô Thị Thu Trang Lớp : K17QT2
17
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Kinh Tế-Viện ĐH Mở HN
động nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động. Tiền lương phải
khuyến khích lao động sáng tạo góp phần điều phố và ổn định lao động xã
hội.
+ Bảo hiểm, tích lũy : trong hoạt động lao động người lao động không
những duy trì được cuộc sống hàng ngày trong thời gian còn khả năng lao
động và đang làm việc, mà còn có khả năng dành lại một phần tích lũy dự
phong cho cuộc sống sau này, khi họ hết khả năng lao động hoặc chẳng may
gặp rủi ro bất trắc trong đời sống.
+ Chức năng xã hội: là yếu tố kích thích hoàn thiện các mối quan hệ
lao động. Việc gắn tiền lương với hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngưoif
lao động và đơn vị kinh tế sẽ thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn
nhau, nâng cao hiệu quả cạnh tranh của doanh nghiệp. Bên cạnh đố tạo tiền
đề cho sự phát triển theo hướng dân chủ và văn minh. Vậy tiền lương phản
ánh giá trị của sức lao động trong điều kiện kinh tế văn hóa lịch sử nhất
định, cso tấc động rất quan trọng đế sản xuất, đời sống và mọi mặt kinh tế -
xã hội.
Vậy với việc đảm bảo các chức năng trên tiền lương góp phần tạo
động lực cho người lao động.
đem lại. Do đó các nhà quản lý cần quan tâm đến lĩnh vực này để tạo ra một
tâm lý thoải mái, vui vẻ khi người lao động đến Công ty. Từ đó họ sẽ yên
tâm cống hiến hết khả năng của mình để hoàn thành công việc một cách hiệu
quả nhất.
* Tạo môi trường tâm lý thuận lợi cho quá trình lao động: Việc sử
dụng lao động không chỉ dừng lại ở chỗ khai thác tối đa năng lực của con
người mà cần phải chú ý tới tâm sinh lý chi phối thái độ của người lao động
trong quá trình làm việc tức là phải quan tâm đến môi trường làm việc của
họ, các yêu cầu về tâm lý, … Khi người lao động được quan tâm đến những
vấn đề đó, họ sẽ thích thú và an tâm làm việc một cách nhiệt tình nhất.
II.3.3. Xây dựng bầu không khí tâm lý xã hội cởi mở:
Xây dựng truyền thống mang tính chất đặc trưng của Công ty. Tại
Công ty mọi người gắn bó đoàn kết, cùng thi đua sản xuất. Người lao động
khi được làm việc trong môi trường có tổ chức, họ sẽ cảm thấy hoà đồng
trong tổ chức giúp gắn bó với tổ chức hơn.
II.3.4. An toàn và vệ sinh lao động
SV: Ngô Thị Thu Trang Lớp : K17QT2
19
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Kinh Tế-Viện ĐH Mở HN
Công tác an toàn vệ sinh lao động là tổng hợp các quy định, biện
pháp đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động nhằm ngăn ngừa tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp và khắc phục những hậu quả của tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, cải thiện điều kiện lao động cho người lao động.
Quan tâm tới công tác này giúp cho người lao động hiểu được mình
đang làm việc trong điều kiện có nguy hiểm không, các trang thiết bị bảo hộ
lao động được cấp đầy đủ không. Làm việc khi an toàn và vệ sinh lao động
được đảm bảo giúp người lao động tập trung trong lao động, góp phần giảm
sản phẩm xấu, nâng cao năng suất lao động v.v….
II.3.5 Tổ chức lao động khoa học.
- Tổ chức lao động: là tổ chức quá trình hoạt động của con người ,
Mục tiêu của đào tạo và phát triển là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân
lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho
người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của
mình và thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn,
với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các
công việc trong tương lai. Nhất là trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ của khoa
học kỹ thuật ngày nay, kỹ thuật càng phát triển thì đòi hỏi kiến thức của
người lao động phải có trình độ cao và không ngừng nâng cao trình độ tay
nghề của mình để thích ứng với công việc. Do đó đào tạo và phát triển sẽ
giúp cho người lao động không còn lo lắng vì không bắt kịp được yêu cầu
ngày càng cao của thiết bị máy móc, giảm tại nạn lao động, tăng hiệu quả
sản xuất kinh doanh.
Như vậy, đào tạo và phát triển là một nhân tố tạo nên động lực cho
người lao động. Vì vậy, các nhà quản lý cần phải biết và tiến hành đào tạo
phát triển một cách có tổ chức, có kế hoạch cụ thể cho từng thời kỳ mới có
thể đáp ứng cho nhu cầu trước mắt và chuẩn bị cho đổi mới kỹ thuật, công
nghệ tương lai.
III. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO
ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT ĐỨC ANH
III.1. Những vân đề bất cập trong hệ thống tạo động lực cho người lao
động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
SV: Ngô Thị Thu Trang Lớp : K17QT2
21
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Kinh Tế-Viện ĐH Mở HN
Trong mọi tổ chức, tạo động lực cho người lao động là một chính sách
quan trọng trong công tác quản lý, thực tế quản lý cho thấy hiện nay hệ
thống này hay gặp phải những bất cập phổ biến:
- Người lao động mong muốn được trả lương và thu nhập cao xứng
đáng với công việc của họ nhưng nhà quản lý lại không hiểu được điều đó
hoặc họ hiểu nhưng lại cố tình làm không đúng nguyên tắc. Điều đó dẫn đến
lao động đã tích luỹ kinh nghiệm trong nhiều năm. Với đội ngũ lao động đó,
doanh nghiệp có khả năng mở rộng phát triển trên thị trường.
- Mặt khác, tạo động lực còn góp phần gắn kết người lao động với
doanh nghiệp, cùng chèo lái con thuyền với doanh nghiệp để phát triển trên
thị trường trong nước và vươn ra thị trường các nước.
III.2.2. Đối với người lao động
- Tạo động lực tốt sẽ tạo cho người lao động có tâm lý thoải mái, yên
tâm khi làm việc tại doanh nghiệp, năng suốt lao động, hiệu quả công việc
cao dẫn đến việc thu nhập của người lao động tăng.
- Người lao động sẽ có cơ hội để phát triển và nâng cao trình độ tay
nghề của mình.
SV: Ngô Thị Thu Trang Lớp : K17QT2
23
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Kinh Tế-Viện ĐH Mở HN
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
Ở CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT ĐỨC ANH
I, TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT ĐỨC ANH
I.1.Giới thiệu khái quát về công ty
Công ty TNHH sản xuất Đức Anh được thành lập ngày 31/8/2003 tại
thôn Cống Thôn- Xã Yên Viên-Huyện Gia Lâm- Thành Phố Hà Nội,theo
giấy phép kinh doanh số 0102027856,có giấy chứng nhận đăng ký thuế số
0102030211 với số vốn điều lệ 8.000.000.000 đồng( tám tỷ đồng)
Hiện nay, công ty hoạt động, giao dịch và phát triển với thông tin :
+ Tên công ty: Công ty TNHH sản xuất Đức Anh
+ Địa chỉ: Thôn Cống Thôn, xã Yên Viên, huyện Gia Lâm, thành phố HN
+ Mã số thuế: 0102030211
+ Điện thoại: 04.36960831/32
+ Fax: 04.6961397
+ ĐKNH : 69117
đ
21.530.000 22.740.000 25.220.000 27.250.000 48.310.000
2 Tổng doanh thu - 21.980.000 23.080.000 25.640.000 28.120.000 50.450.000
3
Lợi nhuận
t.thuế
- 425.400 482.650 520.200 605.000 848.200
4
Lợi nhuận sau
thuế
- 382.860 434.385 468.180 544.500 763.380
5 GTTS cố định - 11.025.000 12.705.000 12.835.000 14.031.000 18.320.000
6 GTTS lưu động - 2.803.000 3.270.000 3.865.000 4.482.000 7.354.000
7
Số lao động bình
quân trong năm
Người 145 149 158 160 165
8
Thu nhập bình
quân
Đồng 1.450.000 1.450.000 1.500.000 1.800.000 2.145.000
9 Nguồn vốn KD
1.000
đ
13.828.000 15. 975.000 16.700.000 18.351.000 25.674.000
(Nguån: B¶ng c©n ®èi kÕ to¸n, b¸o c¸o KQKD c¸c n¨m 2007-2011)
Tõ b¶ng trªn cho thÊy:
SV: Ngô Thị Thu Trang Lớp : K17QT2
25